Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Kinh nghiệm toàn trị tại Trung Quốc |
Nguyễn Ước tuyển dịch(www.lephai.com )
CỦA NGƯỜI TUYỂN DỊCH
Bước sang năm 2006, trên hầu hết các tạp chí có liên quan tới thời cuộc, chủ đề Trung Quốc là một trọng tâm trong những bài tổng kết sinh hoạt chính trị và kinh tế thế giới năm qua. Sự nổi bật của Trung Quốc hiện nay gây kinh ngạc và làm rúng động toàn cầu, đồng thời kích thích các học giả tiến hành những công trình nghiên cứu sâu rộng hơn. Ðiều hầu như rất nhiều người muốn tìm biết là trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế lạ thường và liên tục của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cùng vẻ ổn định dưới chế độ toàn trị của Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, tiềm ẩn những vấn đề nan giải nào, và có gây nãn lòng hoặc nuôi lớn những hy vọng nào.
Liệu những thay đổi sâu xa về chính trị và kinh tế, xã hội tại Trung Quốc có thúc đẩy cuộc chuyển thể tiến tới dân chủ hóa? Đảng Cộng sản Trung Quốc tuyên bố vẫn giữ địa vị người tiền phong của giai cấp vô sản, trong khi liên kết với giới tinh hoa doanh nghiệp và kỹ thuật và tìm sự tương hợp với phát triển kinh tế thị trường, làm thế nào hóa giải các mâu thuẫn, phục hồi tính chính thống và ứng phó với các phong trào quần chúng trong cuộc đối đầu giữa các giai cấp, vốn không thể tránh khỏi và đúng theo kinh điển của Ðảng?
Trong khi đó, thực tế, người dân Trung Quốc có thật sự được được hưởng, trên một qui mô lớn, các thành quả của cuộc cải cách kinh tế? Hiện nay, phải chăng cái nhà nước của Đảng Cộng sản Trung Quốc và người dân quả thật đang lâm vào tình trạng bế tắc tới độ có nguy cơ làm sụp đổ mọi thành quả kinh tế đang có được, kéo theo sự suy sụp của chế độ, hay đó chỉ là tuyên truyền của những kẻ chính thống Lênin-nít trong Ðảng hay những kẻ có quan điểm chống cộng cổ điển hoặc phân biệt chủng tộc, đố kỵ, nhiều ác cảm với một nước đang trổi lên và có khả năng trở thành siêu cường?
Bên cạnh đó, sách lược chính trị và kinh tế của Trung Quốc đối với các nước trên thế giới như thế nào, và ngược lại, các siêu cường, và đặc biệt là các nước đang phát triển phản ứng ra sao? Phải chăng, với các nước thứ hai này, Trung Quốc là một bạn hàng cần kíp, một kiểu mẫu chính trị ổn định hay một đối tác vừa được miễn cưỡng ngưỡng mộ vừa phải cực kỳ cảnh giác? Liệu “quả bong bóng kinh tế” của Trung Quốc có sắp nổ vì các vấn đề chính trị nội bộ và tham vọng bành trướng của Trung Quốc?
Qua kinh nghiệm Trung Quốc, có vấn nạn lớn và cấp bách nào đặt ra cho Việt Nam, nơi cũng có một chế độ toàn trị mà có người thoạt xem chỉ là bản sao chép vụng về và hoạt đầu các chính sách và tổ chức của Trung Quốc hơn một thập niên trước? Có phải Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn tự xưng tiền phong đấu tranh cho công bằng xã hội và tự hào xung kích bảo vệ độc lập dân tộc cũng đang đánh mất chính nghĩa, do đó, góp phần chủ yếu làm mất tính chính thống của chế độ đương nhiệm? Trong tình huống ấy, liệu Việt Nam có triển vọng cũng sẽ tăng trưởng kinh tế, bình định chính trị như Trung Quốc, hay trở thành vùng ngoại biên đáp ứng đủ các yêu cầu đa dạng của Trung Quốc? Và có phải lịch sử tái diễn tấn bi kịch tự trói tay mình vì tâm thức phiên thuộc từng ám ảnh vua Tự Ðức và hầu hết triều thần?
Như thế, từ sinh hoạt chính trị muôn hình muôn vẻ của Trung Quốc, có thể rút tỉa những bài học nào cho các thành phần trong nhà nước và Đảng Cộng sản Việt Nam còn ôm ấp ngọn lửa lý tưởng, cũng như cho người dân trong nước và hải ngoại đang thao thức về các vấn đề độc lập, tự do và phát triển đồng bộ của dân tộc Việt? Và đặc biệt, những bài học nào cho giới ưu tú trong lãnh vực văn hóa và xã hội, gồm các học giả, các nhà nghiên cứu, văn nghệ sĩ và những người hoạt động cho một xã hội dân sự đang chật vật hình thành...?
Ðể góp chút ánh sáng nhỏ nhoi và tạo thêm dịp suy nghĩ về các vấn nạn trên, hầu tự mỗi người có thể rút ra câu trả lời cho riêng mình, xin mời người đọc đi vào sáu bài viết, được nhìn từ các góc độ khác nhau và có tính hàn lâm, của sáu nhà nghiên cứu sinh hoạt chính trị và xã hội Trung Quốc đương đại.
Năm bài đầu, trích từ Tạp chí Dân Chủ (Journal of Democracy), Tập 14, số 1, tháng Giêng năm 2003. Ðây là một tạp chí của National Endowment for Democracy, Baltimore, MD, và Johns Hopkins University Press, Washington D.C., Hoa Kỳ. Từ khi ra mắt năm 1990 tới nay, Tạp chí Dân Chủ trở thành diễn đàn cho những phân tích có tính nghiên cứu và những quan điểm học thuật đối chọi nhau về dân chủ. Các bài viết của nó thường được đăng lại trên các báo The New York Times và The Wall Street Journal, cùng được dịch ra nhiều ngôn ngữ và phổ biến rộng rãi trên nhiều tạp chí khắp thế giới.
Sở dĩ năm bài viết đầu về Trung Quốc của các tác giả Mỹ, Trung - mà phần tiểu sử sơ lược có ở đầu mỗi bài - được tuyển chọn làm thành đề tài Kinh nghiệm toàn trị tại Trung Quốc, vì theo ý tôi, đó là những bài viết chỉ hai tháng sau ngày Ðại hội lần thứ 16 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, tháng 11.2002, trong không khí sốt dẻo hậu đại hội với sự kế thừa êm thắm của Chủ tịch Hồ Cẩm Ðào và một nghị trình cập nhật hóa của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Sau năm bài ấy, mời người đọc sang bài thứ sáu, được viết đúng ba năm sau, là bài tổng kết về kinh tế, chính trị và ngoại giao của Trung Quốc đăng ở những trang đầu (10-11) của cuốn The World Almanac 2006 and Book of Facts, một loại niên giám được báo The New York Times thẩm định là sách bán chạy số một, với 80 triệu ấn bản từ trước tới nay. Bài viết này được tôi sử dụng, không khỏi có phần chủ quan, như một tổng kết và đối chiếu với luận điểm của các tác giả năm bài trước, đồng thời để lại những vấn đề tồn đọng.
Trước khi đi sâu vào từng bài, xin được giới thiệu nhan đề và tóm lược chủ đề mỗi bài:
1. Những giới hạn co giãn của toàn trị (The Limits of Authoritarian Resilience) của Bruce Gilley: chế độ Trung Quốc chỉ định chế hóa nền toàn trị một cách cục bộ và tạm bợ; các tiêu chuẩn có tính định chế hiện đang bị xói mòn, và tình trạng ấy có thể vẫn tiếp tục.
2. Ðe dọa quyền tối thượng của Ðảng (Threats to Party Supremacy) của Bruce J. Dickson: sự thích nghi của Ðảng Cộng sản Trung Quốc đối với giới tinh hoa mới của xã hội; nếu có chút nào dẫn tới chuyển thể dân chủ thì phí tổn được chi trả trên tính liên tục của chế độ.
3. Những vấn đề yếu ớt của nhà nước (The Problems of State Weakness) của Shaoguang Wang: nhà nước Trung Quốc rất yếu ớt so với những gì mà hầu hết người dân nhận biết; tình trạng ấy báo điềm gở cho các viễn ảnh dân chủ hóa xứ sở.
4. Sự bất bình đẳng mới (The New Inequality) của An Chen: sinh hoạt chính trị giai cấp là một thực tại có tầm quan trọng hơn bao giờ hết, nhưng tăng trưởng của tư bản chủ nghĩa tại Trung Quốc có vẻ không có khả năng tạo ra những sức ép để có dân chủ hóa.
5. Ổn định như núi lửa đang sôi (A Volcanic Stability) của Qinglian He: vẻ xuất hiện bên ngoài của nhà-nước-đảng cộng sản thì đầy sức mạnh và tự tin, thật ra, đang che đậy một tình trạng khủng hoảng sâu sắc.
6. Thức giấc cùng Trung Quốc (Waking to China) của Ted C. Fishman: sự thức giấc của Trung Quốc làm thế giới run sợ; thế giới cũng cần tỉnh giấc để nhận ra Trung Quốc với những sức mạnh và bất định của nó; đồng thời mỗi nước phải có phương sách ứng phó thích đáng.
Ghi chú thêm: Ðể có bản tiếng Anh, có thể tiếp cận:
http:/muse.jhu.edu/journals/journal_of_democracy/toc/jod14.1.html
và http://www.allbookstores.com/book/0886879655
Ðể có sách của sáu tác giả, có thể tiếp cận:
www.amazon.com/exec/obidos/subst/home/home.html/
hoặc các địa chỉ bán sách khác trên mạng.
BÀI THỨ NHẤT
Bruce Gilley
Bruce Gilley, tiến sĩ chính trị học tại Ðại học Princeton University, Hoa Kỳ. Ông từng làm Biên tập viên hợp tác của Far Easter Economic Review (Tạp chí Kinh tế Viễn Đông). Ông tà tác giả và đồng tác giả khoảng 10 cuốn sách về Trung Quốc. Trong đó có: Tiger on the Brink: Jiang Zemin and China’s New Elite (Hổ bên mép vực: Giang Trạch Dân và giới tinh hoa của Trung Quốc, 1998); và đồng tác giả (với Adrew Nathan) cuốn China’s New Rulers: The Secret Files (Các nhà cai trị mới của Trung Quốc: Hồ sơ mật, 2002); cuốn mới nhất là China’s Democratic Future: How It Will Happen and Where It Lead (Tương lai dân chủ của Trung Quốc: Sẽ xảy ra như thế nào và dẫn tới đâu, 2004).
Thành công mới đây của Ðảng Cộng sản Trung Quốc (ÐCSTQ) trong việc chuyển giao quyền lãnh đạo có thể được thông giải như một bằng chứng rằng chế độ toàn trị của Trung Quốc là độc đáo về mặt lịch sử. Hơn một thập niên sau ngày Liên bang Sô Viết và các trật tự cộng sản tại Ðông Âu sụp đổ, ÐCSTQ không chỉ vẫn nắm quyền mà còn làm lễ tấn phong cho một tập hợp những người kế thừa trẻ hơn, được học hành tốt hơn và thậm chí tự tin hơn, làm đầu lĩnh của nó. Và Ðại hội thứ 16 của ÐCSTQ hồi tháng Mười một năm 2002 đánh dấu lần đầu tiên có sự chuyển giao êm thắm quyền lãnh đạo trong chế độ cộng sản mà không chút dính líu tới cái chết hoặc sự thanh trừng vị thủ lãnh sắp thôi việc.
