Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
ĐH đẳng cấp quốc tế: triệu đôla chưa phải "quá nhiều" |
06:20' 23/01/2006 (GMT+7)
http://www.vietnamnet.vn/dhqt/2006/01/535002
|
Đối Thoại: Ước mong VietNamNet phổ biến bản Anh ngữ cuả bài phỏng vấn Ông Thomas Vallely. |
(VietNamNet) - Sau quyết định của Thủ tướng Chính phủ (trong phiên họp Hội đồng quốc gia Giáo dục) thành lập tổ công tác để lập dự án xây dựng ĐH đẳng cấp quốc tế tại Việt Nam, VietNamNet đã có cuộc trò chuyện với ông Thomas Vallely, Giám đốc Chương trình VN tại trường Quản lý Nhà nước Kennedy, thuộc Trường ĐH Harvard, người đã gửi đề án xây dựng ĐH hàng đầu cho Chính phủ Việt Nam tháng 7.2005. Đúng với bản tính thẳng thắn vốn có, ông Vallely đã đưa ra nhiều đề nghị mạnh mẽ với tinh thần xây dựng.
|
|
||
|
|
- Thưa ông, mới đây chính phủ VN tuyên bố việc thành lập tổ công tác để nghiên cứu cách thức xây dựng một trường ĐH đẳng cấp cao ở Việt Nam và cử Ông Trần Xuân Giá, trưởng Ban nghiên cứu của Thủ tướng, làm tổ trưởng. Ông có suy nghĩ gì về tin mới này?
Thomas J. Vallely: - Tôi rất vui khi thấy chính phủ VN quyết định tiến thêm một bước nữa trong việc xây dựng một trường ĐH đẳng cấp cao. Tôi đã từng có cơ hội được làm việc với Ông Giá và rất kính trọng Ông. Qua những trao đổi với Ông Giá từ trước đến nay, tôi hiểu Ông đánh giá rất cao tầm quan trọng đặc biệt của giáo dục ĐH đối với sự phát triển trong tương lai của VN.
Xây dựng một trường ĐH mới là một nhiệm vụ và thách thức vô cùng lớn. Chúng ta không thể theo một hình mẫu đã có sẵn, cần nghiên cứu và thảo luận rất nhiều mới có thể đưa ra quyết định cuối cùng: những ngành học nào cần được ưu tiên, bậc học nào (ĐH hay sau ĐH) được tiến hành trước (trong giai đoạn đầu của dự án), và thậm chí cả địa điểm đặt trường. Tuy nhiên, tôi cũng muốn chỉ ra rằng một số vấn đề không nhất thiết đòi hỏi phải nghiên cứu nhiều vì chúng ta có thể học hỏi trực tiếp từ những kinh nghiệm đã được xác lập và chấp nhận rộng rãi trên thế giới.
Khác bối cảnh văn hóa chính trị, cùng nguyên tắc quản trị đại học
Trường ĐH đẳng cấp cao cần một hệ thống quản trị khác với các trường ĐH hiện nay của VN. Thành công trong khoa học tự nhiên cũng như trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn đều cần có một số yếu tố nhất định, trong đó có tính tự chủ và độc lập về tri thức, chế độ trọng dụng nhân tài, tính ổn định về tài chính, cộng với trách nhiệm giải trình. Bản “Đề cương thảo luận” của ĐH Harvard có xem xét những nguyên tắc cơ bản về quản trị ĐH. Khi viết đề cương này chúng tôi đã tham khảo và chịu ảnh hưởng của Giáo dục ĐH ở các nước đang phát triển: Hiểm nguy và Triển vọng, công trình nghiên cứu quan trọng do Ngân hàng Thế giới và UNESCO cùng phối hợp thực hiện và do Giáo sư Maphela Ramphele của Trường ĐH Cape Town (Nam Phi) và Giáo sư Henry Rosovsky của ĐH Harvard đứng đầu. (Giáo sư Rosovsky cũng là người chủ tọa cuộc thuyết trình với Thủ tướng Phan Văn Khải vào tháng 6/2005 tại ĐH Harvard). Nghiên cứu này đưa đến kết luận rằng mặc dù tài lực và nhân lực là điều kiện tiên quyết, quản trị - hay nói một cách khác là cách tổ chức và quản lý một tổ chức, mới là yếu tố quyết định sự thất bại hay thành công của một trường ĐH.
