Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Đối Thoại kính gởi đến độc giả trong và ngoài nước bản chuyển ngữ báo caó 2006 cuả Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế để làm món quà nhân dịp Xuân về. Bản báo cáo bằng Anh ngữ khá dài, do vậy một số vị thân hữu cuả Đối Thoại đã họp sức chuyển ngữ toàn bộ. Bản dịch với văn phong khác nhau nhưng có một lời lưu ý chung cuả tất cả các dịch giả là :”Đây không phải là bản Việt ngữ riêng cuả Đối Thoại, đây là bản Việt ngữ dành chung cho tất cả các cơ quan truyền thông Việt Nam, với ước muốn được các cơ quan truyền thông VN chuyển đến đống bào VN trong và ngoài nước . Ước mong lắm thay!“ Bản chuyển ngữ chắc không tránh được những sai sót, mong được qúy vị cao minh góp ý, sửa chữa để được hoàn hảo hơn. Đối thoại chân thành cám ơn qúy vị thân hữu đã bỏ thì giờ chuyển dịch và kính giới thiệu đến độc giả |
National Integrity Systems
Bản Báo Cáo 2006 của Tổ chức Minh bạch Quốc tế (phần 1)
http://www.transparency.org
|
Từ khẩu hiệu “ Chủ nghĩa Mác-Lênin vô địch muôn năm” đến chỗ nhà nước Việt nam reo mừng đựợc trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) – tổ chức do các nền kinh tế Tư bản sáng lập, là một chặng đường dài với nhiều khó khăn và thay đổi, song, có một điều chưa thay đổi đó là quyền lực lãnh đạo và quản trị quốc gia vẫn nằm trọn trong tay của một đảng duy nhất là đảng cộng sản Việt nam và quốc nạn tham nhũng càng ngày càng lộ diện với những con số kinh hoàng. Để nhìn nhận vấn nạn tham nhũng một cách khách quan, có lẽ, không gì hơn bằng việc xem xét các số liệu, đánh giá từ các cơ quan, tổ chức quốc tế phi chính trị. Đối thoại xin trân trọng giới thiệu tới độc giả Bản báo cáo hàng năm mới được công bố vào tháng 12/2006 của Tổ chức Minh bạch Quốc tế - một tổ chức phi chính trị đi đầu trong công cuộc chống tham nhũng toàn cầu.
|
Phần 1
Về Cuộc Nghiên Cứu Hệ thống Liêm chính Quốc gia (The National Integrity System gọi tắt là NIS) trên thế giới.
Vậy, NIS là gì?
Hệ thống Liêm chính Quốc gia - NIS viết tắt từ The National Integrity System- là một hệ thống bao gồm các định chế, các tổ chức cơ bản, các khu vực nòng cốt, hay các hoạt động cụ thể có tính cột trụ góp phần tạo nên tính trong sạch liêm chính, sự minh bạch và tính trách nhiệm trong một xã hội. Nếu làm đúng chức năng, NIS sẽ hữu hiệu trong trận tuyến bài trừ tham nhũng - trận tuyến trong toàn cuộc đấu tranh đa diện và qui mô hơn chống mọi hình thức lạm quyền, phi pháp (kèm theo bất lương) và tham ô biển thủ dưới mọi hình thức. Việc củng cố Hệ thống Liêm chính Quốc gia (NIS) là thúc đẩy cho một nền quản lý tốt đẹp hơn trong mọi mặt của xã hội.
Khái niệm Hệ thống Liêm chính Quốc gia (NIS) được khai triển và cổ võ bởi Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International viết tắt là TI), khái niệm này được coi như một thành tố trong cách tiếp cận tổng thể của TI trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng1. Cho đến nay, vì chưa có một kế hoạch hay phương pháp nào, khả dĩ hiệu quả trong công cuộc ngăn chặn tham nhũng, quốc tế càng ngày càng đồng ý với các đặc tính có tính chất định chế quan trọng nhất trong việc ngăn chặn tham nhũng và cổ võ cho tinh thần trong sạch liêm chính. Các cuộc nghiên cứu có tính quốc gia dựa trên việc đánh giá phẩm chất các định chế có liên quan tới toàn bộ hệ thống chống tham nhũng.
Tại sao lại tiến hành nghiên cứu Hệ thống Liêm chính Quốc gia NIS ở các nước?
Mục đích của mỗi cuộc nghiên cứu quốc gia là để đánh giá Hệ thống Liêm chính Quốc gia NIS đó về hai mặt lý thuyết và thực hành. Lý thuyết là các văn kiện luật pháp và các qui định dự phòng điều chỉnh. Thực hành là những luật lệ đó vận hành thành công hay thất bại ra sao trên thực tế. Các cuộc nghiên cứu đặt ra 2 điểm chuẩn: chuẩn để đo lường sự tiến triển và một chuẩn để hầu so sánh giữa các các quốc gia cùng nhóm với nhau.
Các cuộc nghiên cứu cũng đặt ra một điểm khởi sự cho những khu vực báo hiệu đòi hỏi phải có hành động ưu tiên.Các cuộc nghiên cứu cũng hình thành một nền tảng, để từ đó, những người chủ quản có thể lượng giá những biện pháp hiện hành chống tham nhũng. Các cuộc nghiên cứu NIS cũng giúp giải thích, ví dụ, những trụ cột nào đã thành công hơn và tại sao, liệu chúng có hỗ trợ lẫn nhau và những yếu tố nào đã tạo ra hay làm mất đi sự hữu hiệu của những trụ cột đó. Các cuộc nghiên cứu quốc gia cũng đánh giá chỗ nào cần phải chú trọng để cải tiến hệ thống và những yếu tố nào cần phải có để hỗ trợ cho phát triển NIS một cách toàn bộ.
Các cuộc nghiên cứu quốc gia rút ra một nguyên tắc căn bản đáng tin cậy để đối chiếu và giúp chúng ta hiểu biết hơn về ưu khuyết điểm của những người làm việc trong chính quyền. Có thể trong một vùng, có vài quốc gia có cùng cơ chế kinh tế, chính trị hay xã hội giống nhau, kết quả cuộc nghiên cứu có thể dẫn đến những áp lực và giải pháp cải cách giống nhau, cũng như có một cơ hội học hỏi từ các chính quyền đó đang trong những giai đoạn phát triển tương tự.
Đối với Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI), các cuộc khảo cứu quốc gia là một công cụ đo lường quan trọng. Các cuộc khảo cứu này bổ sung cho những chỉ số đo lường và các cuộc thăm dò toàn cầu của TI như Corruption Perceptions Index ( chỉ số nhận thức tham nhũng), Bribe Payers Index ( chỉ số hối lộ) và Global Corruption Barometer ( thước đo tham nhũng toàn cầu) và bổ sung cho cả các cuộc khảo sát thăm dò quốc gia. Các cuộc khảo cứu được thực hiện bằng cách khai thác, tìm hiểu các hoạt động cụ thể trên thưc tế và các khó khăn, cản trở có tính đặc thù bên trong những quốc gia, để từ đó rút ra được những kết quả đối chiếu có giá trị phẩm chất về các luật lệ và phương thức thực thi có vai trò kiểm soát, tác động tới tính liêm chính. Cho đến Tháng 08 năm 2006, đã có hơn 55 cuộc nghiên cứu quốc gia đã hoàn tất theo chuẩn mực này.