Các nhà lý thuyết chính trị thường hiểu một cách truyền thống rằng các chế độ toàn trị thì yếu ớt, vô phương cứu chữa trong tận cốt lõi của nó, vì nó hoàn toàn thiếu sự kiểm tra về quyền lực như một sự cai trị theo luật pháp, về sự phân chia quyền lực và về khả năng tranh thủ quần chúng. Quan điểm cho rằng tính yếu ớt cố hữu của các chế độ đó sẽ, một cách không thể tránh được, trở thành rõ rệt hơn khi theo thời gian, sự cân bằng tương đối của các tài nguyên được chuyển dịch từ nhà nước tới các lực lượng xã hội tự quản, thông thường như là kết quả của nhiều hình thức phát triển một khi kinh tế tăng trưởng và mở cửa ra quốc tế. Tại những cấp độ phát triển ấy, nói chung người ta tin rằng các chế độ toàn trị thấy mình bị khổ sở vì cái có thể gọi là “lô-gic của quyền lực tập trung” - nghĩa là, cái khuynh hướng ủng hộ việc quyền lực nằm trong tay vài cá nhân hoặc bè cánh có tính cá nhân chủ nghĩa, rồi bị họ lợi dụng chí tử với những kết quả điển hình, trong đó gồm có sự cai trị tồi, suy giảm tính chính thống, tham nhũng và các tiêu chuẩn yếu kém về hạnh kiểm của giới tinh hoa cai trị (elites).[1]
Nhưng Trung Quốc - mà nhân dân của nó tiêu biểu cho khoảng một nửa phần dân số thế giới hiện không được phép chọn các nhà lãnh đạo bằng các cuộc bầu cử dân chủ - cho tới nay đã và đang thách thức kiểu mẫu truyền thống đó. Một số người thử giải thích sự kiện ấy bằng việc ÐCSTQ tái củng cố nền tảng ngôi nhà của nó sau khi tình trạng tính chính thống của Ðảng bị sa sút tột độ sau vụ phản kháng Thiên An Môn năm 1989. Các nhà quan sát thì cãi lại rằng ÐCSTQ có vẻ đang giải quyết hữu hiệu sự thiếu hụt dân chủ bằng phương cách phi dân chủ, với việc đặt đúng chỗ các cơ chế làm giảm thiểu, hoặc có khả năng trừ khử sự yếu ớt có tính truyền thống của các chế độ toàn trị. Andrew Nathan tóm tắt bằng chứng của các cơ chế đó trong một đề mục “sự định chế hóa chế độ”.
Tôi cho rằng đặc điểm hóa như thế là sai, một vấn đề tôi sẽ tranh luận sau đây, liên quan tới ba điểm đặc trưng của các chế độ toàn trị khiến về mặt lịch sử, chúng ở trong số các chế độ khó định chế hóa nhất: 1) quá trình đề bạt giới tinh hoa; 2) sự bảo quản trách nhiệm về chức năng hoạt động của giới tinh hoa; 3) sự tham sự của nhân dân.
So với tình trạng hỗn độn trong kỷ nguyên Mao Trạch Ðông thì chắc chắn Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc (CHNDTQ) hôm nay là một nhà nước tương đối được định chế hóa. Nhưng xét theo quan hệ với các nhu cầu thật sự của xã hội Trung Quốc đương đại, thì CHNDTQ rõ ràng là không đạt: bất cứ điểm đặc trưng đã định nào [trong ba điểm nêu trên] của một hệ thống chính trị chỉ có thể cho là “đã được định chế hóa” khi nó phù hợp với các lý tưởng có tính tiêu chuẩn của quốc gia cũng như được thực hiện hữu hiệu. Theo những tiêu chuẩn ấy thì bằng chứng về sự định chế hóa của CHNDTQ còn yếu. Cũng không có vẻ rằng cuối cùng sự định chế hóa loại đó sẽ mạnh. Quả thật, tính từ năm 1949 tới nay, có thể thấy rõ là tại Trung Quốc có ba chu kỳ củng cố và suy sụp: trước là đạt tới những giới hạn của sự định chế hóa chế độ, rồi tiếp liền đó, cái “lô-gic của quyền lực tập trung” tái khẳng định nó. Ðiều tương tự như thế có thể tái diễn vào một thời điểm thích hợp, và làm suy yếu sự định chế hóa hình thức tại Đại hội thứ 16 vừa qua của ÐCSTQ.
Sự định chế hóa hiện nay
Samuel P. Huntington xác định đặc điểm của sự định chế hóa chính trị như một quá trình mà qua đó điểm đặc trưng đã định của một hệ thống chính trị đạt đủ các nét “khả năng thích ứng, tính phức tạp, tính tự quản, và tính nhất quán.” Nơi mà điểm đặc trưng có vấn đề thì có thể là một quá trình, một định chế, hoặc một lề luật. Huntington nói, khi sự định chế hóa được thành tựu từ trên xuống dưới hệ thống chính trị, thì nó tạo ra một chính quyền có “hiệu năng, thẩm quyền, [và] chính thống.”[2]
Dù định nghĩa ấy đủ để giải thích tính chất hiệu năng và tính chất thẩm quyền của chính quyền, gần như chắc chắn rằng Huntington đã quan niệm sai về bản chất cá biệt của vấn đề tính chính thống trong bối cảnh toàn trị. Ông không nắm bắt được rằng bất cứ điểm đặc trưng đã định nào của một hệ thống chính trị có tính chính thống thì cũng phải phù hợp với quan điểm có tính tiêu chuẩn và bao trùm của nhà nước. (Cần phải nhấn mạnh rằng, trong một nhà nước đa nguyên, điều kiện này được dễ dàng xem là tất nhiên). Nếu điểm đặc trưng đó thiếu sự chứng minh rộng rãi có tính tiêu chuẩn hóa, thì lúc đó, chính nó sẽ xói mòn tính chính thống của nhà nước. Loại “nhất quán có tính tiêu chuẩn hóa” này khác với loại nhất quán mà Huntington đưa ra làm định đề vốn chỉ cốt ở sự am hiểu chức năng hoạt động giữa những người bên trong nhà nước chứ không phải sự đồng thuận trên qui mô lớn của xã hội bên ngoài.
Như thế, sự định chế hóa chính trị có cả thành tố nâng cao hiệu năng lẫn thành tố nhất quán một cách tiêu chuẩn hóa, và phải đạt được để cho điểm đặc trưng đã định ấy được định chế hóa. Như một thí dụ phủ định, những cuộc hội họp của quần chúng liên quan tới sự trông cậy thường xuyên của chế độ Trung Quốc đối với các chiến dịch chống tội phạm “Ðánh triệt để”, đã có hiệu quả đáng chú ý trong nhân nhượng hơn là kết án, nhưng những vi phạm quá trình thích đáng mà các chiến dịch ấy can dự đã trái ngược hoàn toàn với lời cam kết của chính quyền trong việc triển khai sự cai trị của luật pháp.
Bằng chứng tốt nhất về sự đề bạt giới tinh hoa thì có từ một cuốn sách đáng chú ý, viết bằng tiếng Hoa, nhan đề là Ðệ tứ đại (Disidai - Thế hệ thứ tư) mà nó tuyên bố một cách đáng tín nhiệm là đã dựa vào hồ sơ nội bộ của ÐCSTQ về việc chuyển giao quyền lãnh đạo năm 2002.[3] Thông tin chứa trong cuốn ấy bác bỏ cái bề ngoài của quá trình đề bạt có vẻ được định chuẩn hóa ấy. Nó trình bày rằng sự dễ dàng trong việc chuyển giao ấy thì liên quan tới di sản mạnh mẽ của bậc đại trưởng thượng Ðặng Tiểu Bình hơn là tới sự định chế hóa. Chính họ Ðặng là kẻ, ngay từ năm 1992, đã chọn Hồ Cẩm Ðào làm người thừa kế được chỉ định, gỡ khỏi đấu trường chính trị vấn đề duy nhất gây tranh cãi liên quan tới việc thừa kế. Họ Ðặng và Tống Bình, hai người đỡ đầu cho Hồ Cẩm Ðào, còn mạnh khỏe đủ lâu để bảo đảm cho họ Hồ được thừa kế. Vì thế, Ðại hội thứ 16 có vẻ là một phó sản ngẫu nhiên hơn là một kết quả có tính hệ thống.
Ði sâu vào chi tiết, Ðệ tứ đại trình bày rằng:
1. Năm 1997, như một chiến thuật nhằm loại trừ đối thủ cấp tiến Kiều Thạch, Giang Trạch Dân đề nghị nguyên tắc không người nào từ 70 tuổi trở lên được chỉ định vào Bộ Chính Trị. Họ Giang, lúc đó 71 tuổi, tự miễn cho mình nguyên tắc đó, dù trong Đại hội thứ 15 năm 2002, ông cam kết tuân theo nó. Tuy thế, từ năm 2001 cho tới ngày Ðại hội, họ Giang cho phép một số lãnh tụ quân sự, các nhà nghiên cứu của đảng và các cận thần loan truyền ý tưởng rằng ông sẽ vi phạm nguyên tắc đó thêm lần nữa để tiếp tục nắm quyền. Nỗ lực ấy thất bại, tuy thế ông thành công trong việc thanh trừng Lý Thụy Thanh, một người cấp tiến 68 tuổi, trên cơ sở cá biệt rằng họ Lý đã phục vụ quá lâu trong Ban Thường vụ, từ năm 1989. Những thách thức đối với nguyên tắc tồn tại bất thành văn và mơ hồ ấy, đã nêu lên những thắc mắc được loan truyền rộng rãi về tính lâu bền của nó.
2. Chỉ có ba lãnh tụ thượng đỉnh - Giang Trạch Dân, Lý Bằng và Chu Dung Cơ - khống chế cuộc tuyển chọn ban lãnh đạo mới (với các bậc lão thành của Ðảng đã nghỉ hưu là Bạc Nhất Ba và Tống Bình đóng vai trò ảnh hưởng ở hậu trường). Sự tập trung ảnh hưởng đó trái ngược với nguyên tắc chính thức rằng những quyết định như thế phải được lập bởi 21 ủy viên Bộ Chính trị, và như thế nó tiêu biểu cho sự thất bại của CHNDTQ trong việc thực hiện một loại “lãnh đạo tập thể” để có thể làm giảm những nguy hiểm của sự quyền lực bị tập trung hóa trong chế độ cộng sản.
3. Lòng trung thành cá nhân thì quan trọng gấp bội công trạng cá nhân. Bảy trong chín ủy viên mới của Ban Thường vụ Bộ Chính trị - Hồ Cẩm Ðào, Tăng Khánh Hồng, La Cán, Ngô Bang Quốc, Giã Thanh Lân, Hoàng Cúc và Lý Trường Xuân - được chọn dựa vào lòng trung thành có tính bè cánh dù họ là quan chức có các khuyết điểm bị nhiều người biết.[4] Chỉ có Ôn Gia Bảo và Ngô Quang Chính là được chọn chủ yếu nhờ công trạng. Trong hệ thống chính trị đa nguyên, việc chỉ định quan chức dựa vào lòng trung thành cá nhân thì được chấp nhận một cách tiêu chuẩn hóa và được thực hiện dễ dàng vì chính các quan chức phụ trách việc bổ nhiệm cũng sẽ được lựa chọn và bổ nhiệm bởi những kẻ do họ chọn. Nhưng vì tại Trung Quốc, ÐCSTQ là kẻ nắm quyền lực không ai tranh giành, nên nó miễn cưỡng tán thành cái lý tưởng có tính tiêu chuẩn hóa là việc bổ nhiệm ở bất cứ cấp nào cũng bị buộc phải dựa vào công trạng. Tuy thế, lý tưởng ấy không được thực thi hữu hiệu, và những cuộc bổ nhiệm đành rành là xấu thì có khả năng gây bất đồng chính kiến và phản kháng.
4. Các nguyên tắc đề bạt thông thường trong hàng phẩm trật của ÐCSTQ bị xem thường khi chúng gây bất tiện cho hàng lãnh đạo cao cấp của Ðảng. Ðó là trường hợp cả ba cán bộ lãnh đạo cao cấp thuộc “thế hệ thứ năm” trong việc đảm trách Ban Thường vụ Bộ Chính trị năm 2012. Lý Khắc Thương đã được xác nhận là tổng bí thư của Trung ương Ðoàn liên hiệp Thanh niên Cộng sản năm 1993 dù đại bại khi tranh cử chiếc ghế ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Ðảng tại Đại hội thứ 14 năm 1992. Bạc Hi Lai được đem vào Đại hội thứ 15 năm 1997 như một “đại biểu được mời đặc biệt” sau khi thất bại trong cuộc bầu cử đại biểu đảng viên địa phương của mình. Và Tây Nhân Bình được chỉ định vào Ban Chấp hành Trung ương tại Đại hội thứ 15 sau khi không được bầu làm đại biểu tại Ðại hội ấy.
Về vấn đề chuyên môn hóa chức năng hoạt động của giới tinh hoa, Ðệ tứ đại trình bày cái nhìn thoáng qua và sơ khởi vào con số lớn lao những cuộc đấu đá nhau mang tính thư lại và phủ trùm sinh hoạt chính trị của giới lãnh đạo tại Trung Quốc. Trong khi theo truyền thống thì các ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị được chỉ định vào các chức vụ cá biệt (các vấn đề kinh tế, an ninh nội bộ, các sự vụ quốc ngoại và vân vân), sự phân chia này vẫn là đối tượng kinh niên của tránh né hoặc bất chấp - nghĩa là “tính chất tự quản” là yêu cầu của sự định chế hóa chính trị theo định nghĩa của Huntington vẫn tiếp tục bị thủ tiêu trong nhiều phạm vi quan trọng có tính chính sách.