Các nguyên tắc quản trị trong bản nghiên cứu này cũng là những nguyên tắc VN cần tuân theo để tổ chức một trường ĐH đẳng cấp cao. VN có thể không thực hiện dự án đã nêu trong bản “Đề cương thảo luận”. Tuy nhiên, những nguyên tắc quản trị nêu trên không thể bị thỏa hiệp. Cho dù có lựa chọn sự hỗ trợ của các trường ĐH Mỹ hay không thì VN cũng sẽ không thể có các trường ĐH tốt nếu không cải tiến cơ chế quản trị ở cả cấp độ trường ĐH lẫn toàn hệ thống giáo dục ĐH.
- Nhiều người sẽ tranh luận rằng, trường ĐH VN phải phù hợp với hoàn cảnh VN?
Thomas J. Vallely: - Đúng là ĐH ở đâu thì phản ánh những bối cảnh văn hoá, kinh tế và chính trị của nước đó. Tuy nhiên, những trường ĐH hàng đầu ở những nơi có bối cảnh văn hoá chính trị khác nhau, trong đó có Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Đông và Tây Âu, Bắc và Nam Mỹ, đều có những đặc điểm quản trị tương tự nhau. VN chắc chắn cũng sẽ không là ngoại lệ. Chẳng hạn, không thể có trường ĐH đẳng cấp cao mà không trọng dụng nhân tài, không có quyền tự chủ đối với các vấn đề quản lý và học thuật.
Tổ công tác: Đừng là những "tướng không quân"
- Ông có nhận xét gì về tổ công tác mà Chính phủ VN mới quyết định thành lập?
Thomas J. Vallely: - Tôi cho rằng để tổ công tác hoạt động có hiệu quả, họ phải được quyền quyết định. Điều này đòi hỏi người đứng đầu nhóm phải đưa ra được quyết định, ngay cả khi toàn bộ nhóm chưa nhất trí về một vấn đề cụ thể nào đó. Từ kinh nghiệm làm việc với những tổ công tác tương tự ở VN và Mỹ, tôi cho rằng tổ cần một sự hỗ trợ mang tính tổ chức. Cụ thể là cần có những nhân viên toàn thời gian cùng làm việc với những thành viên của tổ công tác để biến những ý tưởng của tổ thành những hành động cụ thể. Mặc dù một “bộ tư lệnh” rất quan trọng nhưng cũng cần phải có những “người lính”, nếu không các vị tư lệnh sẽ chỉ là những “tướng không quân”.
- Vậy theo ông, đâu là bước quan trọng tiếp theo mà VN nên làm cho dự án này?
Thomas J. Vallely: - Đó là phải huy động một nguồn tài trợ cho hoạt động của tổ công tác của VN và đối tác của họ ở phía nước ngoài. Tôi cho rằng giai đoạn lập kế hoạch cần khoảng vài triệu đô-la. Nếu kế hoạch được chính phủ VN phê chuẩn thì sẽ cần tới một khoản đầu tư lớn để thành lập trường ĐH. Trước đây tôi ước tính con số này vào khoảng 100 triệu đô-la, nhưng nay nghĩ lại thì thấy có lẽ chưa chín muồi để đưa ra bất kỳ một con số cụ thể nào. Kinh nghiệm quốc tế chỉ ra rằng một khoản đầu tư khoảng vài trăm triệu đô-la không phải là không hiện thực. Chẳng hạn như chi phí thành lập Trường ĐH Quốc tế Bremen (Đức) là 300 triệu đô-la. Cần có những dự toán chi tiết ngay trong giai đoạn lập kế hoạch.