Tổ chức minh bạch quốc tế tin rằng, điều thiết yếu là phải hiểu được sự dự liệu cho và khả năng của những trụ cột trong NIS, cũng như hiểu được sự ảnh hưởng qua lại và các tập quán trong NIS để có thể bắt mạch những rủi ro tham nhũng, từ đó mới phát triển những chiến lược để đối phó và phản công những rủi ro đó. Những cuộc khảo cứu NIS là sản phẩm độc đáo duy nhất của Tổ chức minh bạch quốc tế, do chúng phản ảnh được một cách tiếp cận có hệ thống mà Tổ chức Minh bạch Quốc tế đã sử dụng để ngăn chặn tham nhũng và tính chất độc lập của các bản phân tích do các tổ chức phi chính phủ (NGO) chống tham nhũng hàng đầu thế giới cung cấp.
Khảo cứu Hệ thống Liêm chính Quốc gia NIS đem đến một đánh giá phẩm chất về tình trạng trong sạch liêm chính trong một quốc gia. Cuộc khảo cứu dựa vào các nguồn dữ kiện có tính cả chủ quan và khách quan, nhưng khác về số lượng trong mỗi quốc gia được đánh giá. Vì thế, các cuộc khảo cứu đòi hỏi cả nghiên cứu trên tư liệu và nghiên cứu thực địa.
Trong tiến trình khảo cứu NIS, ít nhất có một nhóm chuyên trách được triệu tập. Những người tham dự nhóm chuyên trách này bao gồm những chuyên gia chống tham nhũng và quan chức, các nhân vật đến từ chính quyền ( trong đó bao gồm cả các nhà tài trợ khi có liên quan), từ các khu vực tư nhân, các ngành nghề ( ví dụ: luật sư, kế toán và kỹ sư), truyền thông và từ xã hội dân sự. Mục tiêu của nhóm chuyên trách là tạo thành một nền tảng cơ sở rộng cho các nhà chủ quản khảo cứu làm căn cứ trong việc đánh giá NIS và nhận định, góp ý về bản dự thảo kết quả khảo cứu NIS. Kết quả của các cuộc bàn thảo trong nhóm sẽ giúp cho việc chỉnh sửa toàn bộ bản nghiên cứu.
Mỗi cuộc khảo cứu NIS còn được duyệt xét lại bởi một nhà trọng tài chuyên môn đến từ ngoài nhóm.
Việt Nam là một nhà nước Cộng sản độc đảng đang trong tiến trình thay đổi nhanh chóng về kinh tế và xã hội. Cải cách theo hướng thị trường, được biết tại đó với từ “đổi mới” (renovation), chính thức được ban hành năm 1986, đã dần dần biến nền kinh tế Việt Nam khởi sắc. Mặc dù gần 2 thập niên cải cách, nạn quan liêu, cửa quyền vẫn còn ngự trị phần lớn đời sống xã hội và kinh doanh. Mọi công việc đều cần phải có tác động của những quan hệ đúng mạch và chi tiền bôi trơn, nếu muốn được suôn sẻ.
Trong thời kỳ cải cách, đảng cộng sản đã nói rõ rằng, đảng sẽ không chấp nhận đảng phái đối lập xuất hiện. Thay vào đó, cải cách chính trị tập trung vào việc đưa quan chức của đảng cộng sản Việt nam (CPV) vào khuôn khổ pháp luật, gia tăng sự tham gia của người dân vào những quyết định ảnh hưởng đến họ và tăng cường vai trò giám sát của Quốc Hội đối với chính phủ.
Tham nhũng đã được đảng cộng sản Việt nam và chính phủ nhìn nhận là một đe dọa cho phát triển chính trị và kinh tế. Một số quan chức đang cho rằng tham nhũng đã được cơ chế hóa tại Việt Nam. Tuy nhiên, những quan điểm như thế vẫn còn tương đối mới trong hàng ngũ quan chức, cho dù các quan điểm đó chính xác. Những cuộc khảo cứu có hệ thống về nạn tham nhũng tại Việt Nam không nhiều. Đa số những điều khẳng định tham nhũng dựa trên các cuộc khảo sát khắp nước. Việt Nam luôn được xếp hạng thấp, nhưng qui mô tham nhũng nhìn chung được so sánh với tham nhũng tại các quốc gia khác có cùng mức độ phát triển.
Những động cơ chính đứng đằng sau công cuộc cải cách trong lãnh vực chống tham nhũng là sự lo ngại về tổn hại mà tham nhũng gây ra cho tính hợp pháp của đảng cộng sản Việt nam, là việc phải đáp ứng với áp lực quốc tế đối với bài trừ tham nhũng và sự khao khát thu hút đầu tư ngoại quốc. Sự chống lại công cuộc chống tham nhũng lại bắt nguồn từ một thực tế là chính những quan chức, những người có quyền lực lại dính líu tới tham nhũng, và cái chủ nghĩa bảo thủ đó đang bao trùm, khống chế toàn bộ cơ chế chính trị, đặc biệt ảnh hưởng đến việc huy động xã hội dân sự và giới truyền thông trong cuộc chiến chống tham nhũng.
Nói một cách tổng quát, Hệ thống Liêm chính Quốc gia NIS của Việt nam hoạt động không tốt, với guồng máy chống tham nhũng đang hoạt động rất thô sơ và kém cỏi.
Có một hố sâu ngăn cách giữa những luật lệ được công bố chính thức nhằm kiểm soát , quản lý NIS và việc thực thi chúng trên thực tế. Những lý do chính yếu làm cho NIS vận hành không tốt:
-Thiếu sự phân tách giữa đảng cộng sản Việt nam, chính phủ và các cơ quan như lập pháp, kiểm toán nhà nước, tư pháp, dịch vụ dân sự ( dịch vụ công), công lực ( cơ quan bảo vệ và thực thi pháp luật), thanh tra chính phủ và cơ quan chống tham nhũng;
- Một hệ thống lương và tưởng thưởng không tương xứng với vai trò của công chức;
- Một trào lưu hành xử ngoài pháp luật trong các quan chức;
- Sự tranh giành cơ chế có lợi;
- Các qui tắc ứng xử được thi hành một cách lỏng lẻo tùy tiện, nếu qui tắc đó có;
- Sự tràn lan của quỹ đen ( ngoài sổ sách);
- Nạn thân quen trong việc bổ nhiệm chức vụ;
- Xu hướng giữ bí mật trong những khu vực công;
- Việc tư vấn công chúng ( lấy ý kiến công chúng) hạn hẹp, nặng về hình thức,
- Và sự bảo vệ không đúng mức đối với những người lên tiếng cảnh báo hay tố giác.
Trong mấy năm gần đây, đảng cộng sản Việt nam, cơ quan hành pháp và ngành lập pháp có thêm uy tín khi có chú ý nhiều hơn về nạn tham nhũng. Tuy nhiên, sự chú ý này chưa đem lại kết quả cụ thể, ngoài việc công bố kết quả một cuộc khảo cứu lớn về tham nhũng và việc thông qua bộ luật chống tham nhũng đầu tiên của Việt nam vào năm 2005, cho dù là quan trọng, nhưng đó cũng chỉ là những bước đầu tiên. Giới truyền thông, và một xã hội dân sự ở một mức độ nhất định, đang bắt đầu giữ vai trò năng động trong cuộc chiến chống tham nhũng, nhưng những hiện tượng trên vẫn còn là những phát triển tương đối mới. Hơn nữa, cả xã hội dân sự lẫn truyền thông vẫn còn bị kềm kẹp.