Thất bại của sự chuyên môn hóa giới tinh hoa được biểu thị trong nhiều khu vực hoạt động:
Ðiểm đặc trưng duy nhất ở bên dưới cấp tinh hoa, có tiềm năng mạnh mẽ để làm giảm những tác động buồn thảm của tình trạng quyền lực tập trung trong các chế độ toàn trị, là sự tham gia chính trị: sự “thâm thủng dân chủ” có thể tối thiểu được bù đắp phần nào bằng sự “thặng dư tham gia”. Ðể làm bằng chứng cho sự định chế hóa đang gia tăng ở cấp dưới cấp tinh hoa, các nhà nghiên cứu kể tới các cuộc bầu cử cấp xã, việc đệ đạt thỉnh nguyện của nhân dân, và vai trò của các cơ quan lập pháp địa phương. Tuy trong các trường hợp đó, không trường hợp nào đạt hai tiêu chuẩn của sự định chế hóa - hiệu năng và nhất quán. Ðơn cử vài thí dụ nổi tiếng:
5. Rõ ràng các cuộc bầu cử cấp xã đã chứng minh tính hiệu năng trong sự cải thiện việc cai trị tại gần một triệu xã ở Trung Quốc và thiết lập chính quyền nhà nước tại vùng nông thôn. Nhưng chúng thiếu sự nhất quán có tính tiêu chuẩn hóa: Bên trong nhà nước độc đảng, sự đua tranh chính trị phải được giữ trong vòng kiểm soát chặt chẽ. Ðồng thời, duy trì sự kiểm soát ấy đôi khi có ý nghĩa là Ðảng phải vi phạm những nguyên tắc đua tranh do chính Ðảng đề ra - thí dụ, bằng các việc như vi phạm chính sách do nó đề ra trong các cuộc bầu cử cấp xã; vô hiệu hóa các kết quả bầu cử mà nó không thể chấp nhận; hoặc lén lút cấy sự kiểm soát của nó ở những xã không chịu vào khuôn phép. Việc đề ra các cuộc bầu cử ấy có thể là chiến thuật từ phía một số quan chức chính phủ cấp trung ương muốn giấu diếm dân chủ ở cửa sau, nhưng việc giấu diếm như thế chỉ có thể tiến hành ngang đây thôi, trước khi nó bắt đầu vận dụng sức ép chính xác lên trên lý tưởng cai trị có tính tiêu chuẩn hóa mà chỉ một mình Ðảng nắm quyền lực chính trị.
6. Trong nỗ lực khẳng định vai trò “giám sát” công tác của chính quyền, các cơ quan lập pháp cấp quốc gia lẫn cấp địa phương đều phải chịu đựng cũng một loại không nhất quán có tính tiêu chuẩn hóa ấy. Vì đảng và nhà nước Trung Quốc không chấp nhận ý tưởng ủy thác quyền lực chính trị nên các cơ quan lập pháp bao giờ cũng yếu. Trong các đan cử hiếm hoi ấy, nơi mà họ cố xoay xở để, thí dụ như, từ chối một luật lệ, một sự bổ nhiệm người vào cơ quan hoặc một bản báo cáo của chính quyền thì gần như có tình trạng hoang mang buồn cười về việc mình phải làm gì đây. Không giống các cuộc bầu cử cấp xã, nơi ít ra sự ủy thác quyền lực hành chánh cũng có hiệu năng, các hội đồng nhân dân của Trung Quốc vẫn còn bị Ðảng kiểm soát rất chặt chẽ tới độ chúng hầu hết đều không hiệu năng.
7. Cũng có một hệ thống đệ đạt thỉnh nguyện của nhân dân mà người ta có thể nói là đáp ứng yêu cầu của ý tưởng có tính tiêu chuẩn hóa đều khắp: rằng nhân dân được phép đưa đề nghị để góp phần giúp Ðảng thực hiện công tác. Vào năm 2000, một Văn phòng Quốc gia Nhận Thư thỉnh nguyện và Tiếp dân (State Bureau of Letters and Visits) mới được thành lập như một cơ quan cấp dưới bộ. Thế nhưng việc giải quyết thư thỉnh nguyện của nhân dân vẫn rất thất thường, vì quá trình cứu xét tối hậu không thật sự tùy thuộc sự xử lý thường xuyên theo quyền hành đã được ủy thác, mà đúng hơn, theo sự chấp nhận có tuyển chọn do Ðảng giám sát.
Như thế, bằng chứng hiện nay về sự định chế hóa có vẻ bị giới hạn một cách dứt khoát. Sự định chế hóa không chỉ bao gồm sự vắng mặt của hỗn độn mà còn đưa tới sự có mặt tích cực của hiệu năng và nhất quán có tính tiêu chuẩn hóa. Lúc đó, ÐCSTQ chuyển dịch từ một trạng thái hỗn độn tới một trạng thái an bình đặc biệt; nhưng chỉ tới đó thôi, không đi xa hơn. Kết quả là, các vấn đề gắn bó một cách truyền thống với các chế độ phi dân chủ - sự phi chính thống, cai trị kém cỏi, tham nhũng, sự bất ổn của giới tinh hoa - vẫn còn nhiều vô số tại Trung Quốc. Chỉ riêng tham nhũng thôi thì đã được ước lượng tới con số tương đương từ 10% tới 20% tổng sản lượng quốc nội (GDP). Sự bất ổn của giới tinh hoa biểu thị rõ rệt trong những cuộc đấu đá bè cánh và ý thức hệ mà đã đặc điểm hóa những năm thời họ Giang, bao gồm việc thanh trừng không dưới sáu ủy viên Bộ Chính trị. Tất cả những cái ấy gợi cho thấy rằng các nỗ lực của Trung Quốc nhằm định chế hóa nói chung là thất bại.
Sự định chế hóa trong tương lai
Có lẽ câu hỏi đúng ra nên là, cái gì tương lai sẽ mang tới. Liệu các tiêu chuẩn được định chế hóa một cách quá yếu tại Trung Quốc có sẽ trở thành mạnh hơn, hoặc suy sụp? Nghĩa là, liệu chúng ta có thể hân hoan trông đợi giai đoạn “dân chủ hóa từng bước một” để khắc phục sự vô hiệu năng và phi nhất quán của hệ thống hiện nay?
Mọi sự củng cố có tính dân chủ đều bắt đầu từ những thay đổi mà theo định nghĩa thì chúng chưa hằn sâu, có thể được đặc điểm hóa như một thỏa ước tạm thời (modus vivendi) giữa những tay chơi thích đáng. Chỉ với thời gian thì những thay đổi ấy mới hằn sâu, mới được thấy một cách tổng quát là đáng được thừa nhận vì lợi ích của chính chúng, và như thế, chúng trở thành những tiêu chuẩn. Nhưng luôn luôn có khả năng ngược lại, cái mà tôi tin tưởng có khả năng hơn trong trường hợp Trung Quốc: rằng những diễn tiến mới sẽ suy sụp như một kết quả của “lô-gic của quyền lực tập trung.”
Thí dụ, về vấn đề đề bạt giới tinh hoa, thật dễ tưởng tượng là chắc chắn rằng theo thời gian, nguyên tắc 70 tuổi sẽ được định chế hóa hơn, tuy thế chỉ cần một hoặc hai người không đồng ý là làm hỏng cuộc mặc cả, như từng thấy trong cuộc đấu đá về kế thừa tại Đại hội Ðảng thứ 16. Tại Đại hội Ðảng thứ 17 năm 2007, La Cán, người theo đường lối cứng rắn, sẽ trên 70 tuổi, trong khi một đối thủ của Hồ Cẩm Ðào là Tăng Khánh Hồng sẽ 68. Cả hai đại điện cho các bè cánh có sức mạnh. Và khi quyền lực bị đe dọa một cách tối hậu thì sự duy trì các tiêu chuẩn bị bấp bênh - như các chế độ toàn trị trên khắp thế giới đã biểu lộ nhiều lần. Càng khư khư ôm chặt quyền lực chừng nào thì những tiêu chuẩn càng có khuynh hướng bốc hơi chừng nấy.
Ngược lại, những đề bạt dựa trên công trạng chắc chắn sẽ góp phần càng ngày càng đem thêm nhiều người có năng lực vào các cơ quan cao hơn. Nhưng tại cấp địa phương, diễn tiến đề bạt thường trở thành đút lót, trong khi ở cấp tinh hoa, diễn tiến ấy vẫn bị quyết định bởi những thất thường của các bè cánh chính trị. Việc thay đổi các mẫu thức ấy đòi hỏi một tuyến độ rộng rãi để theo dõi và giám sát qua truyền thông không bị kiểm duyệt, việc chống tham nhũng và việc ủy thác quyền lực. Trong những cái đó, có vẻ ÐCSTQ không chọn cái nào. Việc thay đổi các mẫu thức rộng rãi hơn của tham nhũng cũng đòi hỏi những triển khai tương tự, và cũng không có khả năng tương tự.
Tới với các cuộc bầu cử cấp xã, các lãnh tụ Ðảng sẽ có khuynh hướng cảnh giác khi gặp bất cứ dấu hiệu nào của hiệu năng nơi các xã trưởng được bầu lên. Sự xuất hiện của nhiều viên chức được bầu đó - như một nhóm không có tính nhạy cảm đối với việc kết nạp hoặc việc mưu toan lật đổ - thì không thể tránh khỏi, sẽ nêu lên vấn nạn rằng không biết Ðảng có nên xét lại các tiêu chuẩn của nó để ủng hộ việc chia sẻ quyền lực chính trị hay không - và đó chính là con đường mà các chế độ toàn trị mạnh mẽ ở Ðài Loan, Nam Hàn và Thái Lan đã đi. Nhưng trong trường hợp một chế độ yếu ớt như chế độ của ÐCSTQ thì sự “tự nguyện rút lui” đó không chắc có thật.[5] Một diễn tiến có vẻ có thật hơn là, Ðảng tiếp tục vi phạm các cuộc bầu cử cấp xã khi các nhóm chính trị mới mẻ ấy bắt đầu tranh đua với sự thành công ngày càng nhiều hơn. Như Paul Brooker ghi nhận, các chế độ toàn trị đưa ra các cuộc bầu cử địa phương chân chính “có thể tối hậu sẽ đối mặt với vấn đề là phải tìm cho ra một phương cách phi dân chủ không quá lộ liễu để làm cho khập khểnh cái đảng đang đấu tranh quá thành công với đảng chính thức của mình.”[6]
Tình thế tiến thoái lưỡng nan ấy cũng giúp giải thích tại sao ÐCSTQ, bất chấp những lời hứa được lặp đi lặp lại của nó, vẫn chưa tán trợ việc mở rộng bầu cử những người điều hành trực tiếp ở cấp cao hơn cấp xã. Những thử nghiệm rải rác việc bầu cử người cai trị cấp huyện đã bị cấp lãnh đạo Ðảng phê bình, mặc dù chúng được dân chúng tại các địa điểm ấy chấp nhận và ưa thích, và nói chung đáp ứng được cuộc khủng hoảng cai trị đang diễn ra trong vấn đề cai trị ở cấp huyện.
Về phần các hội đồng nhân dân, chắc chắn chúng cải thiện việc cai trị tại nhiều địa hạt. Nhưng thông thường chúng làm được như thế bằng việc nắm lấy quyền lực, ngược với ý kiến của Ðảng. Nơi nào chúng cải thiện được tính chính thống của chế độ thì chỉ bởi vì các thành viên của chúng được đảng kết nạp đầy đủ. Chúng hoặc chỉ có thể cải thiện sự cai trị, hoặc chỉ có thể cải thiện sự kiểm soát của chế độ, không thể làm cả hai việc đó.
Trong mỗi trường hợp - các cuộc bầu cử cấp huyện hoặc các hội đồng nhân dân - đang bị buộc phải chọn giữa hiệu năng và nhất quán. Dường như lúc nào Ðảng cũng chọn cái thứ hai.
