Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
http://www.vneconomy.com.vn/vie/index.php?param=article&catid=01&id=ea648645eae3d9
VNECONOMY cập nhật: 26/01/2006
|
|
|
"Thông thường công việc càng khó khăn thì càng đòi hỏi trình độ chuyên nghiệp cao. Làm đại biểu Quốc hội là một trong những công việc như vậy." |
Nhân kỷ niệm 60 năm Quốc hội, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã có bài phát biểu trong hội nghị khoa học về Quốc hội Việt Nam. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
"60 năm đã trôi qua kể từ khi cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của đất nước ta được tổ chức thành công ngày 6 tháng 1 năm 1946. Có biết bao nhiêu cố gắng và thành quả đã đạt được trong 60 năm ấy!
Từ ngày đổi mới, Quốc hội ta hoạt động ngày càng thực quyền hơn, do đó ngày càng có hiệu quả: các quyết sách của đất nước được xem xét, cân nhắc kỹ càng hơn, khách quan hơn; chế độ trách nhiệm được xác lập rõ ràng hơn.
Đối với một nền quản trị quốc gia hiện đại, chế độ trách nhiệm là đòi hỏi quan trọng hàng đầu. Bằng việc tăng cường hoạt động giám sát, đặc biệt là hoạt động chất vấn, Quốc hội đang làm rõ được nhiều nội dung quan trọng liên quan đến chế độ trách nhiệm nói trên: thứ nhất, xem xét các quan chức đang được giao quyền đã thực thi quyền lực của mình như thế nào; thứ hai, đánh giá xem họ được tín nhiệm đến đâu.
Trong bất cứ trường hợp nào, mấy điều chúng ta cần phải khẳng định:
Một là, nếu thiếu một sự giám sát có hiệu quả của Quốc hội, sẽ rất khó có thể xác lập được chế độ trách nhiệm đối với các vấn đề ở tầm chính sách.
Hai là, hoạt động lập pháp được tăng cường cũng là một thành tựu cần được ghi nhận. Thời gian qua, một số lượng rất lớn các văn bản pháp luật cần thiết cho việc xây dựng kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đã được Quốc hội thông qua. Tuy nhiên, sự đổi mới được thể hiện không chỉ về mặt số lượng, mà còn cả về mặt chất lượng. Chất lượng này được bảo đảm một phần là nhờ vào việc lắng nghe và tiếp thu ý kiến của nhân dân trong quá trình làm luật.
Ba là, dân chủ được tăng cường. Nếu trước đây, các đại biểu Quốc hội chỉ đọc tham luận là chính (và các tham luận thường được xem xét trước), thì ngày nay các đại biểu đã tranh luận thật sự và thẳng thắn ở nghị trường. Điều đó làm cho đời sống nghị trường sống động hơn.Việc truyền hình trực tiếp, bình luận, đưa tin của báo chí về các hoạt động của Quốc hội cũng đóng góp không nhỏ vào tiến trình dân chủ nói trên.
Khi nói rằng, những thành tựu đạt được là to lớn thì cũng không được quên rằng, những thách thức trong giai đoạn mới cũng to lớn không kém.
Thách thức thứ nhất là khả năng đại diện cho nhân dân. Với cơ chế thị trường và nền kinh tế nhiều thành phần đang từng bước được củng cố và mở rộng, nhiều thay đổi to lớn đã diễn ra trong đời sống của xã hội ta. Các thay đổi này bắt buộc phải được phản ánh về mặt chính trị. Quốc hội đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong việc phản ánh này.
Tuy nhiên, theo Luật tổ chức Quốc hội, Quốc hội nước ta chỉ có 3 chức năng là: chức năng lập pháp; chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; chức năng giám sát, mà không có chức năng đại diện. Thông thường, đã là một cơ quan do nhân dân bầu ra thì chức năng đầu tiên phải là chức năng đại diện. Đây cũng là chức năng đầu tiên và quan trọng nhất của nghị viện ở hầu hết tất cả các nước trên thế giới. Bản chất dân chủ của chế độ thể hiện trước hết ở chức năng này.