Sự thông qua bộ Luật Chống Tham Nhũng tạo nên một nền tảng căn bản để thi hành chống tham nhũng. Trong ít năm tới, người ta sẽ cần tập trung chú ý vào việc thi hành luật này và đối phó với bất cứ khó khăn trở ngại nào nếu có. Để thiết lập được một hệ thống khai báo tài sản hữu hiệu còn cần phải rất nỗ lực.
Cần phải gia tăng tính thống nhất trong các tổ chức chính được giao trách nhiệm trong đấu tranh chống tham nhũng. Trong lãnh vực này, điều quan trọng là chúng ta cần nhìn vào sự tác động qua lại như thế nào giữa những tổ chức khác nhau, hơn là chỉ xem xét từng tổ chức một một cách đơn lẻ. Điều tối ư quan trọng là cuộc chiến chống tham nhũng không được nhìn thuần túy dưới góc độ kỹ thuật. Cần phải cải cách nền tư pháp, cần phải cải thiện khuôn khổ luật pháp và tăng cường chức năng cho các cơ quan, tất cả những cái đó đều quan trọng. Tuy nhiên, tất cả những cái đó sẽ thất bại nếu không thừa nhận tham nhũng, về cốt lõi, là một vấn nạn chính trị.
Xã hội dân sự và giới truyền thông cần phải đặt trọng tâm chú ý vào vai trò giám
sát, canh chừng trong cuộc chiến chống tham nhũng. Hơn nữa, cần phải phanh phui
tham nhũng trong khu vực tư qua việc phát triển các qui tắc ứng xử
và các qui định đặc biệt chống hối lộ.
Tham nhũng Việt Nam còn nhiều điều chúng ta không hiểu nổi. Cuộc khảo sát quốc tế cho biết rằng, những loại tham nhũng khác nhau có những hậu quả khác nhau trong quá trình phát triển. Điều quan trọng là phải hiểu được những vấn đề tham nhũng như thế nếu muốn triển khai một giải pháp ngăn chặn tham nhũng đúng mục tiêu tại Việt nam. Cuộc khảo sát có thể mang lại hữu ích khi được áp dụng trong việc chống tham nhũng cũng như trong các lãnh vực khác.
Giả thiết rằng NIS không hoạt động tốt, thì vấn đề chính không phải ở chỗ làm được bao nhiêu mà ở chỗ phải làm cái gì trước hết. Vì thế, điều thiết yếu là phải biết ưu tiên hóa những gì cần làm trước tiên. Câu hỏi khác là có thể đạt được cái gì trong một quốc gia chỉ có một đảng nắm quyền, cũng là một vấn đề cần đặt ra. Câu trả lời đơn giản là có thể làm được nhiều thứ, nhưng có nhiều cản trở, kìm hãm.
Việc thông qua bộ Luật chống tham nhũng đầu tiên tại Việt Nam vào cuối năm 2005 tạo thành một nền tảng quan trọng để tiến hành cuộc chiến chống tham nhũng. Luật có hiệu lực từ ngày 01.07.2006. Trong những năm tới, nhà cầm quyền, được các nhà tài trợ quốc tế trợ giúp, cần phải tập trung chú ý vào giám sát thi hành luật này và xử lý bất cứ vấn đề gì nảy sinh. Đặc biệt, nhà cầm quyền cần phải nỗ lực để thiết lập một hệ thống khai báo tài sản hiệu quả. Nhà cầm quyền cũng cần phải làm rõ vai trò và trách nhiệm của của Ủy ban Chỉ đạo chống Tham nhũng Quốc gia, đặc biệt khi tổ chức này liên quan tới các tổ chức khác có trách nhiệm trong công cuộc chống tham nhũng.
Các tổ chức quốc tế có một vai trò quan trọng không chỉ trong cuộc chiến chống tham nhũng, mà còn quan trọng trong việc hợp tác với nhà cầm quyền để thiết lập một NIS tổng thể hữu hiệu hơn. Cho đến nay, các tổ chức quốc tế đã giữ một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đưa vấn đề tham nhũng vào nghị trình chính trị và giúp soạn thảo bộ Luật Chống Tham Nhũng. Tuy nhiên, phải duy trì động lực chống tham nhũng để bộ luật được coi là khởi điểm của quá trình chống tham nhũng chứ không phải đó là cứu cánh. Vụ tham nhũng tại PMU 18 ( Ban quản lý dự án 18) mới đây cho thấy những bất cập của các tổ chức quốc tế trong việc theo dõi các dự án cấp viện, và điều quan trọng là phải có những bước chữa trị những bất cập này, chứ không chỉ đơn thuần là việc gửi những tín hiệu cảnh báo tham nhũng chính xác cho nhà cầm quyền là xong!
Ngoài những điểm tổng quát trên, những lãnh vực sau đây cũng cần chú ý:
Công tác khảo sát. Tham nhũng tại Việt Nam vẫn còn nhiều điều chưa biết. Cuộc khảo sát quốc tế cho rằng những loại tham nhũng khác nhau có những hậu quả khác nhau trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, các học giả Việt Nam lại không đứng ở vị trí để phác họa các kiểu mẫu chi tiết về các loại tham nhũng hiện có tại Việt Nam. Đây là một điểm yếu lớn khi cần phải thiết kế một chính sách và, quan trọng hơn cả, khi chấp nhận một cách tiếp cận có mục tiêu để xử lý tham nhũng. Hơn nữa, cần phải có thêm nhiều cuộc khảo sát hữu ích để hiểu biết hơn tại sao các chiến dịch chống tham nhũng lại thường chẳng có hữu hiệu gì mấy tại Việt Nam.
Tính thống nhất giữa các tổ chức, định chế. Cần phải tăng cường sự nhất quán cơ cấu nhiều hơn nữa giữa các tổ chức chính yếu có nhiệm vụ chống tham nhũng. Đặc biệt, cần phải chú ý tới những khó khăn cản trở do vấn đề chồng lấn trách nhiệm gây ra. Theo quan điểm đó, các dự án cần được triển khai theo cách các bên cùng tham gia phải được triệu tập để xác nhận những gì là trách nhiệm riêng của họ và để xác lập các cam kết về cách hợp tác với nhau ra sao trong tương lai. Cần phải có sự theo dõi một cách thích hợp để bảo đảm rằng, bất cứ điều gì đã được đồng ý thì phải được thực thi. Theo cách ưu tiên, sự tập trung theo dõi thi hành chống tham nhũng phải nhắm vào cơ cấu cầm quyền như Thanh tra chính phủ, Kiểm toán nhà nước, Viện kiểm sát nhân dân, Ủy ban kiểm tra Trung ương của đảng cộng sản Việt nam, Văn phòng Chính phủ và Ủy ban Chỉ đạo Chống tham nhũng Quốc gia mới thành lập của Quốc hội. Những dự án được quốc tế cấp viện cũng đã làm việc với một số cơ quan trên đây. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải quan sát kỹ những cơ quan khác nhau đó làm việc, tương tác qua lại với nhau ra sao, hơn là việc tập trung vào mỗi cơ quan riêng rẽ. Cũng cần phải lưu tâm đặc biệt vào việc xây dựng Ủy ban chỉ đạo Chống Tham Nhũng Quốc Gia với ý nghĩa rõ ràng là một cơ quan cấp cao có trách nhiệm điều phối các nỗ lực chống tham nhũng và nêu lên những thiếu sót trong tính thống nhất của các tổ chức.