Các chu kỳ và suy sụp
Nhiều người viết về các chu kỳ sinh hoạt chính trị tại CHNDTQ từ năm 1949. Trong khi những ngẫu nhiên có tính con người và tính lịch sử có khuynh hướng giải thích những thời điểm rạch ròi của các chu kỳ này, thì động cơ nằm bên dưới dẫn tới sự suy sụp sau mỗi sự củng cố, nói một cách chính xác, chính là cái “lô-gic của quyền lực tập trung”: trong những thời kỳ khủng hoảng chính trị, loạn chức năng, hoặc có vấn đề kế thừa thì bất cứ quyền lực nào từng được ủy thác một cách thận trọng để cải thiện việc cai trị và ổn định giới tinh hoa chính trị đều bị thu hồi lẹ làng. Tính từ năm 1949, đại khái ta có thể thấy có bốn chu kỳ tách biệt:
1. Thời kỳ một (1940-61):
2. Thời kỳ 2 (1961-76):
3. Thời kỳ 3: (1976-94):
4. Thời kỳ 4: (1994- ):
Một phân tích thoáng qua về văn học trong ba chu kỳ kể trên gợi cho thấy các nhà nghiên cứu sinh hoạt chính trị của Trung Quốc đều rất có khuynh hướng thông giải rằng sự thay đổi ở từng giai đoạn thì mang tính tuyến tính. Thí dụ năm 1978 - ngay lúc bắt đầu của cái mà tôi dùng thuật ngữ Củng cố Thời kỳ Ba” - có xuất hiện một bài viết với nhan đề Hiện đại hóa và sinh hoạt chính trị kế thừa tại Trung Quốc. Bài viết ấy gây nhiều tranh luận vì đưa ra một số cảnh báo về sự bất định trong tương lai, một sự bất định mà mãi tới ngày nay mới xảy tới, trong giai đoạn Đại hội thứ 16.[7] Ngược lại, văn học sau năm 1989 có khuynh hướng mạnh mẽ nhấn mạnh sự tiếp tục suy sụp của chế độ.
Dõi theo những thăng trầm của từng giai đoạn cá biệt và so sánh chúng với các giai đoạn trước đó, người ta có thể nói rất chắc chắn về tiên đoán đó. Khi tin rằng các thời kỳ ấy không thể đảo ngược thì chính niềm tin đó ẩn chứa sự nguy hiểm; lịch sử của Trung Quốc cách riêng và lý thuyết về chế độ toàn trị nói chung gợi cho thấy rằng chúng có khả năng đảo ngược. Indonesia của Suharto có thể là một phản thí dụ tốt nhất - vào giữa thập niên 1990, chế độ đó bị tuột hết quyền lực vào lúc nó có vẻ như đang có chiều hướng đi lên và củng cố chính nó bằng những hình thức định chế hóa mới, và xem ra “chắc chắn và hiệu năng rất cao.”[8]
Nếu chúng ta đã tìm kiếm kỹ lưỡng hơn các dấu hiệu củng cố sau năm 1989 thì chúng ta nên tìm kiếm kỹ lưỡng hơn các dấu hiệu suy sụp ngày nay tại đỉnh điểm của những gì sẽ là Thời kỳ Suy sụp thứ Tư trong biểu đồ trên. Nhiều dấu hiệu trong đó có thể bao gồm sự xuất hiện của tình trạng nứt rạn ít nhiều và công khai trong các ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị về các vấn đề chính sách trọng yếu, thí dụ Ðài Loan hoặc bầu cử cấp địa phương; sự công khai xuất hiện trở lại của các lãnh tụ đang nghỉ hưu như Giang Trạch Dân hoặc Lý Bằng; hoặc Bộ Chính trị mất quyền hành trên lãnh vực hoạt động như an ninh nội bộ.
Vấn đề thời kỳ suy sụp mới có thể dẫn tới đâu thì nằm ngoài phạm vi ứng xử của trang giấy này. Nhưng một lời cảnh cáo coi như là kết luận rằng: sự suy sụp mang tính định định chế hóa đó không báo điềm sụp đổ của chế độ. Sức mạnh của bộ máy cưỡng bách của Trung Quốc - sáu triệu viên chức công an và bộ đội - hiệp với tình trạng xã hội dân sự yếu ớt đủ để đảm bảo rằng Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ không bị rớt đài hoặc bị đẩy khỏi quyền lực. Tấn thảm kịch dưới hình thức các cuộc thanh trừng chính trị và trấn áp xã hội là kết quả rất điển hình cho các thời kỳ suy sụp tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Ðồng thời có một hệ quả mang tính lựa chọn mà có thể giúp Trung Quốc thoát khỏi chu kỳ chính trị đó: sự đột phá có tính dân chủ. Sự suy sụp định chế cung cấp cơ hội - thường thì kèm theo nó là khủng hoảng cai trị - cho giới tinh hoa có khuynh hướng cải cách thiết kế sự gỡ rối cho chế độ bằng những hứa hẹn cởi mở chính trị vốn là bước đầu tiên hướng tới dân chủ. Lúc ấy, mỉa mai thay, hy vọng dân chủ nhất lại có thể nằm ngay trong chính những mâu thuẫn đang tạo ra quá nhiều trục trặc cho sự định chế hóa hiện nay.
[1] Lối nói “lô-gic của quyền lực tập trung” là dựa theo câu nói của Robert Dahl về “lô-gic của sự bình đẳng” - nỗ lực hướng tới sự tham gia rộng rãi và quyền lực chính trị có tinh thần trách nhiệm mà Dahl coi đó là kết quả cố định phát xuất từ việc bắt đầu đảm đương sự bình đẳng chính trị giữa các thành viên của xã hội [đoàn, nhóm, hiệp hội...]. Xem: Dahl, On Democracy (Bàn về dân chủ), New Haven: Yale University Press, 1996, 10.
[2] Samuel P. Huntington, Political Order in Changing Societies (Trật tự chính trị trong các xã hội đang thay đổi), New Haven: Yale University Press, 1968, 12,2.
[3] Zong Hairen, Disidai (The Fourth Generation, Thế hệ thứ tư), New York: Mirror Books, 2002. Nó là nền của cuốn sách viết bằng tiếng Anh mà tôi là đồng tác giả với Andrew Nathan, China’s New Rulers: The Secret Files (Những nhà cai trị mới của Trung Quốc: Hồ sơ mật), New York: New York Review of Books, 2002. Chúng tôi trình bày tính xác thực của Desidai với đầy đủ chi tiết trong lời nói đầu của cuốn sách.
[4] Các khuyết điểm ấy được thừa nhận rõ ràng trong các tài liệu chính thức của đảng. Xem: Andrew Nathan và Bruce Gilley, China’s New Rulers, phần nói về Hồ Cẩm Ðào, tr. 68; về Ngô Bang Quốc, 102; về La Cán, 110; và về Lý Trường Xuân, 114.
[5] Tôi đưa ra một phương thuốc kéo dài diễn tiến có khả năng đột phá dân chủ trong China’s Democratic Future (Tương lai dân chủ của Trung Quốc), sắp xuất bản.
[6] Paul Brooker, Non-Democratic Regimes: Theory, Government and Politics (Các chế độ phi dân chủ: lý thuyết, chính quyền và chính trị)
[7] Kenneth Lieberthal trong Journal of International Affairs 32 Fall 1978 (Tạp chí Các Sự vụ quốc tế số 32 Mùa thu 1978), 239- 54. Bài báo ấy ghi nhận các “kết quả làm giật mình” của sự củng cố thời sau-Mao, do bởi “sự nhất trí... rất cao” của giới lãnh đạo và nỗ lực của nó để “làm cho đảng khôi phục quyền lực và năng lực trước đây.” Tuy thế, nó cảnh cáo rằng “quá sớm để nói liệu tiến trình đó có thể đảo ngược hay không”.
[8] R. William Liddle. “Indonesia: Suharto’s Tightening Grip” (Indonesia: Kềm kẹp đang siết của Suharto), Journal of Democracy 7 (October 1996), 70. Trích trong: Larry Diamond, Developing Democracy: Towards Consolidation (Phát triển dân chủ: hướng tới sự củng cố), Baltimore, John Hopkins University Press, 1999, 262.
Bruce J. Dickson
Bruce J. Dickson là phó giáo sư môn khoa học chính trị và các sự vụ quốc tế tại Ðại học George Washington. Ông là tác giả bảy cuốn sách về Trung Quốc, trong đó dặc biệt có Red Capitalism in China: The Party, Private Entrepreneurs, and Prospect for Political Changes (Chủ nghĩa tư bản đỏ tại Trung Quốc: đảng, các doanh gia và viễn ảnh thay đổi chính trị, 2003) và Democratization in China and Taiwan: The Adapbility of Leninist Parties (Dân chủ hóa tại Trung Quốc và Ðài Loan: khả năng thích nghi của các đảng Lênin-nít, 1997), và là biên tập viên cộng tác của tạp chí Problems of Post-Communism (Các vấn đề thời hậu cộng sản).
Với sự nổi bật của Ðảng Cộng sản Trung Quốc (ÐCSTQ) trong Ðại hội Thứ 16 của Ðảng này vào tháng Mười một năm 2002 bằng một ban lãnh đạo mới và một chương trình cập nhật hóa, hệ thống chính trị đang nắm quyền kiểm soát đó có triển vọng chính trị nào?
Giải quyết nhẹ nhàng việc chuyển giao quyền lực như vừa qua chứng tỏ một cấp độ ổn định có tính định chế chưa từng thấy bên trong giới tinh hoa chính trị (elites) của Trung Quốc. Và tuy hiện nay ÐCSTQ đang có thì giờ để nhìn sự tàn lụi dần cái sức mạnh của đảng ở cơ sở hạ tầng quần chúng, nạn nhân của nhiều trầm cảm phát sinh từ sự hội nhập tăng theo mức lũy tiến của Ðảng cùng với một xã hội đang thay đổi lẹ làng. Trong khi đó, các chính sách “cải cách và mở cửa” của ÐCSTQ có những hệ quả ngoài dự tính, làm yếu thêm viễn tượng về sự tiếp tục độc quyền chính trị của nó: vì khu vực tư nhân đang bành trướng, Ðảng không còn kiểm soát nơi chốn nhân dân ở và làm việc; vì sự lan rộng của việc tiếp cận internet, vô tuyến truyền hình qua vệ tinh viễn thông và truyền thông tự chọn, Ðảng không còn kiểm soát loại thông tin nào người dân đang có hoặc nó được phổ biến như thế nào; và vì sự kết hợp những lợi tức sẵn có để chi tiêu rộng rãi hơn và sự giải phóng chính trị, Ðảng không còn kiểm soát những gì dân chúng làm trong lúc nhàn rỗi. Ðể giải quyết những hệ quả đó, Ðảng dùng một sách lược mới. Trong chừng mực thiết yếu của sách lược đó, nó tái định hướng một cách có hiệu quả mối quan hệ của Ðảng với xã hội Trung Quốc, và tới một mức độ nào đó, phát sinh câu hỏi được nhiều người chia sẻ về sự sinh tồn lâu dài của một chế độ toàn trị đang giải phóng và hiện bị khống chế bởi một đảng độc nhất: việc thích nghi với môi trường kinh tế và xã hội mới sẽ làm mạnh hoặc quả thật làm yếu sự tiếp tục nắm quyền lực của Ðảng?
Từ bên trong lẫn bên ngoài Trung Quốc, nhiều nhà quan sát kỳ vọng rằng sự tiếp tục cải cách kinh tế và tư nhân hóa cùng hội nhập hệ thống quốc tế sẽ dẫn tới những phát triển kinh tế và rồi lần lượt đẩy mạnh những hình thức phát triển xã hội - đặc biệt sự ló dạng một xã hội dân sự, và tối hậu, sự khởi đầu mạnh mẽ công cuộc dân chủ hóa. Ðây là một quan điểm hấp dẫn, đặt căn bản trên những cái nhìn thấu suốt của lý thuyết về hiện đại hóa; chúng thường bị sỉ vả nhưng vẫn được nhiều người ưa chuộng. Tuy thế, sự thật thì phát triển xã hội và kinh tế chưa là đáp ứng “tự nhiên” đưa dân chủ tới gần: trong khi bị liên quan tới các cấp độ phát triển, dân chủ cũng là những diễn tiến chính trị rất cá biệt, được thúc đẩy một cách cá biệt bởi những người làm chính trị (cả bên trong lẫn bên ngoài chế độ). Ðảng Cộng sản Trung Quốc biết như thế nên nó hành động để ngăn chặn những yêu cầu mang tính tổ chức đang dậy lên từ bên ngoài đảng nhằm mục đích thay đổi chính trị.