Trên khía cạnh này, đang có hai vấn đề:
Một là, cơ cấu, thành phần của các vị đại biểu Quốc hội hoàn toàn không phản ánh cơ cấu thành phần của các giai tầng xã hội. Nếu thế thì làm sao Quốc hội có thể đương nhiên có tính đại diện được? Tất nhiên, một sự phản ánh máy móc tương quan của hai cơ cấu đó chưa hẳn đã là hợp lý. Ví dụ, nước ta có đến 75% dân số là nông dân, thế nhưng đòi hỏi phải có 75% các đại biểu Quốc hội là nông dân thì chắc là không nên.
Hai là, sự tiếp xúc và tham vấn, tức các hoạt động cụ thể của chức năng đại diện.
Trên thực tế, nếu chức năng đại diện không vận hành thì các chức năng lập pháp, quyết định và giám sát cũng có thể vận hành sai, vì ý chí và lợi ích của nhân dân sẽ khó có thể được phản ánh đúng đắn trong các quyết sách của Quốc hội. Ví dụ, Luật đất đai đã được ban hành và được sửa đổi nhiều lần, vậy mà những khiếu kiện về đất đai vẫn không hề giảm. Điều đó chứng tỏ những quan tâm và mắc mớ của những người dân đã không được xử lý thoả đáng trong quá trình làm luật.
Mặc dù, xuân thu nhị kỳ trước và sau các kỳ họp, các vị đại biểu của nước ta đều tiếp xúc cử tri nhưng các cuộc tiếp xúc cử tri này đang bị dư luận xã hội coi là hình thức. Trong nhiều trường hợp, tham dự các cuộc tiếp xúc như vậy chủ yếu chỉ là các đại cử tri (các cử tri là cán bộ cơ sở và cử tri được mời). Như vậy thì các vị đại biểu chỉ nghe được ý kiến của cán bộ là chính chứ không hẳn là ý kiến của nhân dân.
Trong lúc đó, tự nguyện và tự quản lại là một số trong những nguyên tắc quan trọng nhất của việc tổ chức đời sống xã hội ở cấp cơ sở. Đa số cử tri ít ai nhớ được tên đại biểu của mình, và ít ai biết được cách tiếp xúc với đại biểu của mình để đề đạt tâm tư, nguyện vọng và yêu cầu giúp đỡ.
Để thực hiện tốt chức năng đại diện, đòi hỏi các vị đại biểu Quốc hội phải có động lực để đại diện, có trình độ để đại diện và có năng lực để đại diện. Ba yêu cầu đó đều đang có vấn đề.
Trong chế độ "Đảng cử, dân bầu", thì "Đảng cử" mới là yếu tố có ý nghĩa quyết định. Như vậy, tận tụy với Đảng bao giờ cũng là động lực áp đảo. Hậu quả tiếp theo là chế độ trách nhiệm trước dân rất khó được xác lập.
Ngoài ra, lợi ích như một yếu tố tạo ra động lực cũng không xác lập được. Chúng ta đã cố gắng nâng lương cho các vị đại biểu chuyên trách, nhưng cách làm này vẫn không giải quyết được vấn đề, vì trong hệ thống của chúng ta, lương và thu nhập là hai chuyện khác nhau. Các chức vụ điều hành thường có thu nhập cao hơn lương rất nhiều lần. Các chức vụ dân cử khó lòng có được một thu nhập như vậy. Thu hút được nhiều người giỏi về Quốc hội là điều không dễ.
Chế độ "Đảng cử, dân bầu" còn dẫn đến tình trạng "Đảng cử" những thành viên của mình vào Quốc hội quá nhiều. Hiện nay, tỷ lệ đảng viên ở trong Quốc hội chiếm đến trên dưới 90% (447/498). Trong lúc đó, các đảng viên chỉ chiếm khoảng 5-6% trong tổng số cử tri trong cả nước.
Vừa qua chúng ta đã cố gắng nâng tỷ lệ các vị đại biểu ngoài đảng ở trong Quốc hội, nhưng tỷ lệ này vẫn có xu thế ngày càng giảm. Số đại biểu Quốc hội là người ngoài đảng chiếm một tỷ lệ bao nhiêu là hợp lý? Con số này, cần được tính toán cụ thể cho từng thời kỳ. Tuy nhiên, một đảng cầm quyền chỉ cần có được một đa số trên 50% số ghế ở trong Quốc hội là đủ.