Chỉ với giá một chiếc Boeing 777, VN đã có thể bắt đầu xây dựng trường ĐH mới
- Xin lỗi phải cắt lời ông, thưa ông Vallely, tôi cho rằng nhiều người VN sẽ nghi ngờ câu nói của ông, rằng tiền không phải là vấn đề. Cho dù VN có tăng trưởng kinh tế, chúng tôi vẫn còn rất nghèo, và số tiền triệu đô-la là rất lớn?
Thomas J. Vallely: - Đúng là nguồn tài chính thì có giới hạn, và có nhiều lĩnh vực cần đầu tư. Tuy nhiên, tôi cho rằng hiện nay không có đầu tư nào quan trọng hơn đầu tư cho giáo dục ở VN. Tôi cũng để ý rằng, so với con số đầu tư công ở VN, tổng số tiền cần để xây trường ĐH đẳng cấp cao là không quá lớn. Tại hội nghị bàn tròn về giáo dục ĐH với Thủ tướng Phan Văn Khải vào tháng 6/2005 tại ĐH Harvard, một người đã nói rằng chỉ với giá một chiếc Boeing 777, VN đã có thể bắt đầu xây dựng trường ĐH mới. Gần đây tôi đọc báo thấy rằng VN đang định dành riêng 2 tỉ đô la trong ngân sách cho một chương trình viễn thám. Trong tiếng Anh chúng tôi thường nói như thế là “sinh con rồi mới sinh cha.” Rõ ràng, phải có trường ĐH cao cấp trước thì mới có chương trình vũ trụ được.
Hay là ví dụ về $750 triệu đô-la tiền bán trái phiếu đã được chuyển cho công ty Vinashin (Tổng Công ty Hàng hải). Nếu như thông tin tôi biết là chính xác, thì những khâu đóng tàu có giá trị cao, ví dụ như khâu thiết kế và kỹ thuật, sẽ do các chuyên gia làm ở nước ngoài, bởi vì VN không có năng lực này. Lại một lần nữa chúng ta thấy cần có trường ĐH tốt.
Trong vài năm trở lại đây, VN đã có những khoản đầu tư hết sức tốn kém cho cơ sở hạ tầng, bao gồm Đường Hồ Chí Minh và nhà máy lọc dầu Dung Quất. Một số dự án lớn khác đang ở trong giai đoạn xem xét một cách nghiêm túc là hệ thống tàu điện ngầm ở TP. Hồ Chí Minh, một số nhà máy lọc dầu khác, và một sân bay cực lớn ở Đồng Nai. Tạm thời chưa nói tới tính hiệu quả của những dự án này, tôi tin rằng hầu hết mọi người đều sẽ đồng ý rằng ít nhất thì trường ĐH đẳng cấp cao cũng có tầm quan trọng tương đương với những dự án ở trên, chưa kể là nó ít tốn kém hơn nhiều.
Thêm nữa, chúng ta cũng không thể bỏ qua thực tế rằng VN đã chi nhiều cho giáo dục ĐH trong vòng hai mươi năm qua, nhưng chất lượng giáo dục vẫn tiếp tục đi xuống. Đây chính là lý do khiến tôi cho rằng quản trị chứ không phải tiền là vấn đề cơ bản.
Cụ thể hơn nữa, hiện giờ có viện trợ quốc tế dành cho các trường ĐH. Để có thể thành công, VN nên điều chỉnh khoản vay trong khuôn khổ của Dự án Giáo dục ĐH II (HEP II) hiện đang trong giai đoạn đầu đàm phán với Ngân hàng Thế giới.
Tiền không phải lúc nào cũng như nhau
- Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa mới công bố kế hoạch ban đầu cho việc phân bổ khoản tiền vay này. Tại sao ông lại cho rằng việc VN dành riêng một phần đáng kể của khoản vay này cho dự án trường ĐH đẳng cấp cao lại quan trọng đến như vậy?