Cải cách hành chánh công. Cải cách hành chánh công cần phải tiếp tục là một phần trong cuộc thảo luận các biện pháp chống tham nhũng. Đặc biệt, vấn đề trách nhiệm chồng lấn và sự lệ thuộc kép đang lây nhiễm trong toàn hệ thống hành chính và dẫn đến căn bệnh vô trách nhiệm và trì hoãn, do dự trong hành động. Nhà cầm quyền đã thể hiện cam kết chống tham nhũng khi thành lập Ủy Ban chỉ đạo Chống Tham Nhũng Quốc gia, nhưng chiến đấu với tham nhũng còn đòi hỏi phải thực hiện trên nhiều trận tuyến khác nữa, trong đó có việc cải cách hành chánh công, một công cuộc tỏ ra cam go nhưng lại rất trọng yếu. Đây chính là lúc tốt nhất cho cả nhà cầm quyền và các nhà tài trợ thảo luận một cách thẳng thắn và nghiêm túc về tình trạng cải cách hành chánh công và tìm ra đâu là chỗ cần phải tập trung để cải cách trong giai đoạn 2.
Xã hội dân sự và giới truyền thông. Nếu chỉ nhìn cuộc chiến chống tham nhũng trong điều kiện thuần túy kỹ thuật thì đó là điều hết sức nguy hiểm. Cải cách tư pháp, cải tiến cấu trúc luật lệ và tăng cường khả năng qua huấn luyện nhân sự trọng yếu, tất cả điều đó đều quan trọng. Tuy nhiên, tất cả những điều trên sẽ thất bại nếu tham nhũng không được công nhận là một vấn nạn chính trị cốt lõi. Bởi thế, phải nhấn mạnh rằng, tham nhũng xuất phát từ những kẻ làm dụng chức quyền có trong tay, chúng thường tìm cách lách và qua mặt những cải cách nào không cho phép tham nhũng. Vì thế, những người có trách nhiệm chống tham nhũng phải có bổn phận nghĩ cho ra những lỗ hổng khuyết điểm là gì và làm sao lấp kín. Trong khi có những cản trở, khó khăn trong việc làm cho các quan chức trở nên có trách nhiệm thì có một sự thật không thể chối bỏ là Việt Nam là một nhà nước độc đảng, Luật Chống Tham Nhũng đặt nặng vai trò giám sát của xã hội dân sự và truyền thông. Về mặt ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, cần tập trung chú ý làm sao cho vai trò giám sát này trở thành thực tế. Nhà cầm quyền rất dè dặt trong lãnh vực này, dù họ đã ký thông qua bao nhiêu luật, thì vấn đề đặt ra phải là làm sao xây dựng được lòng tin giữa các quan chức để họ tin rằng xã hội dân sự và hoạt động truyền thông không đáng sợ và chấp nhận một biện pháp có chủ đích để tăng cường vai trò giám sát của người dân và báo chí. Một phần quan trọng của tiến trình này là tăng cường những cơ chế bảo vệ công dân và ký giả khi họ khiếu nại hay khi họ làm nổi bật sự hiện diện của tham nhũng. Các tổ chức quốc tế có một vai trò rất quan trọng để giúp cho tiến trình này hoạt động hữu hiệu hơn.
Tham nhũng khu vực tư. Có lẽ vì những lý do có thể hiểu được, Luật Chống Tham nhũng chú ý nhiều hơn đến khu vực công hơn là tham nhũng khu vực tư. Hiểu như thế cũng không sao trong bước khởi đầu chống tham nhũng, nhưng không vì thế bỏ qua tham nhũng khu vực tư. Tuy nhiên, vạch mặt tham nhũng trong khu vực tư phải thông qua việc triển khai các qui tắc ứng xử và những thủ tục chống hối lộ một cách cụ thể. Muốn thế, cần vận động sự ủng hộ của những tổ chức kinh doanh trong nước cũng như ngoại quốc, ngân hàng và các phòng thương mại.
Nói tóm lại, những khuyến cáo quan trọng là:
____________________________________
(1). Details of the NIS can be found in The TI Source Book 1997 and 2000 and the TI AntiCorruption Handbook (Berlin:TransparencyInternational[TI],1997,2000), www.transparency.org
|
About the NIS Country Studies What Is the NIS? The National Integrity System encompasses the key institutions, sectors or specific activities (the ‘pillars’) that contribute to integrity, transparency and accountability in a society. When it functions properly, the NIS combats corruption as part of the larger struggle against abuse of power, malfeasance and misappropriation in all its forms. Strengthening the NIS is about promoting better governance across all aspects of society. The concept of the NIS has been developed and promoted by Transparency International as part of TI’s holistic approach to combating corruption.1 While there is no blueprint for an effective system to prevent corruption, there is a growing international consensus as to the salient institutional features that work best to prevent corruption and promote integrity. The country studies are based on an assessment of the quality of institutions relevant to the overall anti-corruption system. Why Conduct NIS Country Studies? The purpose of each country study is to assess the National Integrity System, in theory (law and regulatory provisions) and practice (how well it works). The studies provide both benchmarks for measuring further developments and a basis for comparison among a range of countries. The studies provide a starting point for signalling areas requiring priority action. They also form the basis from which stakeholders may assess existing anti-corruption initiatives. NIS country studies help explain, for example, which pillars have been more successful and why, whether they are mutually supportive and what factors support or inhibit their effectiveness. Country studies also assess where the emphasis should be placed on improving the system and what factors are required to support the overall development of the NIS. The country studies create a sound empirical basis that adds to our understanding of strong or weak performers. Within a region, in which several countries may function with similar economic, political or social frameworks, the results of the study can create a sense of peer pressure for reform as well as an opportunity for learning from those countries that are in similar stages of development. For Transparency International, country studies are an important measurement tool. They complement TI’s global indices and surveys, such as the Corruption Perceptions Index, Bribe Payers Index and Global Corruption Barometer, as well as national surveys, by exploring the specific practices and constraints within countries and providing qualitative empirical results about the rules and practices that govern integrity systems. More than 55 such country studies have been completed as of August 2006. TI believes that it is necessary to understand the provision for and capacity of the NIS pillars, as well as their interaction and practices, to be able to diagnose corruption risks and develop strategies to counter those risks. NIS Country Studies are a unique product of Transparency International, as they reflect the systemic approach TI takes to curbing corruption and the independence of analysis that can be offered by the world’s leading anti-corruption NGO. Methodology of the NIS Country Studies The NIS country studies offer a qualitative assessment of the integrity system in a country. The studies are based on both objective and subjective sources of data, which differ in quantity in each country evaluated. The studies therefore require both desk research and field research. At least one focus group is convened as part of the country study. Focus group participants include anti-corruption and governance experts drawn from government (including donors, where relevant), the private sector, the professions (e.g. lawyers, accountants and engineers), media and civil society. The aim of the focus groups is for a broad base of stakeholders to evaluate the NIS and to comment on the draft NIS country study. The results of the meeting then inform further revision of the country study. Each country study is reviewed by an external expert referee. National Integrity System Country Study 2006 Vietnam 7 Executive Summary Vietnam is a one-party Communist state undergoing a process of rapid economic and social change. Market-oriented reforms, known locally as doi moi (renovation), which were formally introduced in 1986, have gradually transformed Vietnam’s economic fortunes. Despite nearly two decades of reform, bureaucracy and red-tape characterise large parts of social and business life, and having the right connections – and money – are crucial to getting things done. During the reform era, the Communist Party (CPV) has made it clear that it will not tolerate the emergence of opposition parties. Political reform has instead concentrated on subjecting CPV officials to the rule of law, increasing citizen participation in decisions that affect them and strengthening the oversight role of the National Assembly vis-à-vis the government. Corruption has been identified by the CPV and the government as a threat to political and economic development. Some politicians are beginning to talk about corruption as being institutionalised in Vietnam, but such perspectives are relatively new in official circles even if they are correct. Systematic studies of corruption in Vietnam are limited. The majority of assessments are based on cross-country surveys. Vietnam consistently ranks poorly, but the extent of corruption is generally comparable to that in other countries at a similar level of development. The key drivers behind reforms in the anti-corruption field include concern about the damage corruption is causing to CPV legitimacy, a response to international pressure and a desire to attract foreign investment. Resistance to fighting corruption stems from the fact that politicians and bureaucrats are involved in corruption themselves and that conservatism pervades the political establishment, particularly with respect to mobilising civil society and the media in the fight against corruption. Generally speaking, Vietnam’s National Integrity System (NIS) is not working well, with the mechanisms in place to tackle corruption either rudimentary or poorly enforced. There is wide gap between the formal rules governing the NIS and actual practices on the ground. The principal reasons why the NIS is not operating well are: insufficient separation between the CPV, the executive and agencies such as the legislative, supreme audit, the