Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Viễn tượng Việt Nam qua cách nhìn của Nguyễn Võ Thu Hương và Vũ Nhân |
Friday, January 27, 2006
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=39086&z=131
LTS - Tại Quận Cam, chúng tôi đã thực hiện hai cuộc phỏng vấn với Giáo Sư Nguyễn Võ Thu Hương và Giáo Sư Vũ Nhân.
Giáo Sư Nguyễn Võ Thu Hương là một chuyên gia về khoa học chính trị Ðông Nam Á, Châu Á Học và phụ nữ Việt Nam tại Ðại Học UCLA. Giáo Sư Hương trước đây là Chủ Bút tờ Ðối Thoại(ÐT: không phải là Ðối-Thoại Online) và dạy Khoa Học Nhân Văn tại Ðại Học Cal State Los Angeles. Kể từ năm 2001, Giáo Sư Hương về dạy tại khoa Ngôn Ngữ Học và Văn Hóa Á Châu tại Ðại Học UCLA.
Sau đây là nhận định của Giáo Sư Hương về tình hình Việt Nam:
Càng ngày, kinh tế Việt Nam càng gắn liền vào nền kinh tế toàn cầu theo chủ nghĩa tân tự do (neo-liberalism), dựa trên quyền tự do thương mại và tiêu thụ. Nhà nước Việt Nam nói chung ngày càng nổ lực phát triển kinh tế theo chiều hướng trên, điển hình qua nỗ lực vào WTO. Trong lối cai trị để phù hợp với kinh tế toàn cầu tân tự do, tự nó đã có một số mâu thuẫn. Chẳng hạn để bảo đảm cho quyền tự do mua bán thì (bất cứ) nhà nước (nào cũng đều) phải phân biệt dân thành nhiều thành phần không bình đẳng nhau về quyền tự do. Ðiển hình nhất là phải đàn áp (bằng hệ thống nhà tù chẳng hạn) một số giai cấp có thể đe dọa sinh hoạt kinh tế tự do của số đông quần chúng như tình trạng hiện thời tại Hoa Kỳ với tỷ lệ tù nhân cao từ suýt soát đến hơn Liên Xô thời chủ nghĩa xã hội. Một thí dụ khác là nhà nước sẽ phải tạo điều kiện để những giai tầng trong xã hội phát triển khác nhau, hầu cung cấp lao động và người tiêu thụ với những lối ứng xử khác nhau cho một nền kinh tế như thế.
Tại Việt Nam, để tạo điều kiện phát triển cho một giới trung lưu có khả năng lao động chuyên môn, và có khả năng tiêu thụ hàng hóa trong kinh tế thị trường toàn cầu hóa, nhà nước sẽ phải mở cửa về thông tin và tư duy. Mặt khác, để bảo vệ an ninh chính trị và đặc quyền đặc lợi của giai cấp lãnh đạo, và để cung ứng lao động rẻ và ngoan ngoãn (thường là lao động nữ) cho nhu cầu sản xuất của kinh tế toàn cầu qua các xí nghiệp tại Việt Nam, nhà nước vẫn đưa ra luận điệu “giữ gìn bản sắc dân tộc” đi đôi với sự ém nhẹm về tư duy. Ðây là một mối mâu thuẫn lớn, và nhà nước sẽ phải tiếp tục tay siết tay mở, dẫn đến những chính sách chắp vá. Ðiển hình gần đây có những đợt cho ấn hành rồi “đánh” hoặc thu hồi một số tác phẩm văn học. Trong năm 2006, những mối mâu thuẫn tư duy này sẽ càng rõ nét hơn.
Trong tương lai gần - vài năm sắp tới - mối mâu thuẫn có tính lịch sử cũng sẽ bắt đầu lộ diện. Lịch sử nội chiến, chính sách hậu chiến, sẽ lần lượt biến thành vấn đề sau cuộc xóa ký ức tập thể của phe bại trận kéo dài 30 năm. Theo đó vấn đề Bắc-Nam, chính quy-ngoại biên trong đời sống văn hóa sẽ rõ nét hơn. Gần đây nhất, cả hai loại mâu thuẫn tư duy và lịch sử thể hiện qua lệnh thu hồi tập thơ Dự Báo Phi Thời Tiết của năm thi sĩ trẻ ở Sài Gòn.