Thomas J. Vallely: - Tôi tin rằng nếu VN muốn xây dựng một trường ĐH hàng đầu, một phần lớn của khoản vay này nên dùng để đầu tư vào dự án. Có hai lý do khiến tôi có quan điểm này. Thứ nhất là về khả năng thực hiện dự án. Việc VN sử dụng một phần của khoan vay HEP II sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia của những trường ĐH hàng đầu của Mỹ, vốn ít khi tham gia vào những dự án quốc tế như thế này. Nếu như những trường này có thể được tài trợ qua Ngân hàng Thế giới thì họ có thể tham gia dễ dàng hơn. Trong tiếng Anh chúng tôi có câu nói, “tiền không phải lúc nào cũng như nhau.”
Thứ nhì, đây còn là vấn đề uy tín. Nếu như VN dành toàn bộ số tiền vay được từ Ngân hàng Thế giới cho các trường ĐH hiện tại thì cộng đồng quốc tế, và quan trọng hơn, người dân VN có thể sẽ không thấy được sự nghiêm túc thực sự trong những nỗ lực của chính phủ nhằm cải thiện hệ thống giáo dục ĐH.
Tôi muốn nói rõ thêm để tránh bất kỳ một sự hiểu nhầm không cần thiết nào. Tôi rất hiểu rằng các trường ĐH của VN hiện chưa được đầu tư thỏa đáng và thực sự cần được đầu tư thêm. Nhưng nếu bản thân những trường này không có những cải cách đáng kể thì khó có thể tin rằng việc rót thêm tiền sẽ giúp đạt được những mục tiêu mong muốn.
Rất cần một đối tác chuyên tâm hỗ trợ
- Nhiều người VN bây giờ đã hiểu, rằng để hợp tác với những trường ĐH hàng đầu của Mỹ không hề dễ dàng. Theo ông, trong các trường của Mỹ thì có thể thuyết phục được trường nào tham gia vào dự án này?
Thomas J. Vallely: - Trường ĐH Duke, một trong năm trường ĐH nghiên cứu tốt nhất ở Mỹ là một trong những đối tác tiềm năng. ĐH Duke có những trường chuyên nghiệp hàng đầu về y, luật, kỹ thuật và quản lý. Các khoa khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, và nhân văn đều được đánh giá rất cao. ĐH Duke có chiến lược quốc tế nhưng chưa xác định tập trung vào một nước nào. Thực ra, hầu hết các trường ĐH cao cấp đều không muốn mở rộng ra nước ngoài, bởi chính các trường này cũng đã rất đa dạng - cả thế giới tìm đến với họ. Nhưng ĐH Duke đã lựa chọn một chiến lược khác để mở rộng, không phải vì lòng tốt, mà để nâng cao chính họ. ĐH Duke sẽ là một đối tác tuyệt vời nếu họ đồng ý chấp nhận vai trò này.
- Vâng, ĐH Duke quả thật là một trường rất tốt. Nhưng ông có nghĩ rằng một số trường khác, ví dụ như ĐH Harvard, sẽ tham gia không?
Thomas J. Vallely: - ĐH Harvard sẽ tham gia vào dự án này. Nhưng ĐH Harvard không tham gia vào việc xây dựng các trường học nước ngoài như cách đây hơn một trăm năm. Như tôi đã nói ở trên, chiến lược của ĐH Duke trong việc mở rộng này khá là khác biệt so với các trường ĐH Hoa Kỳ khác. Tôi nghĩ rằng trong tương lai một số trường khác của Mỹ cũng sẽ tham gia. Nhưng để thành công, giai đoạn chuẩn bị là quan trọng nhất. Do đó một đối tác duy nhất chuyên tâm hỗ trợ sẽ tốt hơn là một nhóm các trường. Ý tưởng một nhóm các trường tuy hay, nhưng trong thực tế để đi tới quyết định rất vất vả. Người VN cũng thường nói “cha chung không ai khóc” đấy thôi.