Chiến lược của ÐCSTQ gồm hai mũi giáp công: nung đúc những quan hệ nặng tính liên hiệp và đồng thời, bổ dụng giới tinh hoa kinh tế và kỹ thuật.[1] Vào đầu thập niên 1980, thấy sự thành lập vô số các tổ chức kinh tế, xã hội và chuyên gia, các quan chức của đảng hoặc chính phủ bắt đầu khống chế các chức vụ chóp bu của nhiều tổ chức đó, cho phép nhà nước bỏ rơi ngay tức khắc những “khát vọng chuyên chế” của nó và duy trì sự kiểm soát có liều lượng trên các nhóm có ảnh hưởng nhất trong xã hội.[2] Vì lý do ấy, rất ít các tổ chức đó được hưởng ngay cả mấp mé cái cấp độ tự quản mà các kiểu mẫu có tính tiêu chuẩn hóa của “xã hội dân sự” đòi hỏi. Có điều không tổ chức nào tìm kiếm cấp độ tự quản ấy, vì tại Trung Quốc, tự quản thì giống như bất lực. Thay vào đó, họ thích được nằm sâu bên trong nhà nước, không khác gì ý thích của các tổ chức tương tự tại hầu hết các nước Ðông Á và các xứ đang phát triển.[3]
Trong khi đó, Ðảng tuyển mộ loại chuyên gia kinh tế và kỹ thuật cần thiết để đẩy mạnh công cuộc hiện đại hóa kinh tế. Ở đây, lý do cơ bản tự nó có hai nếp gấp: thứ nhất, ÐCSTQ muốn được móc nối với những loại người nó cần để thúc đẩy tăng trưởng liên tục mà vốn là nguồn gốc chủ yếu của lời tuyên xưng đương đại của Ðảng về sự cai trị có tính chính thống của nó. Thứ hai, ÐCSTQ muốn ngăn chặn những nỗ lực phát xuất từ các nhóm tinh hoa mới này nhằm hoặc thành lập các nhóm của chính họ trong vị trí đối lập với Ðảng hoặc đứng chung hàng ngũ với những kẻ đối lập với chế độ. Loại bổ dụng này không giống với lối xây dựng đảng từ trước tới nay của ÐCSTQ với đối tượng đảng là người dân thường - chủ yếu là người lao động và nhà nông - và tiến hành công tác đó bằng việc lập các tiểu tổ tại chỗ họ sinh sống và làm việc. Nhưng hiện nay, Ðảng ngày càng đặc biệt ra sức nhấn mạnh tới những người có tài năng phát triển kỹ thuật và doanh nghiệp: trong khi có khoảng 5% dân số tùy thuộc vào Ðảng thì tỉ lệ đảng viên trong giới doanh gia tư nhân từ 13% năm 1993 lên tới khoảng 20% năm 2000. Ngược lại, các công nhân kỹ nghệ và nông nghiệp hiện nay chiếm phần thiểu số trong tổng số đảng viên, họ từ 63% năm 1994 xuống còn 45% năm 2002. Ðảng cũng tạo ưu tiên để thu hút các chuyên gia có học. Tỉ lệ đảng viên có trình độ giáo dục trung học hoặc cấp cao hơn từ 17.8% năm 1984 lên tới 52.5% năm 2002. Và trong Ban Chấp hành Trung ương của ÐCSTQ, tỉ lệ các ủy viên có bằng đại học hoặc cao đẳng từ 55.5% năm 1982 lên tới 98.6% năm 2002, còn tỉ lệ của những người có bối cảnh kỹ thuật (nghĩa là khoa học, kỹ thuật hoặc quản trị) từ chỉ 2% năm 1982 lên tới 57% năm 1997. Cả 9 ủy viên của Ban Thường vụ Bộ Chính trị được tuyển chọn hồi tháng Mười một năm 2002 đều là chuyên gia khoa học kỹ thuật.
Hậu quả của những chuyển đổi này là ÐCSTQ tái định nghĩa mối quan hệ của nó với xã hội Trung Quốc - một sự tái định nghĩa được diễn tả bằng khẩu hiệu “Tam đại biểu - Ba đại diện”: Thay vì mô tả mình đơn giản là người tiên phong của giai cấp vô sản, Ðảng lúc này tuyên bố đại diên cho: 1) “các lực lượng sản xuất tiên tiến” của xã hội, nghĩa là đặc biệt các giai cấp trung lưu thành thị càng ngày càng đông đảo, gồm các nhà kinh doanh, các chuyên viên, các chuyên gia kỹ thuật cao; 2) sự cổ vũ “văn hóa tiên tiến”, như đối lập với những truyền thống “phong kiến” hoặc chủ nghĩa duy vật chất hiện đại; và 3) các quyền lợi của đại đa số nhân dân Trung Quốc. Chính sự tái định hướng này của Ðảng, hơn bất cứ những sắp xếp việc kế thừa được định chế hóa ở cấp thượng đỉnh, tạo ra tiềm năng thật sự cho sự thay đổi chính trị.
Cấm hay không cấm
Cả hai sách lược ấy đều có nguy cơ: một đằng, các tổ chức mới có thể tự triển khai bản sắc của chúng và từ khước quyền lãnh đạo của Ðảng; đằng khác, các đảng viên mới ấy có thể đẩy Ðảng tới hướng tuyệt thông với các thành phần cơ bản và chính thống của nó. Và quả thật, chính những quan tâm này làm dậy lên những cuộc tranh luận hiềm khích bên trong ÐCSTQ suốt thập niên 1980, đặc biệt về tư cách đảng viên của doanh gia. Vào tháng Tám năm 1989 - không lâu (cũng không phải ngẫu nhiên) sau khi chế độ buộc lòng phải đàn áp những cuộc biểu tình thân dân chủ của quần chúng trong năm đó tại Bắc Kinh và hàng trăm thành phố khác ở Trung Quốc - các lãnh tụ chính thống của ÐCSTQ cấm ngặt việc kết nạp doanh gia. Lệnh này làm chậm lại sự sinh sôi nảy nở của thành phần doanh gia trong Ðảng nhưng còn lâu lắm mới chấm dứt được sự kết nạp đó: các viên chức Ðảng địa phương thường lơ lệnh cấm ấy, trong khi các đảng viên hiện hành thì xói mòn nó bằng việc bản thân họ càng ngày càng đi vào doanh nghiệp tư nhân.
Suốt thập niên 1990, tính chất thích đáng hay không của lệnh cấm ấy được thảo luận kỹ lưỡng trên các tạp chí của ÐCSTQ. Người ủng hộ thì ghi nhận sự mâu thuẫn giữa các biểu đồ nhân số đang thay đổi của Ðảng và truyền thống xã hội chủ nghĩa trong việc ủng hộ các quyền lợi của người lao động, đặc biệt của tầng lớp nông dân, chống lại những kẻ thuộc về tư bản tư nhân, đồng thời cảnh cáo rằng số lượng ngày càng tăng các doanh gia ở trong Ðảng đang xói mòn tính chặt chẽ của Ðảng và thậm chí đang đe dọa sự sống còn của Ðảng. Người chống lại lệnh cấm thì đưa lời tranh cãi thực dụng hơn. Họ tuyên bố, các doanh gia mới này sở dĩ thành công là do bởi các chính sách của Ðảng, và không nên trừng phạt họ vì họ làm theo chính sách của Ðảng; thêm nữa, sự thành công của họ làm lợi cho đảng và cho đất nước bằng việc tạo ra công ăn việc làm mới và gia tăng sự thịnh vượng chung, qua đó nâng cao tính chính thống của chế độ; và cuối cùng, nếu các doanh gia tiếp tục bị cấm vào Ðảng thì lúc đó họ có khả năng tổ chức chống lại Ðảng, vì các tài nguyên kinh tế ngày càng tăng của họ sẽ chuyển đổi, một cách không tránh được, thành sức mạnh hoặc ảnh hưởng chính trị.
Vào ngày 1 tháng Bảy năm 2001, kỷ niệm 80 năm ngày thành lập ÐCSTQ, Tổng bí thư Giang Trạch Dân chính thức thúc giục hủy lệnh cấm đó - nhưng ông thất bại, kể cả việc giải quyết vấn đề đó. Các sách báo xuất bản dùng đường lối Mác-xít chính thống để phê bình kịch liệt và chỉ trích rằng lời phát biểu ấy của họ Giang làm hại quyền lợi của ÐCSTQ, rồi họ đi rất xa tới độ cáo buộc ông vi phạm kỷ luật Ðảng qua việc đề nghị một sáng kiến gay cấn như thế mà không có sự xem xét cặn kẽ và thích đáng trong nội bộ Ðảng. Giang phản ứng bằng cách đóng cửa các tạp chí đó và như thế, bịt miệng tiếng nói công khai của chủ nghĩa Mác chính thống của Ðảng. Trong kỳ họp quốc hội tháng Mười một năm 2002, đề nghị kết nạp doanh gia và lý thuyết của họ Giang về “tam đại biểu” được ghi bổ sung vào bản hiến pháp nhưng cuộc tranh luận ấy vẫn tiếp tục nơi hậu trường. Kẻ chống lại sự bổ sung đó thì tranh cãi rằng chính sách kinh tế mới của Trung Quốc làm chuyển thể xã hội Trung Quốc và có nguy cơ tạo ra sức ép chính trị theo một cách thức và trên một qui mô mà sẽ đưa sự cai trị của Ðảng tới một chung cuộc. Người ủng hộ thì phản bác rằng việc đi theo định nghĩa mới về vai trò của Ðảng và việc mở hàng ngũ Ðảng ra cho các quyền lợi kinh tế đa dạng của Trung Quốc đương đại (mà trong quá khứ, nhiều đại diện của nó bị bức hại như là các “kẻ thù của giai cấp”) sẽ giúp tăng cường chứ không làm tiêu hao quyền cai trị của Ðảng.
Cùng lúc đó, hiện ra rõ ràng trước mắt là các tổ chức quần chúng của Ðảng đang bị phân rã. Trong khi Ðảng có mặt ở mọi chốn lao động của nền kinh tế qui hoạch thuở trước, thì nay rõ ràng là nó vắng mặt tại những chốn lao động của khu vực tư nhân đang ngày càng tăng. Ðảng Cộng sản Trung Quốc nay chỉ phát triển được cơ sở không tới 1% trong hơn một triệu rưỡi các xí nghiệp tư nhân đang xuất hiện trên toàn xứ sở và nó chỉ tuyển mộ được một ít đảng viên trong các lực lượng lao động. Ở nông thôn, đất sống của 70% trong tổng số 1.3 tỉ dân số Trung Quốc, vào giữa thập niên 1990, Ðảng tuyên bố có một nửa các tổ chức nông thôn của Ðảng không hoạt động vì hiếm có người chịu gia nhập Ðảng. Dù Ðảng bỏ ra nhiều nỗ lực để tái tiếp tế sinh lực cho các cơ sở của mình ở nông thôn, những báo cáo về tình trạng èo uột của chúng và mức gia nhập thấp vẫn tiếp tục được gởi lên trên và chuyền quanh. Người ta ước lượng có khoảng 2,5 triệu đảng viên, hầu hết là thanh niên, đang gia nhập “dân số nổi trôi” của đám dân thiên di tìm việc làm tại các thành phố. Như thế, sự có mặt của Ðảng tại vùng nông thôn lại yếu ớt thêm. Ðối với hệ thống Lênin-nít, thành tố quyết định của nó là năng lực giám sát và phê chuẩn động thái kinh tế và xã hội; hệ thống ấy có được ổn định hay không là tùy vào năng lực thiết yếu đó.[4] Như Samuel P. Huntington ghi nhận, sức mạnh của bất cứ chế độ toàn trị độc đảng nào cũng tùy thuộc, trên một qui mô lớn, vào sức mạnh của đảng cai trị. Khi đảng suy yếu thì chế độ mất ổn định.[5]
Liên hiệp chủ nghĩa và bổ dụng, hai sách lược song sinh của ÐCSTQ có thể nói là tương tự với hai thành tố gom vào và loại trừ của chủ nghĩa liên hiệp của nhà nước mà Alfred Stephan nhận ra: ÐCSTQ muốn gom vào nó những người nào thuộc giới tinh hoa về kinh tế và kỹ thuật mà không đe dọa nó bằng một nghị trình chính trị khác, đồng thời nó muốn loại trừ những người nào có khả năng đe dọa nó; Ðảng muốn gom vào nó các phần tử nào, các mảng nào của xã hội dân sự đang xuất hiện mà kinh tế là quyền lợi chủ yếu của chúng không thành vấn đề đối với Ðảng; cùng lúc đó, Ðảng loại trừ và thỉnh thoảng đàn áp các phần tử thích tranh luận chính trị và có nhiều khả năng tạo ra thách đố cho Ðảng, thí dụ, Ðảng Dân chủ Trung Quốc hoặc Pháp Luân Công, một tập đoàn gần như có tính cách tôn giáo và hấp dẫn quần chúng. Như Michael W. Foley và Bob Edward ghi nhận, nếu một xã hội dân sự đầy khí lực là thiết yếu cho các nền dân chủ ổn định thì nó lại có khuynh hướng tạo thành nguy cơ lớn lao cho các chế độ toàn trị.[6] Ðảng Cộng sản Trung Quốc nhận thức rất rõ sự dị biệt giữa lãnh vực kinh tế bên trong xã hội dân sự của Trung Quốc, một lãnh vực mà quyền lợi của nó tương hợp với quyền lợi của Ðảng, với lãnh vực chính trị nhỏ hơn mà nguy hiểm hơn đang tiềm tàng sự thách đố.[7] Sách lược mà ÐCSTQ vạch ra là ôm chặt lãnh vực kinh tế, trấn áp lãnh vực chính trị, và ngăn chặn sự ly khai chống lại Ðảng của giới tinh hoa kỹ thuật và kinh tế. Như kẻ đánh bạc liều lĩnh, Ðảng cho rằng sách lược ấy là đúng đắn và có thể thực hiện lâu dài, nhưng như Ken Jowittt đã cảnh cáo, rằng chính giai đoạn gom vào này có thể là bước đi trước làm tuyệt chủng, một cách giản dị, các đảng Lênin-nít hơn là ngăn chặn sự tuyệt chủng đó.[8]
Cái gì đang lâm nguy
Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đang héo hon vì những đe dọa đối với sự ổn định của hệ thống của họ. Thật không dễ thấy sự mỏng manh của ÐCSTQ vì từ năm 1989 tới nay, nó không phải đối mặt với một thách đố trực tiếp nào trong lúc phải xoay xở để sống sót với những phí tổn cực lớn cho uy tín của nó ở bên trong Trung Quốc và tiếng tăm của nó ở hải ngoại. Kể từ lúc đó, những người phản kháng cũng thận trọng để sống sót dưới hình thức tổ chức lỏng lẻo và không liên kết nhau, đồng thời tránh việc chất vấn về căn bản chính thống của hệ thống chính trị của chế độ hiện hành. Nhưng bất chấp những thận trọng đó, sự phản kháng đang ngày càng tăng trên khắp xứ sở, ở cả thành thị lẫn nông thôn.[9] Hầu hết những sự cố ấy đều liên quan tới các vấn đề cơ bản: tiền lương không trả, hợp đồng bị cắt ngang, tịch thu tài sản, đánh thuế phi pháp, các giấy hẹn thay cho tiền mặt dùng chi trả các hợp đồng cung cấp lúa gạo và các loại thực phẩm khác, và vân vân. Ðảng Cộng sản Trung Quốc đối phó lại bằng một hỗn hợp củ cà rốt và cây gậy, vừa đáp ứng các yêu cầu về tiền bạc của những người phản kháng, vùa bắt bỏ tù những kẻ đứng đầu các cuộc phản kháng.