Ngoài ra, không cần để quá nhiều cán bộ cao cấp của Đảng tham gia Quốc hội. Ví dụ, khoá này, chỉ có một uỷ viên Bộ Chính trị không phải là đại biểu Quốc hội. Đa số các đồng chí uỷ viên Bộ Chính trị đang phải bỏ ra 1/3 thời gian cho các hoạt động của Quốc hội. Trong khi công việc của Bộ Chính trị không ai thay thế được các đồng chí đó, thì việc ở Quốc hội có nhiều người có thể đảm đương, kể cả người ngoài Đảng.
Hơn nữa, nếu các đồng chí này tham gia phát biểu thì các ý kiến đó rất dễ bị coi là ý kiến chỉ đạo. Mà như vậy thì rất khó cho việc thảo luận, một cách dân chủ, cởi mở. Còn nếu các đồng chí đó chỉ ngồi nghe thì đúng là rất lãng phí thời gian.
Điều tương tự cũng có thể nói về các đồng chí vừa là uỷ viên Trung ương, vừa là bí thư tỉnh uỷ, vừa là đại biểu Quốc hội. Những đồng chí như vậy thì họp hành quanh năm ngày tháng chẳng còn thời gian để làm công việc chính của mình. Thứ nữa là chủ tịch UBND tỉnh, thành viên của HĐND và cơ cấu luôn là đại biểu Quốc hội cũng rơi vào tình trạng tương tự. Họ khó có thể tập trung làm tốt được bất kỳ một việc gì kể cả việc của Quốc hội. Điều này giải thích tại sao không ít các phiên họp của Quốc hội lại vắng nhiều đại biểu đến thế.
Một tỷ lệ lớn các vị đại biểu Quốc hội kiêm chức vụ hành chính còn dẫn đến tình trạng xung đột lợi ích. Phần nhiều các vị đại biểu này là cấp dưới của Thủ tướng, Phó thủ tướng, các bộ trưởng. Đã là cấp dưới thì giám sát hay phê phán cấp trên là điều phải đắn đo.
Muốn vượt qua sự xung đột lợi ích này, cần có một Quốc hội chuyên nghiệp: trừ các chức danh thuộc hành pháp chính trị như Thủ tướng, Phó thủ tướng và một số bộ trưởng, còn phần lớn đại biểu không nên làm các quan chức hành chính nữa.
Chúng ta đã nói nhiều về sự xung đột giữa chất lượng đại biểu và cơ cấu đại biểu. Thế nhưng, câu trả lời vẫn chưa tìm được. Có lẽ, phải mở rộng hơn nữa khả năng tranh cử để có thể lựa chọn được những người tài cho cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.
Muốn vận hành chức năng đại diện, các đại biểu phải giữ quan hệ thường xuyên với những cử tri đã bầu ra mình. Các đơn vị bầu cử phải tồn tại song song với các đơn vị chính trị của đất nước, chứ không chỉ xuất hiện trong thời gian bầu cử rồi sau đó biến mất. Một đất nước chỉ có các đơn vị hành chính mà không có các đơn vị chính trị thì dân chủ sẽ rất khó phát huy, và đời sống chính trị cũng khó có thể năng động được.
Thách thức thứ hai là tính chất chồng chéo của các mối quan hệ đại diện ở trong Quốc hội. Nước ta là một trong rất ít nước chia Quốc hội ra thành các đoàn đại biểu theo đơn vị tỉnh/thành. Việc chia Quốc hội ra thành các đoàn đại biểu Quốc hội và việc mỗi tỉnh lại còn có 1 đại biểu chuyên trách đang biến Quốc hội nước ta thành một cơ quan đại diện song trùng: vừa đại diện cho cử tri cả nước, vừa đại diện cho các đơn vị hành chính tỉnh.
Cách tổ chức này có hai rủi ro:
Một là, khi có xung đột lợi ích giữa trung ương và địa phương thì địa phương thường giành phần thắng ở Quốc hội (nếu như kỷ luật Đảng không áp đặt được). Việc các địa phương đã giành được quyền có đại biểu chuyên trách của mình trong tổng số 25% đại biểu chuyên trách của cả Quốc hội cho thấy rất rõ xu thế nói trên.