Tư tưởng Mác - Lênin được nghiên cứu ở tất cả các trường ĐH hàng đầu thế giới
- Khi bàn về dự án trường ĐH đẳng cấp cao, một số người ở VN có nêu lên vấn đề về yêu cầu bắt buộc phải giảng một số môn như chủ nghĩa Mác – Lênin …
Thomas J. Vallely: - Một trường ĐH, dù hàng đầu thì vẫn là một trường ĐH của VN và phải tuân thủ những quy định chung của VN. Hơn nữa, tôi không cho rằng những trường ĐH nước ngoài quan ngại về vấn đề này. Cuối cùng, tư tưởng của Mác và Lê-nin được nghiên cứu ở tất cả các trường ĐH hàng đầu của thế giới, trong đó có ĐH Harvard.
- Khi ông nói về quyền tự chủ của các trường ĐH, nhiều người sẽ hiểu ý ông là trong tương lai Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ không có vai trò gì trong dự án này?
Thomas J. Vallely: - Theo tôi, trong hệ thống giáo dục ĐH của VN hiện nay, Bộ GD-ĐT có rất nhiều quyền lực đối với các vấn đề giáo án và nhân sự. Việc này hoàn toàn không giúp gì cho sự tiên tiến trong học đường. Tôi không biết một quốc gia nào khác trên thế giới mà Chính phủ lại quyết định thay cho các trường nhiều như vậy. Tất nhiên, kể cả ở các quốc gia có hệ thống ĐH tuyệt vời thì các mô hình quản trị cũng khác nhau. Hoa Kỳ có lẽ là quốc gia duy nhất mà độ phân cấp cao tới như vậy (người ta thường nói rằng Bộ Giáo dục Hoa Kỳ không làm gì khác ngoài việc rót tiền của Chính phủ Liên bang, thực ra nói như vậy cũng không phải là sai). Tất nhiên ở Pháp hay Nhật Bản chính phủ kiểm soát nhiều hơn, nhưng cũng có khuynh hướng phân cấp. Trường ĐH ở các nước này được hưởng quyền tự chủ hơn nhiều so với các trường ĐH VN.
Tôi xin được bình luận rằng, cần phải thay đổi vai trò của nhà nước trong giáo dục ĐH. Nói như vậy không có nghĩa là nhà nước không có vai trò gì. Trái lại, nhà nước cần chủ động tạo điều kiện cho một “hệ sinh thái” giáo dục ĐH lành mạnh bao gồm các trường ĐH nghiên cứu, ĐH khu vực, trung tâm đào tạo dạy nghề, và các trường chuyên nghiệp. Chính phủ nên đảm bảo chất lượng giáo dục, và phải đảm bảo rằng mọi người dân đều có cơ hội đi học như nhau. Một đồng nghiệp của tôi tại Trường Fulbright, nhà kinh tế học người Thuỵ Điển Ari Kokko thường nói rằng một trong những phương pháp bảo hộ quan trọng nhất mà các nước giàu dành cho cho nền kinh tế của họ là hỗ trợ cho giáo dục ĐH và khoa học.
Quay trở lại vấn đề quản trị, gần đây cơ cấu quản trị kiểu như các trường ĐH ở Mỹ ngày càng được áp dụng nhiều hơn ở các nước khác. Kể cả những trường ĐH hàng đầu của Trung Quốc – ví dụ như Trường ĐH Bắc Kinh hay Trường ĐH Thanh Hoa ở Bắc Kinh, hay Trường ĐH Phúc Đán ở Thượng Hải đều đang cố gắng làm theo cơ cấu quản trị của các trường ĐH hàng đầu thế giới. Từ khi các trường ĐH Trung Quốc tích cực bắt đầu cải cách, họ đã đạt được nhiều thành công đáng kể và đang được xếp hạng cao trên thế giới.