Một cách kiên quyết và thỉnh thoảng tàn nhẫn, Ðảng bảo vệ sự độc quyền của nó đối với các hội đoàn có tính chính trị. Thậm chí một phong trào cực kỳ vô hại như phong trào khuyến khích sinh viên bảo vệ môi sinh bằng cách đừng dùng loại đũa chỉ dùng một lần, cũng đã cẩn thận không tự tổ chức mình, vì sợ bị đánh giá là một nhóm có tiềm năng đối lập và rồi những người đứng đầu phong trào có nguy cơ bị đuổi học hoặc thậm chí bị bỏ tù. Sự vắng mặt các cuộc phản kháng có qui mô lớn sau một thập niên có những gương mẫu đặc biệt - từ Bức tường Dân chủ năm 1978-79 tới những cuộc phản kháng của đại chúng tại Quảng trường Thiên An Môn năm 1989 - không thể được đánh giá một cách đáng tin cậy là dân chúng đang mãn nguyện, nhưng đó chỉ là phản ứng “có lý trí” trước một chế độ từng chứng tỏ nó “máu lạnh” tới ngần nào trong ý chí trấn áp và khả năng trấn áp những ai đòi đỏi thay đổi chính trị sâu rộng hơn.[10] Dù chế độ ra sức đặt căn bản tính chính thống của nó trên sự phát triển kinh tế, nhưng đi kèm với phát triển kinh tế là sự gia tăng của tham nhũng và bất bình đẳng, mĩa mai thay, cùng lúc, đã và đang xói mòn tính chính thống. Có điều tự thân sự ủng hộ yếu ớt mà nhân dân đang dành cho Ðảng không đe dọa nền cai trị của Ðảng. Như Adam Przeworski tranh cãi rằng: Sự chú ý mà người ta dành cho “tính chính thống” của một chế độ thường bị đặt sai chỗ: cái quan trọng hơn (sự ủng hộ của nhân dân) là sự thiếu vắng cái có khả năng thay thế có hiệu quả.[11] Và ÐCSTQ thành công trong việc ngăn chặn cái có khả năng thay thế nó. Nó bằng lòng chấp nhận con số ngày càng tăng những cuộc biểu tình rời rạc, trong chừng mực chúng đừng hiệp nhất hoặc tổ chức thành nhóm quyền lợi xã hội có thể hoạt động lâu dài. Ðiều ấy cho phép Ðảng tiếp tục đàn hồi, khi co khi giản, trong việc tối thiểu hóa nhu cầu thích nghi về chính trị. Nhưng nó cũng có ý nghĩa rằng không có một lực lượng xã hội tự quản và chặt chẽ mà khi lâm vào thời kỳ khủng hoảng, Ðảng có thể thương thảo với nó để hoặc đưa tới một giải pháp êm thắm hoặc một sự chuyển tiếp được “thỏa ước” rất đổi khó khăn.
Thay đổi chính trị và xã hội đang diễn ra tại Trung Quốc có những hệ quả chính trị nào? Suốt kỷ nguyên sau Mao, nhiều người quan sát ghi nhận sự bất tương hợp của các định chế Lênin-nít và nền kinh tế thị trường đang tăng trưởng; họ tiên liệu rằng tới một lúc nào đó, các hệ thống chính trị và kinh tế ấy sẽ đưa tới một hòa điệu căn bản, có thể bằng cải cách có tính dân chủ hơn là bằng sự khôi phục việc qui hoạch có tính tập trung. Cho tới lúc này, ÐCSTQ đang gây trở ngại cho các kỳ vọng đó và sự bất tương hợp ấy vẫn còn. Dù vậy, nhiều người quan sát vẫn tiếp tục mường tượng rằng công cuộc chuyển thể Trung Quốc thành một thực thể dồi dào sinh lực với tiềm năng thương mại lớn lao cuối cùng sẽ đưa tới sự chuyển tiếp dân chủ tương đối êm thắm.[12] Nhưng không phải ai cũng lạc quan như thế. Những khủng hoảng kinh tế và tài chánh đang hiện ra lờ mờ ở Trung Quốc khiến một số người tiên đoán sự sụp đổ của chính quyền Trung Quốc, dù trong số những người ấy chẳng ai có tham vọng tiên đoán sự sụp đổ ấy sẽ xảy ra vào thời điểm nào hoặc sau sự sụp đổ sẽ là cái gì.[13]
Cả hai viễn ảnh kể trên đều bỏ sót các khía cạnh quan trọng của toàn cảnh. Người tin rằng sự chuyển thể chế độ của Trung Quốc đi liền với, một cách không tránh được, sự hiện đại hóa kinh tế, đã không để ý tới vấn đề tác nhân trung gian - nghĩa là vấn đề ai sẽ lãnh đạo cuộc chuyển thể và nó sẽ cho cuộc chuyển thể đó một hình thù như thế nào; trong bối cảnh toàn trị, sự dân chủ hóa là kết quả không thể tránh của sự tăng trưởng kinh tế hơn là hậu quả hành động của các lãnh tụ chính trị bên trong chế độ và các lực lượng dân chủ bên ngoài xã hội nói chung. Hầu hết các doanh gia tư nhân và giới tinh hoa kỹ thuật của Trung Quốc đều cho thấy họ ít quan tâm tới việc cổ vũ cho dân chủ hóa. Cộng đồng của những người bất đồng chính kiến tại Trung Quốc đã và đang bị Ðảng xói mòn rất hiệu quả bằng cách bỏ tù hoặc trục xuất ra nước ngoài những lãnh tụ nổi tiếng nhất; trong khi đó, giữa các lãnh tụ ấy lại có xung khắc cá nhân và không tín nhiệm nhau - đặc biệt giữa những người sống lưu vong - gây trở ngại cho một sự hợp tác có hiệu quả hoặc tuyên truyền một thông điệp hợp nhất.
Xét theo chuỗi tình huống ấy thì thật khó xác định một trung gian nào có khả năng làm tác nhân cho công cuộc đổi thay chính trị có tính dân chủ. Mặt khác, người tiên đoán sự sụp đổ của chế độ cộng sản thì không để ý tới những tài nguyên chính trị mà Ðảng hiện có: các tổ chức có tính chính trị, nghĩa là sự tiếp tục vắng mặt của tổ chức đối lập, và sự tiếp tục chấp nhận ÐCSTQ của hầu hết nhân dân Trung Quốc như một loại hình sinh hoạt chính trị độc nhất hiện có trong nước. Cùng lúc ấy, Ðảng tiếp tục là nguồn bảo trợ chủ yếu cho công ăn việc làm và các cơ hội kinh doanh. Ðảng cũng đang tự quấn quanh thân nó lá quốc kỳ Trung Quốc giữa lúc lòng yêu nước đang gia tăng, biến sự phê bình Ðảng thành một hành động trông có vẻ không ái quốc. Thêm nữa, Ðảng làm cho quần chúng nản lòng ủng hộ sự đổi thay chính trị bằng sự nơm nớp sợ hãi rằng sẽ có tình trạng bất ổn đi liền với công cuộc dân chủ hóa. Và nhiều người tại Trung Quốc chấp nhận lời tuyên bố của ÐCSTQ rằng chế độ dân chủ thì không thích hợp với nền văn hóa Trung Quốc, vì thế, làm giảm thiểu thêm nữa cái sức ép buộc Ðảng phải cam kết cải cách chính trị sâu rộng hơn.
Loay hoay mày mò mãi
Trong các điều kiện ấy, kịch bản có khả năng xảy ra nhất về một tương lai có thể thấy trước là ÐCSTQ loay hoay mãi với sách lược thích nghi có giới hạn của nó, liên hiệp các quyền lợi mới trong khi đề kháng sức ép của khát vọng thay đổi chính trị. Ðây không chỉ là kịch bản có khả năng xảy ra nhất mà còn là kịch bản tốt lành nhất đối với ÐCSTQ, vì những đổi thay đang diễn ra về xã hội và chính trị có khuynh hướng làm tiêu hao hơn là làm vững mạnh địa vị đảng cai trị của nó. Có khả năng xảy ra là sự tăng trưởng kinh tế và tư nhân hóa sẽ làm Ðảng suy yếu qua sự tiếp tục băng hoại của các tổ chức quần chúng của Ðảng và sự tiếp tục suy yếu khả năng của Ðảng trong việc giám sát và kiểm soát các khuynh hướng xã hội đang chiếm ưu thế.
Trong khi Trung Quốc đang kinh qua cải cách chính trị nhiều hơn các nhà quan sát thừa nhận,[14] thì sự qui hoạch cải cách đó làm cho hệ thống toàn trị hoạt động hữu hiệu hơn chứ không làm cho nó đáp ứng hơn sức ép đòi thay đổi của xã hội. Cùng lúc đó, không thể chối cãi rằng các sức ép ấy đang gia tăng. Câu hỏi là liệu ÐCSTQ có thể điều tiết chúng trong khuôn khổ Lênin-nít thiếu yếu của nó hay không. Và căn cứ vào lịch sử của ÐCSTQ và kinh nghiệm của các đảng Lênin-nít khác, câu trả lời có khả năng là không. Trước hết, chủ nghĩa Lênin bất tương hơp với sự xuất hiện một xã hội dân sự chính cống; khát vọng chủ yếu của các đảng ấy là nhấn mạnh lên đường dọc của quyền lực và ngăn chặn các loại dây liên kết hàng ngang của các tổ chức tự trị vốn là nền tảng của xã hội dân sự. Thứ đến, Trung Quốc thiếu các định chế có khả năng làm kênh vận chuyển sự tham gia chính trị mà yêu cầu mỗi ngày một tích cực hơn. Chính xác là vì ÐCSTQ quá hữu hiệu trong việc bảo vệ độc quyền chính trị của nó và việc trấn áp thật sự các tổ chức tự quản nên sự phản kháng của quần chúng có khuynh hướng leo thang, và tới khi xảy ra thì nó vượt quá tầm kiểm soát. Hễ lúc nào ÐCSTQ tỏ vẻ đang cân nhắc hoặc đang khích lệ cải cách chính trị thì lúc đó, các biến cố xảy ra trầm trọng thêm từng ngày cho tới khi lãnh đạo Ðảng cảm thấy bị thúc ép phải ra tay đàn áp các phong trào cá biệt của quần chúng đang tạo sức ép đòi cải cách. Ðiều này rất đúng với thời kỳ Bức tường Dân chủ năm 1978-79, với những thử nghiệm các cuộc bầu cử địa phương đầu thập niên 1980, với những cuộc biểu tình của sinh viên năm 1986-87, và thêm lần nữa, với thời kỳ có những cuộc biểu tình tại Quảng trường Thiên An Môn và những nơi khác năm 1989. Ngày nay, bất chấp thực tế đang diễn ra sự giải phóng, các nhà lãnh đạo Trung Quốc miễn cưỡng thảo luận công khai về khả năng có sự cải tổ chính trị được bảo trợ một cách chính thức vì họ sợ mình sẽ thêm lần nữa mở chiếc cửa ngăn không cho lũ lụt tràn vào.