Cũng liên quan đến mâu thuẫn lịch sử là mối quan hệ giữa nhà nước Việt Nam và những cộng đồng người Việt di dân trên khắp thế giới, nhất là tại Mỹ. Nhà nước Việt Nam vẫn nhìn những cộng đồng này qua hai lăng kính: (1) Lịch sử nội chiến; và (2) Mô hình quốc gia dân tộc. Một thí dụ điển hình là phản ứng của nhà nước Việt Nam trong vụ cộng đồng Việt Nam tại Mỹ đòi sử dụng lá cờ VNCH cũ để đại diện cho họ và con em họ. Về (1), vấn đề lịch sử nếu giải quyết thì đòi hỏi rất nhiều từ cả hai phía để nhìn lại quá khứ. Về (2), một nhà nước giành quyền đại diện tối thượng cho “dân tộc” trong thế giới di dân ngày nay đã lỗi thời. Không một nhà nước nào có thể giành lấy hoàn toàn sự thuần phục của một cộng đồng, dù đó là nước sở tại hay nước gốc. Giản dị là những cộng đồng này mang đầy những quan hệ phức tạp vượt biên giới và chủ quyền của một quốc gia. Vì thế, một số nhà nước đã bắt đầu thay đổi cái nhìn của họ về những cộng đồng di dân. Thí dụ, dân Mexico định cư ở Mỹ hiện có thể bỏ phiếu trong những cuộc bầu cử tại Mexico.
Giáo Sư Vũ Nhân bắt đầu dạy tại trường luật thuộc Ðại Học Chapman University từ năm 2001. Trước đó, Giáo Sư Nhân là thư ký cho Chánh Án Alex Kozinski, Tòa Kháng Án Liên Bang số 9 và là giáo sư thỉnh giảng tại Ðại Học Luật Whittier Law School. Giáo Sư Nhân tốt nghiệp Cử Nhân hạng danh dự tại Ðại Học Harvard University và tốt nghiệp luật tại Ðại Học Yale University.
Sau đây là phần câu hỏi của chúng tôi và phần trả lời của Giáo Sư Nhân:
NV: Về chính sách kinh tế, xã hội và chính trị trong năm qua, Việt Nam đã đạt được những gì và chưa đạt được những gì?
GS Nhân: Mặc dù có một số sự kiện đáng kể hồi năm ngoái và kinh tế vẫn tiếp tục phát triển, tôi không nghĩ rằng Việt Nam có những thay đổi xứng đáng.Việt Nam năm 2005 chẳng khác Việt Nam 2004 bao nhiêu, nếu có chỉ khác một chút mà thôi. Chính trị, kinh tế và xã hội vẫn còn nhiều vấn đề nghiêm trọng và rất khó thay đổi trong một thời gian ngắn của một năm. Thực ra, Việt Nam vẫn còn lúng túng định hướng cho mình, hết năm này qua năm khác và chỉ tiến bộ một cách không đáng kể. Có thể một ngày nào đó Việt Nam sẽ có dân chủ và trở nên giàu có. Nhưng có lẽ phải mất từ 20 đến 30 năm điều này mới thành hiện thực.
NV: Việt Nam cần làm gì trong năm 2006 để giải quyết những vấn đề còn tồn tại?
GS Nhân: Việt Nam cần phải làm nhiều hơn nữa để vượt qua những khó khăn của mình như áp dụng những chính sách kinh tế cởi mở hơn nữa, chấm dứt tình trạng tham nhũng và tạo thêm cơ hội để phát triển giáo dục. Ðây chỉ là một vài yếu tố quan trọng trong lúc này. Ngoài ra, Việt Nam cần gia tăng hơn nữa tự do về chính trị, kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, cần phải xem xem đây có thực sự là ý muốn của các nhà lãnh đạo của Việt Nam hay không. Họ có thật sự muốn áp dụng những chính sách thật cởi mở để thay đổi Việt Nam hay không? Vì thế, tôi nghĩ rằng, Việt Nam sẽ có thể tiếp tục lúng túng với những chính sách cải tổ hơn là tiến bộ thực sự.
NV: Có hy vọng gì mới sau Ðại Hội Ðảng năm nay? Tại sao?
GS Nhân: Mặc dù năm nay có Ðại Hội Ðảng, chưa chắc có thay đổi nào đáng kể. Cho dù một số lãnh đạo cao cấp trong Ðảng có một số tiếng nói độc lập hơn trong thời gian gần đây, nhưng một số nhỏ hơn, nhưng quan trọng hơn trong Ủy Ban Trung Ương Ðảng, vẫn còn nắm giữ nhiều quyền lực. Như tôi đề cấp ở trên, tất cả đều tùy thuộc vào ý muốn của những cấp lãnh đạo này: Thay đổi nhiều hay không là tùy ở họ. Ðại Hội Ðảng sẽ vẫn chỉ là một màn “trình diễn” cho thấy lãnh đạo Ðảng dự định đưa Việt Nam đi theo hướng nào trong tương lai gần. Tôi cho rằng bất cứ một thay đổi lớn nào được đưa ra sau Ðại Hội cũng chỉ là mang tính cách hình thức (giống như cuộc vận động chống tham nhũng mà các giới lãnh đạo Ðảng đưa ra trong những năm gần đây). Nếu có, chỉ là những thay đổi rất nhỏ hoặc những thay đổi mà không ai bàn cãi được đối với những chính sách hiện tại.