judiciary, civil service, law enforcement, the ombudsman and the anti-corruption agency; an inadequate incentive structure for civil servants; a tendency for politicians and officials to operate outside the law; institutional rivalry; poorly enforced codes of conduct (if they exist); widespread access to off-the-books funds; nepotism in appointments; a tendency toward secrecy in the public sector; narrowly based and formalistic public consultation and inadequate protection for whistleblowers. The CPV, the executive and the legislative branch deserve credit for paying more attention to the problem of corruption in recent years. However, this has yet to be translated into concrete results beyond publication of a major study on corruption and passage of the country’s first Anti- Corruption Law in 2005, which, although important, are just first steps. The media – and to some extent civil society – are beginning to play a more active role in the fight against corruption, but these are relatively new developments, and both civil society and the media remain constrained in terms of what they can do. Passage of the Anti-Corruption Law provides a solid basis on which to proceed in the fight against corruption. Over the next few years, attention will need to be focused on overseeing its implementation and dealing with any problems that emerge. Considerable work will be needed in terms establishing an effective asset-declaration system. There is a need to increase institutional coherence in terms of the key organisations tasked with fighting corruption. In this respect, it is important to look at how different organisations interact with each other rather than just examine each organisation individually. It is crucial that the fight against corruption not be viewed in purely technical terms. Clarifying jurisdictions, improving the regulatory framework and strengthening capacity are all important. However, they will fail to have the desired effect unless it is recognised that corruption is fundamentally a political problem. Special attention needs to be paid to strengthening the watchdog role of civil society and the media in the fight against corruption. In addition, there is a need to target corruption in the private sector through the development of codes of conduct and specific anti-bribery provisions. There is still a lot we do not understand about corruption in Vietnam. International research suggests that different types of corruption have different effects in developmental terms. Understanding such issues is important if a targeted approach to tackling corruption in Vietnam is to be developed. Research could usefully be conducted in this and many other areas. National Integrity System Country Study 2006 Vietnam 8 Priorities and Recommendations Given that the NIS is not operating well, the key question is not so much what to do but what to do first − that is, prioritisation is essential. What it is possible to achieve in a country where there is a single-party monopoly in power is also questionable. The simple answer is a lot, but there are constraints. The passage of the country’s first Anti-Corruption Law in late 2005 forms an important basis on which to proceed in the fight against corruption. The law came into effect on 1 July 2006. Over the next few years, the government, supported by the international donor community, needs to focus attention on overseeing its implementation and dealing with any problems that emerge. Specifically, considerable work is likely to be needed on the part of the government in terms of establishing an effective asset declaration system. There is also a need for the government to clarify the role and responsibility of the National Anti-Corruption Steering Committee, particularly in relation to other organisations tasked with fighting corruption. International organisations have an important role to play not only in the fight against corruption but also in working with the government to establish a more effective NIS overall. International organisations have played an important role so far in pushing corruption up the political agenda and assisting with the drafting of the Anti-Corruption Law. However, it is important that the momentum be maintained so that the law represents the beginning of the process and not the end. The recent Project Management Unit (PMU) 18 case revealed deficiencies in international organisation monitoring of aid-funded projects, and it is important that steps be taken to remedy this, not least so as to send the right signal to the government. Beyond these general points, the following areas need attention: Research work. There is still much that is unknown about corruption in Vietnam. International research suggests that different types of corruption have different effects in developmental terms. However, Vietnam scholars are not in a position to produce a detailed typology of the types of corruption in existence in Vietnam. This is a major weakness when it comes to designing policy and, importantly, adopting a targeted approach to tackling corruption. In addition, more research could usefully be done to better understand why anti-corruption campaigns generally have limited effect in Vietnam. Institutional coherence. Much more institutional coherence is necessary in relation to the key organisations tasked with the fight against corruption. In particular, attention needs to be paid to tackling problems of institutional overlap. In this respect, projects need to be developed in which different parties are brought together to agree on what their respective responsibilities are and to make commitments in terms of how they will work together. Appropriate monitoring to ensure that whatever is agreed is implemented is essential. By way of priority, focus should be on Government Inspectorate, State Audit, the People’s Procuracy, the Central Inspection Commission of the CPV, the Office of Government and the new National Anti-Corruption Steering Committee. Internationally funded projects already work with some of these organisations. However, it is important to look closely at how the different organisations interact rather than concentrating on each organisation individually. There may be merit in paying special attention to building up the National Anti-Corruption Steering Committee as it clearly is meant to be a higher body that will coordinate the anti-corruption effort and address the lack of institutional coherence. Public administration reform. Public administration reform should continue to be part of the discussion on anti-corruption measures. In particular, the problems of overlapping responsibilities and dual subordination plague the system and lead to lack of accountability and hesitant responses. The government has shown commitment to fighting corruption in the formation of the National Anti-Corruption Steering Committee, but combating corruption will require work on many fronts, including the seemingly laborious but critical public administration reform. It is a good time for both government and donors to discuss more critically the status of public administration reform and where the focus should be in this second phase. Civil society and the media. It is absolutely critical not to view the fight against corruption in purely technical terms. Clarifying jurisdictions, improving the regulatory framework and strengthening capacity through the training of key personnel are all important. However, they will fail to have the desired effect unless it is recognised that corruption is fundamentally a political problem. By this, it must be emphasised that corruption involves people with power abusing their positions; they are often able to bypass reforms intended to clamp down on corruption. Thus, it is incumbent on those tasked with fighting corruption to think through what the loopholes are and National Integrity System Country Study 2006 Vietnam 9 how to close them off. While there are constraints in terms of what can be achieved in making officials accountable given the fact that Vietnam is a one-party state, the Anti-Corruption Law places heavy emphasis on the watchdog role of civil society and the media. Over the short, medium and long term, attention needs to be paid to how to make this a reality. There is considerable government caution in this area – whatever they have signed up to by passing the law – so much of this work needs to focus on building confidence among officials that civil society and media activism are not to be feared and adopting a staged approach to strengthening their oversight role. An important part of this process is strengthening mechanisms to protect citizens and journalists when they make complaints or highlight the existence of corruption. International organisations have a very important role to play in helping this process along. Private-sector corruption. Perhaps for understandable reasons, the Anti-Corruption Law pays more attention to public-sector corruption than private-sector corruption. While this is probably the correct way to start, it is important not to neglect private-sector corruption. Thus, corruption should be targeted in the private sector through the development of codes of conduct and specific anti-bribery provisions. Mobilising the support of domestic and foreign business groups, banks and chambers of commerce is likely to be essential. In sum, the key recommendations are: · Focus on implementing the Anti-Corruption Law; · Prioritise the establishment of a working asset declaration system; · Strengthen the watchdog role of civil society and the media; · Build institutional coherence in the fight against corruption; · Do not neglect private-sector corruption; and · Carry out policy-oriented research on corruption in Vietnam.