Như thế, ÐCSTQ bị thúc ép bởi các hành động của nó trong quá khứ và đặc biệt bởi các quyết định của nó nhằm trấn áp sự phản kháng chính trị có tổ chức và nhằm ngăn chặn sự hình thành các tổ chức tự quản. Lãnh đạo Ðảng biết điều đó, và họ cẩn thận phối trí những chuẩn bị việc kế thừa, thiết kế các sách lược về chủ nghĩa liên hiệp có giới hạn và về bổ dụng để làm nản lòng những ai đang nuôi hy vọng rằng có khả năng sớm xảy ra một cuộc cải tổ chính trị nào đó. Một số nhà lãnh đạo toàn trị, bằng những thiết kế khác, đã đánh giá quá cao sự ủng hộ của quần chúng, với niềm tin rằng mình sẽ sống sót và khởi sắc.[15] Nhưng không có vẻ như giới lãnh đạo của ÐCSTQ sẽ có một quyết định sai lầm chiến thuật như thế.
Hệ quả là các viễn ảnh về một nền dân chủ tại Trung Quốc thì liên quan trực tiếp tới chính số phận của ÐCSTQ. Có vẻ như Trung Quốc không kinh qua sự dân chủ hóa cùng với sự liên tục của chế độ như Ðài Loan và Mêhicô đã làm.[16] Nghĩa là, cho dù ÐCSTQ có thể sống sót dưới một hình thức nào đó sau cuộc chuyển tiếp, và cho dù nhiều quan chức của Ðảng có thể ở lại một cách tích cực trong một chế độ hậu công sản - như trường hợp nhiều chính phủ ở Ðông Âu và cựu Liên Xô - nếu đất nước Trung Quốc có trở thành dân chủ thì cốt yếu nằm ở chỗ ÐCSTQ phải chi trả phí tổn cho cuộc chuyển tiếp đó. Chỉ sự suy thoái của ÐCSTQ mà thôi thì không đặt được quá trình tiến tới dân chủ cho bất cứ tương lai hậu cộng sản nào. Nhiều nơi ở châu Á đang có “nền dân chủ hẹp hòi”, và một nền dân chủ được củng cố đầy đủ thì hầu như không là tiêu chuẩn trong phần còn lại của thế giới hậu cộng sản.[17] Như hết thảy chúng ta đều thoáng thấy trong nhiều trường hợp, sự kết liễu của chủ nghĩa cộng sản không bảo đảm cho sự bắt đầu một chế độ dân chủ.
[1] Xem: Ken Jowitt, New World Disorder: The Leninist Extinction (Vô trật tự thế giới mới: sự tuyệt chủng của những người theo thuyết Lê-nin), Berkeley: University of California Press, 1992, 88-120. Cũng xem cuốn của tôi: Red Capitalists in China: The Party, Private Entrepreneurs, and Prospects for Political Change, New York: Cambridge Univerity Press, 2003.
[2] Xem: Gordon White, Jude Howell và Shang Xiaoyuan, In Search of Civil Society: Market Reform and Social Change in Contemporary China (Ði tìm xã hội dân sự: Cải cách có tính thị trường và thay đổi xã hội tại Trung Quốc đương đại), Oxford: Oxford University Press, 1996; Mixin Pen, “Chinese Civic Assosiation: An Empirial Analysis,” Modern China 24: (“Hội đoàn công dân tại Trung Quốc: một phân tích theo kinh nghiệm,” Tạp chí Trung Quốc hiện đại số 24, tháng Bảy 1998), 285- 318; Tony Saich, “Negotiating the State: The Development of Social Organizations in China,” China Quartely 03.2000 (Thương thảo với nhà nước: sự phát triển các tổ chức xã hội tại Trung Quốc,” Trung Quốc Quí San tháng Ba 2000), 124-41.
[3] Xem: Peter Evans, Embedded Autonomy: States and Industrial Transformation (Sự tự quản bị giữ riết: Nhà nước và sự chuyển thể kỹ nghệ), Princeton: Princeton University Press, 1995.
[4] Andrew G. Walder, “The Decline of Communist Power: Elements of a Theory of Institutional Change”, Theory and Society 23 (“Sự sa sút của quyền lực Cộng sản: các yếu tố lý thuyết về thay đổi định chế,” Tạp chí Lý thuyết và Xã hội số 23, tháng Tư 1994), 297-323.
[5] Samuel P. Huntington, “Social and Institutional Dynamics of One-Party Systems” (Các động lực có tính xã hội và định chế của các hệ thống độc đảng), trong: Samuel P. Huntington và Clement H. Moore (biên tập), Authoritarian Politics in Modern Society: The Dynamics of Established One-Party System (Sinh hoạt toàn trị trong xã hội hiện đại: Các hệ thống độc đảng đã được thiết lập), New York: Basic Books, 1970, 9.
[6] Michael W. Foley và Bob Edwards, “The Paradox of Civil Society”, Journal of Democracy 7 (“Nghịch lý của xã hội dân sự”, Tạp chí Dân chủ số 7, Tháng Bảy 1996), 38-52.
[7] Yanqi Tong, “State, Society, and Political Change in China and Hungary,” Comparatives Politics 26 (“Nhà nước, xã hội và thay đổi chính trị tại Trung Quốc và Hungary,” Tập san Chính trị học đối chiếu số 26, tháng Tư 1994); White, Howell và Shang, In Search of Civil Society.
[8] Ken Jowitt, New World Disorder.
[9] Elizabeth J. Perry và Mark Selden (biên tập), Chinese Society: Change, Conflict, and Resistance (Xã hội Trung Quốc: thay đổi, xung khắc và đề kháng), New York: Routledge, 2000; Thomas Bernstein và Xiaobo Lu, Taxation without Representation in Contemporary Rural China (Ðánh thuế mà không có tiêu biểu tại nông thôn Trung Quốc đương đại), New York: Cambridge University Press, sắp xuất bản.
[10] Timur Kuran, “Now Out of Never: The Element of Surprise in the East European Revolution of 1989", World Politics 44 (Ngày nay tưởng chẳng bao giờ: yếu tố ngạc nhiên trong cuộc cách mạng Ðông Âu năm 1989,” Tạp chí Chính trị thế giới số 44, tháng Mười một 1991, 7-48.
[11] Adam Przeworski, “Some Problems in the Transition to Democracy” (Một số vấn đề trong cuộc chuyển tiếp tới dân chủ), trong: Guillermo O’Donnell, Philippe C. Schitter, and Laurence Whitehead (biên tập), Transitions from Authoritarian Rule, Vol. 3: Comparative Perspectives (Các cuộc chuyển tiếp từ nền cai trị toàn trị, Cuốn 3: Ðối chiếu các viễn cảnh) Baltimore: Johns Hopkins University Press, 1986.
[12] Henry S. Rowen, “The Short March: China’s Road to Democracy”, National Interest Fall 1996 (“Cuộc di hành ngắn ngủi: đường tới dân chủ của Trung Quốc”, tập san Quyền lợi quốc gia, số Mùa thu 1996), 61-70; Shaohua Hu, Explaining Chinese Democratization (Cắt nghĩa sự dân chủ hóa Trung Quốc), Westport, Conn.: Praeger, 2000; David Sheff, China Dawn: The Story of a Technology and Business Revolution (Bình minh ở Trung Quốc: Câu chuyện cuộc cách mạng kỹ thuật và doanh nghiệp), New York: Harper Business, 2002.
[13] Gordon G. Chang, The Coming Collapse of China (Sự sụp đổ đang tới của Trung Quốc), New York: Random House, 2001.
[14] Ðể có thêm chi tiết giải thích về các điểm này, xem: Minxin Pei, “Is China Democratizing?” Foreign Affairs 77 (“Có phải Trung Quốc đang dân chủ hóa?”, Tạp chí Các sự vụ quốc ngoại, số 77, tháng Giêng - tháng Hai 1998), 68-82. Pei ít lạc quan khi nhìn tiếp vào những viễn cảnh của cuộc cải tổ chính trị tại Trung Quốc; xem: “China’s Governance Crisis,” Foreign Affairs 81 (“Khủng hoảng cai trị tại Trung Quốc”, Tạp chí Các sự vụ quốc ngoại số 81, tháng Chín - tháng Mười 2002), 96-109.
[15] Guillermo O’Donnell và Philippe C. Schmitter, Transitions from Authoritarian Rule: Tentative Conclusions about Uncertain Democraties (Những chuyển tiếp từ nền cai trị toàn trị: Các kết luận chưa dứt khoát về các nền dân chủ bất định), Baltimore: Johns Hopkins University Press, 1986, đặc biệt chương 6; Samuel P. Huntington, The Third Wave: Democratization in the Late Twentieth Century (Ðợt sóng dân chủ hóa thứ ba trong cuối thế kỷ hai mươi), Norman: University of Oklahoma Press, 1991, 174-78.
[16]Tôi giải thích tỉ mỉ về biện luận này trong Democratization in China and Taiwan: The Adaptability of Leninist Parties, Oxford: Oxford University Press, 1997; và “Taiwan’s Democratization: What Lessons for China?” (“Cuộc dân chủ hóa của Ðài Loan: Bài học nào cho Trung Quốc?”) trong: Muthiah Alagappa (biên tập), Taiwan’s Presidential Politics: Democratization and Cross-strait Relations in the Twenty-first Century (Hoạt động chính trị bầu cử tổng thống tại Ðài Loan: dân chủ hóa và những quan hệ giao lưu đôi bờ trong thế kỷ hai mươi mốt), Armonk, N.Y.: M.E. Sharpe, 2001.
[17] Michael MacFaul, “The Fourth Wave of Democracy and Dictatorship: Noncooperative Transitions in the Post-Communist World,” World Politics 54 (“Ðợt sóng thứ tư của dân chủ và độc tài: những cuộc chuyển tiếp bất liên hiệp trong thế giới hậu cộng sản,” Tập san Chính trị thế giới số 54, Tháng Giêng 2002), 212-44.
Bài thỨ ba
Shaoguang Wang (Vương Thiệu Quang), giáo sư môn khoa học chính trị, Ðại học Trung Hoa - Hongkong. Ông là tác giả và đồng tác giả của trên mười cuốn sách, trong đó có: Failure of Charisma: The Chinese Cultural Revoluttion in Wuhan – Không lôi cuốn nổi quần chúng: Cách mạng Văn hóa tại Vũ Hán (1995); The Political Economy of Uneven Development: The Case of China – Kinh tế chính trị của sự phát triển không đồng bộ: Trường hợp Trung Quốc (1999); và The Chinese Economy in Crisis: State Capacity and Tax Reform (Study on Contemporary China) – Kinh tế Trung Quốc đang khủng hoảng: Khả năng của nhà nước Trung Quốc và Cải cách thế má (Nghiên cứu về Trung Quốc đương đại)-(2001); Nationalism, Democracy and National Integration in China – Chủ nghĩa dân tộc, Dân chủ và Hòa nhập dân tộc tại Trung Quốc (2003)
Vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, khi “đợt sóng thứ ba” của dân chủ hóa quét lên hầu hết quả đất thì đã có sự tin tưởng rộng rãi giữa các nhà nghiên cứu cũng như các nhà lập chính sách rằng cải cách dân chủ sẽ đưa tới việc làm cho nhà nước co rụt lại hoặc bị trung hòa.
Thế nhưng sau một thập niên quá đổi nhấn mạnh tới việc kiềm chế nhà nước, nhìn vào bản đồ chính trị thế giới lại thấy có quá nhiều chế độ dân chủ giả mạo hoặc bất toàn, và thậm chí còn có một số trường hợp “dân chủ lộn ngược” tận gốc rễ.