Hai là, xảy ra xung đột lợi ích khi đại biểu chuyên trách của tỉnh muốn giám sát (chất vấn) các bộ trưởng. Các tỉnh sẽ không cho phép đại biểu của mình làm hỏng quan hệ tốt đẹp của tỉnh với các bộ trưởng vì các dự án của tỉnh có thể bị ảnh hưởng. Việc một số đại biểu chuyên trách của địa phương đã được nhắc nhở vừa qua cho thấy rất rõ hiện tượng này.
Thách thức thứ ba là tính chuyên nghiệp của Quốc hội. Thực ra, một đất nước với 82 triệu dân hoàn toàn xứng đáng có được một Quốc hội chuyên nghiệp. Thông thường công việc càng khó khăn thì càng đòi hỏi trình độ chuyên nghiệp cao. Làm đại biểu Quốc hội là một trong những công việc như vậy. Thế nhưng, đa số các vị đại biểu (trên 75%) hoạt động theo chế độ nghiệp dư. Nghiệp dư thì rất khó thạo việc.
Muốn có một Quốc hội chuyên nghiệp phải có các vị đại biểu chuyên nghiệp. Chỉ hoạt động chuyên nghiệp thì các đại biểu mới có đủ thời gian để thực hiện chức năng đại diện.
Theo xu hướng chuyên nghiệp hoá, sắp tới số lượng các vị đại biểu chuyên trách cần phải được tăng cường. Ít nhất tất cả các thành viên của các ủy ban đều phải hoạt động theo chế độ chuyên trách.
Để đạt được sự chuyên môn hóa sâu như vậy, có một vấn đề là bộ máy của các ủy ban tại Quốc hội. Bên Chính phủ, một bộ, hoặc bên Đảng, một ban thường có một đội ngũ cán bộ chuyên môn, có những trung tâm, những viện nghiên cứu, có quyền huy động các viện và các trung tâm nghiên cứu khác tham gia nghiên cứu một số chuyên đề. Ở các nước khác, các tiểu ban của Quốc hội cũng làm như vậy.
Nhưng ở Việt Nam, đã mấy khi Quốc hội có đủ quyền lực và phương tiện để huy động được một đội ngũ như thế? Mà nếu không có được một đội ngũ chuyên môn phục vụ cho những chuyên đề nghiên cứu, thì làm sao Quốc hội có đủ căn cứ để thẩm định và đánh giá những việc của Chính phủ? Sự bất cập hiện nay có nhiều lý do, nhưng đây là một trong số những lý do. Đó chính là điều cũng cần nghiên cứu để giải quyết.
Ngoài ra, do các cơ quan của Chính phủ chuyên môn hoá khá sâu, nên chăng, cơ quan của Quốc hội cũng phải có một sự chuyên môn hoá ít nhiều tương ứng. Một hệ thống uỷ ban chuyên sâu là rất quan trọng để nâng cao năng lực chuyên môn của Quốc hội. Hiện nay có một uỷ ban của Quốc hội giám sát trên dưới 10 bộ, như Uỷ ban kinh tế ngân sách. Sắp tới, nên nghiên cứu xem có cần phải chia tách một số các uỷ ban đang phụ trách quá nhiều lĩnh vực để có thể đạt được sự chuyên môn hoá sâu hơn.
Về mặt thủ tục, cũng cần phân định rõ quy trình xem xét các vấn đề chính sách với quy trình xem xét các vấn đề kỹ thuật. Việc các đại biểu bớt sa đà vào câu chữ ở các phiên họp toàn thể là một xu hướng đúng, được cử tri hoan nghênh. Phiên họp toàn thể chỉ dành để xem xét về các vấn đề ở tầm chính sách. Các vấn đề thuộc về kỹ thuật phải được xử lý ở các ủy ban. Như vậy thời gian họp các phiên toàn thể có thể rút gắn được rất nhiều.
Tính chuyên nghiệp còn thể hiện ở năng lực thẩm định các dự luật được trình sang Quốc hội. Tuy nhiên, vì khuôn khổ của bài viết không cho phép, nên tôi xin được trình bày vào một dịp khác.
Cuối cùng, việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội chắc chắn phải đi theo một xu thế chung là bảo đảm tính dân chủ ngày càng cao hơn. Mà như vậy, thì năng lực đại diện cho dân là vấn đề cơ bản nhất."
Võ Văn Kiệt