|
Phần 2
Vài nét đại cương về Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia Cộng Sản theo thể chế độc đảng, đang trải qua một quy trình thay đổi vô cùng nhanh chóng về kinh tế và xã hội. Vào cuối của cuộc chiến tranh với Hoa Kỳ năm 1975, tuy là kẻ thắng cuộc nhưng Việt Nam lại rơi vào cảnh nghèo nàn và phải đương đầu với các căng thẳng chính trị giữa miền Nam và miền Bắc. Thêm vào đó, các biến cố khác như cuộc chiến tranh dai dẳng với Cam Bốt từ năm 1978, cuộc chiến tranh biên giới với Trung Cộng năm 1979, tuy ngắn ngủi nhưng khốc liệt, cùng với một chuỗi quyết định sai lầm về chính sách kinh tế, đã làm cho Việt Nam càng trở nên lạc hậu so với các nườc trong vùng.
Sau khi áp dụng chính sách kinh tế 'Đổi mới' năm 1986, vận số kinh tế tại Việt Nam đã có chiều thay đổi. Vào các năm cuối của thập niên 90, người ta mới bắt đầu có những lạc quan về một triển vọng thực sự của chuyển biến kinh tế. Trong khi các tự do chính trị vẫn còn bị hạn chế, nhà nước Việt Nam tạm xem như thành công trong việc duy trì ổn định chính trị khi ở hậu cảnh, nền kinh tế vẫn phát triển nhanh chóng, cùng với tiêu chuẩn sống lên cao.
Sau cuộc khủng hoảng tài chính tại Á châu vào khoảng thời gian 1997-98, sản lượng quốc gia của Việt Nam liên tục phát triển ở mức độ từ 7 đến 8 % hằng năm. Trong đó, nền nông nghiệp góp phần 20%, và nền công nghiệp và dịch vụ đóng góp số còn lại (80%). Từ khi áp dụng chính sách 'Đổi mới', Việt Nam xuất hiện trên sân khấu quốc tế như một nước xuất cảng các nguyên liệu thô và các sản phẩm công nghiệp với kỹ thuật thấp, điển hình như tơ sợi, quần áo, giầy dép và một vài mặt hàng lắp ráp điện tử. Với sự tự do hóa mậu dịch với các nước trong khối ASEAN và trong chiều hướng gia nhập Khối Mậu Dịch Thế Giới (WTO) năm 2006, Việt Nam dần dà hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Các đối tác mậu dịch chính của Việt Nam là Nhật Bản, Trung Cộng, Tân Gia Ba, Hoa Kỳ và Âu châu. Các nguồn đầu tư chính của nước ngoài đến từ Đài Loan, Tân Gia Ba, Nhật Bản, Nam Hàn và Âu châu. Các nguồn trợ giúp đa phương và song phương chính là Ngân Hàng Thế Giới, Nhật Bản, và Âu châu.
Bất kể gần hai thập niên cải cách, lề lối trung ương hoạch định và thói quan liêu vẫn còn hoành hành tại Việt Nam. Tật thói cửa quan và thủ tục hành chính đặc trưng hóa phần lớn đời sống xã hội và thương mãi. Ngoài ra, để chạy việc, người dân cần phải quen biết với các giới chức và phải có tiền của nữa. Trong các năm vừa qua, tuy số lượng các công ty tư doanh có chiều hướng gia tăng, ảnh hưởng của nhà nước vào guồng máy kinh tế vẫn còn rộng lớn. Nhà nước Việt Nam tiếp tục bán tài sản các công ty quốc doanh có kích thước nhỏ, nhưng vẫn còn đắn đo trong việc bán các công ty có tính kinh tế chiến lược. Về phương diện này, chính sách kỹ nghệ của nhà nước chỉ chú tâm nhiều vào sự phát triển và đại tu các công ty quốc doanh lớn, và ít chú tâm trong việc thành lập các xí nghiệp tư doanh nhỏ.
Trong thời kỳ cải cách, Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) minh định rằng họ sẽ không nhân nhượng với sự hình thành của các đảng đối lập. Tổ chức đối lập chính trị nào xuất đầu lộ diện đều bị thẳng tay trừng trị. Thay vào đó, cải tổ chính trị chỉ tập trung vào việc quy định các viên chức ĐCSVN hành xử luật lệ, tăng gia sự đóng góp của người dân trong những quyết định ảnh hưởng đến cuộc sống của họ, và tăng cường vai trò giám sát của Hội Đồng Quốc Gia trong mối quan hệ với nhà nước. Nhìn chung, trong khi các thay đổi vừa nêu dường như không đáng kể, luật lệ trong nước vẫn còn thiếu sót, việc kiểm soát và hài hòa thế lực chính trị vẫn còn yếu kém. Các quan tòa và các cơ quan truyền thông không giữ được tính độc lập từ các ảnh hưởng chính trị. Bất chấp các cuộc chống đối vùng lên ở cấp địa phương, điển hình như tại vùng miền quê, chính quyền Cộng Sản vẫn tiếp tục giữ vững tính chính thống đối với đại đa số dân chúng trong nước.
Vài nét đại cương về tham nhũng
Nhà nước Việt Nam nhìn nhận rằng tham nhũng là một chướng ngại cho sự phát triển của cả nước2. Trong suốt Đại Hội Đảng lần thứ 10 vào tháng Tư 2006, ĐCS công nhận rằng tham nhũng là mối đe dọa cho sự sống còn của chế độ Đảng trị. Thêm vào đó, một số chính trị gia bắt đầu cho rằng tham nhũng là một vấn nạn có hệ thống của Việt Nam. Tuy nhiên, các quan điểm như vậy được xem như tương đối mới mẻ trong giới có thế lực chính trị. Các nghiên cứu có phương pháp hẳn hoi về tình trạng tham nhũng tại Việt Nam lại rất hạn chế. Đại đa số các đánh giá đều dựa vào các thống kê đó đây trong nước, qua đó, Việt Nam được xắp hạng hết sức tệ hại, mặc dù tầm mức tham nhũng được so sánh một cách chung chung với các quốc gia có cùng mực độ phát triển3.