Với một trường ĐH đỉnh cao, việc cải cách các trường khác sẽ dễ hơn.
Vấn đề mấu chốt ở đây là nếu VN muốn lặp lại những câu chuyện thành công của Trung Quốc và Mỹ, VN cần phải xây dựng một trường ĐH hàng đầu theo chất lượng quốc tế. Chúng ta đều biết rằng, để cải thiện nền giáo dục ĐH của VN thì việc thành lập một trường đỉnh cao thôi là chưa đủ, mà còn phải củng cố các trường ĐH vùng nữa. Nhưng sẽ là sai lầm nếu chúng ta xem xét hai vấn đề này một cách biệt lập.
Với một trường ĐH “đỉnh cao”, việc cải cách các trường khác sẽ dễ dàng hơn. ĐH Thanh Hoa ở Bắc Kinh có tác động tích cực rất lớn đối với chất lượng giáo dục của các ĐH khác. ĐH Thanh Hoa có các trung tâm nghiên cứu dành cho các giáo sư giỏi, và là mô hình cho những trường khác học tập. Hay như hệ thống ĐH của Thái Lan được công nhận một cách rộng rãi là ưu việt hơn của VN. Một số người am hiểu về hệ thống giáo dục ĐH của Thái Lan nói với tôi rằng, các trường ĐH vùng của Thái Lan trong những năm trở lại đây đã có nhiều cải thiện đáng kể. Một nhân tố đóng vai trò quan trọng trong sự cải thiện này là do nhiều nghiên cứu sinh sau khi tốt nghiệp ở những trường ĐH hàng đầu ở Bangkok như ĐH Chulalongkorn và ĐH Thamasat đã trở thành những giảng viên trẻ ở những trường ĐH vùng.
Ở đây có một bài học quan trọng cho VN. Xuất phát từ thực tế là chỉ có một số ít giảng viên VN được đào tạo ở nước ngoài, còn phần đông giảng viên của các trường ĐH vùng sẽ được đào tạo ở trong nước. Vì vậy, một trường ĐH đẳng cấp cao của VN sẽ đóng vai trò như một bộ phận then chốt trong nỗ lực cải thiện toàn bộ hệ thống ĐH.
Hơn nữa, nền kinh tế và xã hội VN (bao gồm cả các cơ quan nhà nước) sẽ có nhu cầu sử dụng sinh viên tốt nghiệp từ những trường ĐH hàng đầu (tham khảo bài “Nhu cầu về tri thức” của ông Thomas Vallely). Tôi muốn nhấn mạnh, rằng những mục tiêu cải cách giáo dục ĐH cần phải nằm trong khuôn khổ chương trình nghị sự đổi mới của VN. Nếu kinh tế VN, nhất là kinh tế tư nhân - (theo kinh nghiệm phát triển của các nước khác) không phát triển và tạo ra cơ hội việc làm mà người ta có thể sử dụng kiến thức một cách hiệu quả, xây trường ĐH cũng không cải thiện điều gì. Như tôi đã nói trong bài viết nhắc tới ở trên, việc này cần có những chính sách thoả đáng và các nhà lãnh đạo được đào tạo bài bản. Ví dụ như ĐH Harvard của tôi có kế hoạch hợp tác với Trường Kinh tế Stockholm để làm việc trong lĩnh vực chính sách công ở VN. Chúng tôi làm việc với Chính phủ VN để tăng cường năng lực dự thảo và thực hiện chính sách, tránh những yếu kém về chính sách mà nhiều người đã phê bình.
Kỳ sau: Với tốc độ tạo ra tri thức trên thế giới hiện nay, nếu lưỡng lự Việt Nam có thể sẽ thấy mình bị cô lập... Những suy nghĩ của ông Thomas Vallely về Giáo dục Việt Nam sau gần 20 năm gắn bó.
Bạn có bình luận gì về những ý kiến của ông Thomas Vallely xung quanh dự án ĐH đẳng cấp quốc tế