Rồi cũng khá ngạc nhiên là nhiều nhà nghiên cứu đi tới việc thấy rằng khả năng đứng vững và hiệu năng của các định chế nhà nước là thiết yếu cho những viễn ảnh để có dân chủ. Như Samuel P. Huntington ghi nhận rằng,”phải có chính quyền trước đã rồi mới có thể giới hạn nó.”[1] Chính quyền có dân chủ ra sao đi nữa không là vấn đề, nếu nó không thực hiện nổi những chức năng căn bản của một nhà nước thì nhân dân cũng chẳng thu được phúc lợi gì từ nó.
Bởi thế, một chế độ dân chủ có khả năng và có hiệu năng sẽ là một hỗn hợp của các định chế có năng-lực-nhà-nước và các định chế có tính dân chủ. Cái đầu làm cho nhà nước có năng lực cai trị trong khi cái sau làm cho người dân có thể giữ cho nhà nước có tinh thần trách nhiệm.
Một ngụ ý thêm nữa là, trong nhiều trường hợp, dân chủ hóa liên quan tới hai quá trình tách biệt nhau:
1/ quá trình chuyển tiếp từ chế độ phi dân chủ tới chế độ có nhiều hoặc có ít dân chủ, và
2/ quá trình thiết lập hoặc tái thiết lập nhà nước — nghĩa là thật nông nổi cho xứ sở nào mà trong thời gian chuyển tiếp, lại hủy hoại hoặc làm suy yếu các năng lực thiết yếu của nhà nước.
Những yếu tố thiết yếu của một nhà nước hiệu năng
Ðể cai trị hữu hiệu, nhà nước phải có đủ khả năng thực hiện sáu chức năng quan trọng sau đây:
1/ Giữ độc quyền sử dụng sức mạnh hợp pháp. Theo định nghĩa của Max Weber, trắc nghiệm căn bản về chủ quyền quốc gia là chính quyền của quốc gia đó có thể hoặc không thể tuyên bố độc quyền sức mạnh trên lãnh thổ theo pháp quyền của nó, với các lực lượng quân sự và các cơ quan công an cảnh sát có khả năng đẩy lùi kẻ thù quốc ngoại và bảo vệ trật tự quốc nội. Ở đây, tôi muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của sự phát triển một lực lượng công an cảnh sát chuyên nghiệp, tháo vát, tận tâm, có kỷ luật, mặc đồng phục, và được cai quản bởi luật pháp. Ðiều thú vị là, dù các chế độ đàn áp thường được gọi là “quốc gia cảnh sát trị”, xét theo tỉ lệ công dân thì thật ra chúng có khuynh hướng có ít cảnh sát hơn so với các xã hội tự do là nơi có lực lượng cảnh sát đông đảo hơn và bị kiềm chế hơn.
2/ Thu hút tài nguyên. Cũng như con người không thể sống nếu không có máu, nhà nước không thể vận hành nếu không có thu nhập từ thuế. Chính tài nguyên có sẵn ấy cho phép nhà nước thực hiện những công tác khác. Trong ý nghĩa ấy, một chính phủ hiệu năng phải có khả năng thu hút từ xã hội các tài nguyên đủ dùng, gom các tài nguyên ấy thành vốn liếng chung của quốc gia và dùng chúng cho những mục đích quốc gia. Nếu một nhà nước không có khả năng về mặt tài chánh thì nó không thể hiệu năng.
3/ Hình thành bản sắc quốc gia và huy động sự đồng thuận. Duy trì trật tự bằng cưỡng bách mà thôi thì không thể thực hành về lâu về dài. Phải có một số bản sắc và giá trị được chia sẻ chung, vượt quá những quan hệ địa phương hoặc thân tộc và kết chặt xã hội lại như một tổng thể. Lịch sử mới đây của vùng Balkans, Rwanda, Indonesia và các phần của khối Sô-viết cũ nhắc nhở chúng ta rằng sự thiếu vắng một bản sắc quốc gia bao trùm xã hội có thể là một lực ly tâm đáng sợ. Nhà nước cũng cần một khối công dân được xác định đặc điểm bởi sự đồng nhất luân lý trong chung một đường biên nhất định — một chuỗi các nguyên tắc nòng cốt vượt quá bản sắc quốc gia đơn thuần — nếu nó mong muốn cai trị mà không phải viện tới sự cưỡng bách quá mức và phí tổn quá đắt.
4/ Ðiều chỉnh xã hội và kinh tế. Xã hội hiện đại đầy dẫy những rủi ro do kỹ nghệ, thương mại, đô thị hóa và bất cân đối của quyền lực và thông tin đem lại. Do đó, để bảo vệ nhân dân và môi sinh, nhà nước cần thông qua những luật lệ tác động lên nhiều khía cạnh của đời sống kinh tế và xã hội bao quát từ cân đo đong đếm tới chất lượng của thực phẩm và dược phẩm, các định chuẩn an toàn, và thậm chí quyền và bổn phận của cha mẹ. Chắc chắn sẽ diễn ra bất tận các cuộc tranh luận về ranh giới thích đáng của việc “nhà nước điều chỉnh”, nhưng không ai có thể phủ nhận rằng hết thảy các xã hội hiện đại có qui củ và hợp lý thì đều được điều chỉnh cao độ, dù nó dân chủ hay không.
5/ Duy trì tính nhất quán nội bộ của các định chế nhà nước. Nhà nước hiện đại cần một bộ máy thư lại có hiệu năng, nghĩa là một chuỗi các tổ chức lớn rộng và phức tạp với các cơ quan mà bánh răng cưa của chúng phải ăn khớp nhau. Không thể cho phép các khuynh hướng thư lại nói chung “xem cơ quan ta là nhất” hoặc tham nhũng hoặc sự thiếu năng lực của cá nhân viên chức lên tới điểm xem rẻ tính nhất quán nội bộ của chính guồng máy quản trị của nhà nước.
6/ Tái phân phối tài nguyên. Sự tái phân phối thì liên quan tới sự tái phân cấp các tài nguyên hiếm hoi cho các nhóm xã hội khác nhau. Mục đích của nó là cung cấp cơ hội may mắn tối thiểu với sự an toàn kinh tế cũng như ngăn chặn sự bất ổn chính trị vốn có khuynh hướng làm điêu đứng xã hội nào đang có những chênh lệch lớn lao về của cải và các cơ hội quá ít hoặc hoàn toàn không có để biến đổi xã hội. Một chính sách tái phân phối vừa phải sẽ khiến nhà nước có khả năng duy trì trật tự xã hội và gia tăng tính chính thống của nó.
Khủng hoảng cai trị tại Trung Quốc
Ðo lường bằng sáu tiêu chuẩn kể trên thì nhà-nước-Ðảng Cộng Sản Trung Quốc (ÐCSTQ) là một nhà nước yếu ớt. Nó xâm nhập sâu xa bằng những yêu sách cực độ về quyền lực và tìm cách đi sâu vào mọi xó xỉnh của xã hội, nhưng xâm nhập không có nghĩa là hiệu năng. Thực tế, một nhà nước xâm nhập có thể tồi trong việc lập và thực hiện chính sách và cả trong việc xử lý công tác quản lý thường lệ. Hai thập niên rưỡi cải cách trên căn bản thị trường của một Trung Quốc đang hội nhập thật sâu vào nền kinh tế thế giới và phát đạt chưa từng thấy chỉ làm lộ rõ thêm sự “thâm thủng năng lực” của nhà nước, như một điềm gở. Vì kinh tế và chính trị của Trung Quốc ngày càng phức tạp và thông thoáng hơn bao giờ nên các định chế quản trị và chính trị của xứ sở bị tụt hậu hơn bao giờ. Quả thật có vô số dấu hiệu chỉ rõ rằng Trung Quốc đang lâm vào cuộc khủng hoảng sâu xa và thậm chí quá tải về cai trị tới độ chứa đựng từng tiêu chuẩn và gồm đủ cả sáu tiêu chuẩn kể trên.
Dấu hiệu thứ nhất của khủng hoảng về cai trị là tình trạng vô luật lệ đang đe dọa cao độ tại Trung Quốc. Con số hàng năm các tội ác có báo cáo, tính theo tỉ lệ 10.000 người, bùng nổ từ 5,5 trong năm 1978 tới 28,8 năm 2000. Mức độ tội phạm có bạo lực thậm chí tăng nhanh hơn, đăc biệt trong mấy năm vừa qua. Trên cả nước, các cơ quan thi hành luật pháp không thể đối phó vì thiếu nhân lực, thiếu ngân khoản và thiếu tái trang bị. Lối tiếp cận để ngăn chặn tội ác theo kiểu Mao-ít lấy địa bàn khu phố và thôn xóm, với các ban giám sát hoạt động từng đơn vị, đều không còn hữu hiệu trong một xã hội rộng lớn với số dân di động ngày càng tăng. Với chỉ một viên chức phục vụ cả ngàn dân cư, Trung Quốc là một trong những quốc gia cảnh sát trị thưa thớt nhất thế giới. Tại các địa phương nhất định, các phạm nhân quả thật đông hơn và nhiều súng hơn, đã hạ sát các viên chức; trong năm 2001, 443 viên chức bị giết trong lúc thi hành nhiệm vụ. Một số cơ quan công an địa phương là đối tượng xâm nhập của người phạm pháp, hoặc bị hối hộ, trở thành nơi cung cấp sự bảo vệ (có trả tiền) cho băng đảng đang hoành hành trên đường phố và phạm pháp mà không bị trừng phạt.
Tài chính công cộng của Trung Quốc thì hỗn loạn. Gánh thuế má nói chung vẫn nặng nề, đặc biệt đối với nông dân; thậm chí tại miền trung Trung Quốc, nhiều cơ quan cấp huyện và thị xã không trả nổi tiền lương và tiền hưu bổng đều đặn hoặc ngay cả việc cung ứng các dịch vụ công cộng cơ bản. Trong những năm vừa qua, tổng số tiền thu nhập từ thuế của chính quyền trung ương bình quân rất thấp, 8% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc ít hơn, để lại một Bắc Kinh rõ ràng là không có khả năng thực hiện nhiều chức năng quản lý quan trọng, kể cả việc tài trợ một lực lượng công an hiện đại. Thêm nữa, con số thống kê năm 2000 cho thấy tiền thu thuế chính thức của các cơ quan mọi cấp chỉ bằng khoảng 15% GDP trong khi cái gọi là tiền thu thuế không chính trức thì gia tăng theo hình trôn ốc, và hiện nay, nó có khả năng nhiều gấp hai lần rưỡi tổng số tiền thu thuế chính thức. Không một xứ sở nào trên thế giới này bị xem là có quá nhiều nguồn tài chánh công cộng đi vào các tài khoản ngoại ngân sách như thế. Ðược thu nhân danh nhà nước nhưng chỉ bị kiểm soát qua loa so với tiền thu thuế chính thức; tiền thu thuế không chính thức cung cấp dồi dào cơ hội cho việc hối lộ và làm hư hoại viên chức.
Tại Trung Quốc, bản sắc quốc gia không phải là chủ đề được giải quyết một cách đầy đủ nhưng nó đặt ra sự đe dọa lớn lao cho sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Chỉ ở vùng Tây Tạng và Tân Cương là yêu cầu ly khai có được sự ủng hộ của dân chúng tới một mức giới hạn nào đó. Ðiều nguy hiểm hơn cả là sự trống rỗng tâm linh của một xứ sở có 1,3 tỉ linh hồn. Sau ngày thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc (CHNDTQ) năm 1949, chủ nghĩa Mao cố ý tỏ ra là mình đưa ra một mục đích có ý nghĩa cho cuộc sống. Dù không biết nó có từng thật sự làm như thế hay không, nhưng ngày nay, rõ ràng là sự gia tăng của thương mại và thị trường đã thu nhỏ chủ nghĩa Mao tới mức còn bé hơn cái vỏ ốc của chính nó ngày trước. Khi các chênh lệch xã hội rộng thêm, tham nhũng và bất an tăng cao trong thời kỳ đổi thay chóng mặt, hàng triệu người Trung Quốc thấy thế giới chung quanh mình tàn bạo, bất thân thiện và trống rỗng ý nghĩa. Nhiều người trở nên hoài nghi yếm thế. Những người khác khao khát một dây neo tâm linh, ao ước cái có vẻ như “những ngày tốt lành” thời Mao hoặc lũ lượt kéo nhau tới với các tôn giáo được thành lập chính thức như Thiên Chúa giáo và Phật giáo hoặc các giáo phái mới, thí dụ Pháp Luân Công mà đã bị chính thức cấm.
Sự mỏng manh của nhà nước Trung Quốc c