Cuối năm 2005, Ủy Ban Nội Vụ của Trung Ương Đảng CSVN, với sự hỗ trợ của Cơ Quan Hợp Tác Phát Triển Quốc Tế Thụy Điển (SIDA), đã cho phát hành một bản tường thuật về các tài liệu phát hiện về tình trạng tham nhũng tại Việt Nam4. Công trình nghiên cứu này có tên Khảo Sát Chẩn Đoán, một nghiên cứu về tham nhũng đầu tiên tại Việt Nam, khảo sát mặt dính líu của ĐCSVN vào, lẫn mức độ rộng lớn của, vấn nạn tham nhũng. Đây cũng là lần đầu tiên ĐCSVN đã hợp tác với cộng đồng hảo tâm thế giới để khảo sát tệ trạng tham nhũng và các hoạt động chống tham nhũng.
Mục tiêu của công trình nghiên cứu là nhận diện các loại, nguyên nhân của tham nhũng, và các lý do dẫn đến hiệu quả thấp trong các nỗ lực chống tham nhũng cho đến nay. Phương pháp nghiên cứu bao gồm luôn cả phẩm lẫn lượng tại bảy tỉnh và bảy thành phố (gồm có Sơn La, Đồng Tháp, Hải Dương, Nghệ An, Thừa Thiên-Huế, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh) và ba bộ (Kỹ Nghệ, Xây Cất và Giao Thông). Công trình nghiên cứu còn thu thập các ý kiến của gần 5,500 viên chức nhà nước, quản trị viên của các xí nghiệp, và công dân của bảy tỉnh thành.
Các tham dự viên trong cuộc nghiên cứu xếp hạng tham nhũng vào hàng quốc nạn. Cuộc nghiên cứu cho thấy gần một phần ba công viên chức sẵn lòng nhận tiền hối lộ. Trên 50% công viên chức trả lời rằng các cấp trên của họ ở hàng trung và cao cấp đều dính líu với các hành động tham nhũng.
Trên 65% công viên chức, 72% quản lý viên của các xí nghiệp, và 55% dân chúng cho rằng 'cơ chế thỉnh cầu-đáp ứng' là nguyên nhân chính của tham nhũng. Gần một phần ba tham dự viên cho rằng mức lương thấp cũng là một tác nhân. Gần hai phần ba trả lời rằng thiếu sót trong việc kiểm tra và quan sát những cán bộ cao cấp dẫn đến tệ trạng tham nhũng. Trong khi đó, trên 56% công viên chức, 62% quản lý viên của các xí nghiệp, và 48% dân chúng tố cáo rằng mức độ truy dõi thấp góp phần vào vấn nạn này.6
Về các hậu quả chính của tham nhũng, công trình nghiên cứu liệt kê sự thất thoát của tài sản quốc gia; sự giảm thiểu các cơ hội kinh doanh và sự cạnh tranh vì giá thành tăng cao; giảm thấp sự tin tưởng của giới đầu tư ngoại quốc; thiếu tận dụng và mất các công viên chức có khả năng; gia tăng sự bất quân bình xã hội và làm phân hóa môi trường sống.
Trên 64% công viên chức, 58% quản lý viên của các xí nghiệp, và 59% dân chúng cho rằng thiếu sót trong các kế hoạch hoạt động của nhà nước là tác nhân chính giảm thiểu sự hiệu quả của các nỗ lực chống tham nhũng. Đầu óc làm việc câu nệ của các cán bộ trong các chiến dịch chống tham nhũng cũng được xem như một vấn nạn rất phổ biến. Trên 71% công viên chức, 64% quản lý viên của các xí nghiệp, và 62% dân chúng cho rằng sự vắng mặt của các cơ quan chống tham nhũng đặc nhiệm là một thiếu sót lớn lao trong các hoạt động chống tham nhũng7. Thêm vào đó, trên 85% công viên chức, 78% quản lý viên của các xí nghiệp cho rằng họ ngần ngại dấn thân trong cuộc chiến chống tham nhũng vì sợ bị cấp trên trù dập.
Công trình Nghiên Cứu Chẩn Đoán kết luận rằng 'sự quyết tâm của Đảng và nhà nước trong việc chống tham nhũng không đủ mạnh để biến thành hành động có hiệu quả8. Thêm vào đó, các hoạt động chống tham nhũng lừng khừng đã làm cho tệ trạng tham nhũng vẫn còn dịp hoành hành khắp mọi nơi. Những người có trách vụ lại ngần ngại trong việc chống tham nhũng, ít ai báo cáo về tham nhũng, và các cơ quan chống tham nhũng hiện hành lại không làm được việc.
Công trình Nghiên Cứu Chẩn Đoán đề nghị rằng các nỗ lực chống tham nhũng nên tập trung vào việc ngăn ngừa thay vì chữa trị, để các cán bộ không thể đòi hỏi, cũng như không dám làm các việc tham nhũng. Các đề nghị gồm có cả việc cải cách lương bổng, các đề án cụ thể nhằm thực thi các nỗ lực chống tham nhũng và sự hình thành một cơ quan chống tham nhũng đặc biệt để điều hợp các hoạt động chống tham nhũng. Vì vậy, công trình nghiên cứu được xem như một bước ngoặt ban đầu trong cuộc chiến chống tham nhũng. Những công trình nghiên cứu khác về tham nhũng tại Việt Nam chú trọng đến lãnh vực kinh doanh. Qua đó, công trình nghiên cứu Xu Hướng Kinh Doanh do Ngân Hàng Thế Giới chỉ đạo năm 2005 là một nỗ lực mới đây nhất. Ngạc nhiên thay, công trình nghiên cứu này cho biết tham nhũng lại được xem như không mấy quan trọng trong lãnh vực kinh doanh-cả công lẫn tư-tại Việt Nam.9
Thực ra, không ai biết rõ công trình nghiên cứu kể trên có thể lột tả tệ trạng tham nhũng tại Việt Nam ở chiều sâu nào. Các phát hiện có thể diễn dịch để thấy rằng từ viễn cảnh của kinh doanh, tham nhũng có thể điều hành được và vì vậy, không là một vấn đề nghiêm trọng tại Việt Nam! Thay vào đó, các công ty có nhiều thứ đáng quan tâm hơn khi so với tệ trạng tham nhũng. Thực tế hơn, họ phải học cách giải quyết tệ trạng tham nhũng. Cả hai công trình Nghiên Cứu Xu Hướng Kinh Doanh và Nghiên Cứu Chẩn Đoán cho thấy hối lộ, gồm luôn cả tiền và quà tặng, là một thông lệ khá phổ biến tại hầu hết các cơ quan nhà nước, tuy ở các mức độ khác nhau.
Các kết quả được trình bày trong Bảng 1, liệt kê theo thứ tự từ lớn đến nhỏ qua đó, cơ quan đầu tiên được xem như hủ bại nhất
Bảng 1: Các cơ quan nhà nước tham nhũng nhiều nhất
Qua sự thực hiện bởi Phòng Thương Mãi và Kỹ Nghệ Việt Nam, cùng Cơ Sở Á Châu qua tổ chức Vietnam Competitiveness Initiative (Sáng Kiến Cạnh Tranh Việt Nam), tài trợ bởi USAID, Chỉ số Cạnh Tranh Cấp Tỉnh (CSCTCT) cũng cung cấp một sự thấu hiểu về tệ trạng tham nhũng. CSCTCT tập trung vào sự quản trị kinh tế các tỉnh, xắp hạng toàn bộ 64 tỉnh của Việt Nam với 10 bản chỉ dẫn, phản ánh kinh nghiệm và quan điểm của các nhà đầu tư trong nước, bao gồm các phí tổn bất thường và môi trường luật pháp.
Thêm vào đó, cũng có một vài khảo sát phân tích về tham nhũng. Nhà khảo cứu Martin Gainsborough cung cấp một tường thuật với đầy đủ chi tiết về vụ tai tiếng Tamexco tại TP Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian 1996-199710. Tác giả dùng bài tường thuật này để khảo sát động lực của các vụ tham nhũng lớn tại Việt Nam. Từ sau năm 1986, đảng Cộng Sản tiến hành nhiều cải cách về chính trị và kinh tế nhằm xóa bỏ sự kiểm soát trực tiếp, ban thêm quyền tự trị cho các tầng lớp quản trị cấp thấp. Trong phạm vi này, ông Gainsborough lý luận rằng người ta có thể hiểu biết ngọn ngành các vụ tham nhũng lớn bằng các nỗ lực từ trung ương, nhằm kỷ luật các cấp dưới của chế độ Đảng trị trong xu hướng giảm bớt trung ương tập quyền.
Các nghiên cứu hiện nay đồng ý rằng tham nhũng hiện hữu ở mọi mức độ và rất phổ biến tại Việt Nam. Tham nhũng ờ mức vụn vặt xảy ra như cơm bữa đến nỗi người ta xem nó như một cái gì hết sức bình thường.
Investment Climate SurveyNghiên Cứu Xu Hướng kinh Doanh |
Diagnostic Study on CorruptionNghiên Cứu Chẩn Đoán Tham Nhũng |
|
Traffic police Công an lưu thông |
Land administration agency Cơ quan quản lý đất đai |
|
Customs department Sở quan thuế |
Customs department Sở quan thuế |
|
Tax department Sở thuế vụ |
Traffic police Công an lưu thông |
|
Land administration agency Cơ quan quản lý đất đai |
Tax department Sở thuế vụ |
|
Market controller Sở kiểm tra thị trường |
Regulators in construction Sở ấn định xây cất |
|
Construction permit authorities Sở cho phép xây cất |
Construction permit authorities Sở cho phép xây cất |
|
Import/export license authorities Sở cấp giấy phép xuất nhập cảng |
Health care Y tế |
|
|
Planning and investment agencies Cơ quan đầu tư kế hoạch |
|
|
Regulators in transportation Sở điều hòa giao thông |
|
|
Economic police Công an kinh tế |
Các hoạt động chống tham nhũng
Cho đến lúc gần đây, các hoạt động chống tham nhũng của nhà nước tập trung nhiều vào việc khám phá và trừng trị, thay vì phòng ngừa. Với bản dự thảo và sự thông qua Luật Chống Tham Nhũng 2005, trọng tâm của nhà nước bây giờ đặt vào phòng ngừa, đáng kể nhất là nâng cao vai trò của xã hội và các cơ quan truyền thông trong cuộc chiến chống tham nhũng. Tuy nhiên, các mối hoài nghi nghiêm trọng vẫn còn đó, về khả năng và ước muốn của xã hội và các cơ quan truyền thông để trông chừng tham nhũng, khi báo chí vẫn còn thiếu tính độc lập và những ai dám đứng lên tố cáo chỉ được bảo vệ một các sơ sài. Thêm vào đó, cuộc chiến chống tham nhũng chỉ nhắm vào một số đối tượng lẻ tẻ mà thôi. Những ai có thế lực và tiền của có thể tránh né sự truy tố. Thỉnh thoảng, nhà nước có lôi ra tòa một vài vụ, mặc dù lý do thực sự không phải về tham nhũng, mà do thanh toán chính trị nội bộ.
Vụ án có tên 'Đơn Vị Quản Trị Đề Án 18' (ĐVQTĐÁ 18) lộ ra ánh sáng vào dịp Đại Hội Đảng lần thứ 10 vào tháng Tư 2006, là một điển hình cho thấy sự nhúng tay của thủ đoạn chính trị ngay dịp đại hội Đảng khai mạc. ĐVQTĐÁ 18 là một đơn vị quản trị đềø án trực thuộc Bộ Giao Thông, bị tố cáo biển thủ hằng triệu đô la của quỹ nhà nước, qua việc giao các hợp đồng thi công cho các công ty tư doanh do gia đình và bạn bè làm chủ. Sau khi nội vụ đổ bể, Bộ trưởng Bộ Giao Thông phải từ chức, vị phó Bộ trưởng bị bắt và rất nhiều cán bộ dưới trướng bị khép tội. Hiện vụ án vẫn chưa ngã ngũ.
Một loạt các yếu tố đưa đẩy và ngăn trở sự cải cách trong lãnh vực chống tham nhũng. Về các tác nhân đưa đẩy, thứ nhất là sự thiệt hại mà tham nhũng gây ra cho uy quyền tối ưu của ĐCSVN, cụ thể nơi những kẻ có địa vị cao trong đảng. Sự hoành hành của tham nhũng còn tạo ra sự phiền động trong xã hội. Các xáo trộn tại tỉnh Thái Bình vào cuối thập niên 90 là các bằng chứng mà nhiều người hay đề cập đến. Tuy vậy, có rất nhiều điển hình về các phiền động trong xã hội có liên hệ trực tiếp hay gián tiếp đến tham nhũng. Theo sự tin tưởng chung, các chống đối cán bộ tham nhũng ở cấp địa phương dẫn đến sáng kiến Dân Chủ Hạ Tầng năm 1998 trong nỗ lực tăng cường trách nhiệm và tham gia của dân chúng trong các vấn đề địa phương11. Nhà nước cũng thúc đẩy các hoạt động chống tham nhũng để trấn an các nhà đầu tư ngoại quốc.
Sự chú tâm của quốc tế về tham nhũng tăng cao cũng là một tác nhân thúc đẩy các cải cách tại Việt Nam. Liên Hiệp Quốc (LHQ), Ngân Hàng Thế Giới, Ngân Hàng Phát Triển Á Châu (NHPTAC), và nhiều tổ chức hảo tâm song phương tiếp tục nhấn mạnh sự quan trọng của các cố gắng chống tham nhũng và các cải cách có tài trợ. Trong khi một vài nỗ lực chống tham nhũng của nhà nước tỏ ra thành thật, các cơ quan nhà nước cũng nhanh chóng ý thức rằng tài khóa của họ có thể tăng thêm, nếu các công viên chức của họ ra vẻ hợp tác với các tổ chức hảo tâm bên ngoài.
Sự cải cách trong các nỗ lực chống tham nhũng thường xuyên bị phá bĩnh vì lẽ bản thân các chính trị gia và cán bộ cao cấp cũng dính liú vào tham nhũng. Vào năm 2005, Ông Lê Khả Phiêu, cựu Tổng Bí Thư Đảng công khai cho biết rằng ông ta và cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt biết một vài vụ tham nhũng nhưng không thể làm sáng tỏ nội vụ cho mọi người biết bởi vì tham nhũng được bảo vệ bởi các kẻ có quyền thế, và thậm chí bởi các nhóm bên ngoài.12
Sự phá bĩnh trong việc cải cách cũng tiếp tục xảy ra vì đầu óc bảo thủ từ bên trong cơ sở chính trị. Điển hình như chưa chắc ĐCS