Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
1956 và 2006: Những điều trùng hợp |
21 Tháng 2 2006 - Cập nhật 13h42 GMT
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2006/02/060221_1956_2006.shtml
Những ai quan tâm đến tình hình chính trị Việt Nam dễ dàng nhận thấy có những dấu hiệu về một cuộc tranh luận cởi mở thậm chí táo bạo đang diễn ra trong năm nay.
Từ những bài trả lời phỏng vấn của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt, đến ‘hiệu ứng Nguyễn Trung’, và thậm chí những người đang thành đạt ở trong nước như luật sư Lê Quốc Quân, Lê Công Định cũng gửi thẳng bài cho đài BBC với những ý kiến mà bình thường bị xem là “trái chiều”.
Người ta có thể bảo rằng cũng không lạ lắm nếu xét rằng những ý kiến tương tự của các trí thức và đảng viên đã được nói trong nội bộ Đảng (và rồi nhiều trong số đó được lọt ra ngoài và lên internet).
Nhưng điều lạ và đáng chú ý là từ đầu năm nay, những bình luận táo bạo như vậy được đăng tải và cổ vũ công khai.
Mới nhất là việc xuất hiện hai bài viết ‘gây choáng’ của nhà thơ Trần Mạnh Hảo, trong đó ông này phủ nhận toàn bộ lý luận Marx – Lenin và kêu gọi “bỏ điều Bốn trong Hiến pháp, điều Đảng đang tự áp đặt mình ngồi vĩnh viễn trên đầu dân tộc.”
Một cách tình cờ, cuộc thảo luận có vẻ đang được nương nhẹ hiện nay nhắc người ta nhớ lại đúng 50 năm trước, khi cũng có cuộc tự do thảo luận (ngắn ngủi) tại miền Bắc Việt Nam.
Tháng Ba 1956, Giai phẩm Mùa xuân được ấn hành, do nhà thơ Hoàng Cầm và Lê Đạt chủ trương, trong đó có bài Nhất định thắng của Trần Dần, với hai câu thơ nổi tiếng:
Tôi bước đi không thấy phố không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ
Bài thơ này đã gặp ngay tai họa: số báo bị tịch thu. Tuy nhiên nhà cầm quyền miền Bắc lúc này chưa có thái độ dứt khoát với nhóm làm Giai phẩm Mùa xuân.
Tháng 8 năm 1956, Giai phẩm Mùa thu ra đời, trong đó Phan Khôi có bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ:
“Ở dưới chế độ tư sản, sự đối lập là thường: nhân dân đối lập với chính phủ, công nhân đối lập với chủ xưởng, học sinh đối lập với nhà trường...Nhưng ở dưới chế độ của chúng ta, về mọi phương diện, yêu cầu phải không đi đến đối lập, hễ còn đối lập là cái hiện tượng không tốt, cái triệu chứng không tốt.”
Đến tháng 9-1956, bán nguyệt san Nhân văn, số Một, ra mắt. Cùng thời điểm này, các tờ như Nhân Dân, Cứu Quốc cũng đăng các bài nêu những sai lầm, hà lạm của một số cán bộ nhân phong trào sửa sai.
Trên báo Nhân văn, số Một, đăng bài đầu của loạt “Chúng tôi phỏng vấn về vấn đề mở rộng tự do và dân chủ”, với khách mời là luật sư Nguyễn Mạnh Tường, người nêu hai nguyên nhân theo ông đã dẫn đến tình trạng thực thi dân chủ hai năm qua gặp thiếu sót:
a. “Đảng viên Lao động và cán bộ thi hành chính sách thiếu tinh thần dân chủ. Do đó xa lìa quần chúng, và tạo ra tình trạng đối lập quần chúng với mình. Để sửa đổi, cần xây dựng quan điểm quần chúng cho đảng viên và cán bộ, và yêu cầu Trung ương Đảng và Chính phủ đảm bảo sự thi hành triệt để các tự do dân chủ.
|
|
Nguyễn Mạnh Tường, 1956 |
b. Quần chúng chưa thấm nhuần tinh thần chủ nhân ông trên đất nước, do đó chưa tranh đấu đòi thực hiện dân chủ. Để sửa chữa, ta cần xây dựng ý thức dân chủ cho quần chúng.”
Nhân văn, số Hai, ngày 30-9-1956, đăng tiếp ý kiến của nhà sử học Đào Duy Anh, nói trong quá trình xây dựng chế độ, đã có những yếu tố hạn chế tự do:
“Tên tuổi của những kẻ thù nội bộ của tự do ấy, người ta đều biết cả: tức là những tệ quan liêu, mệnh lệnh, độc đoán, bè phái còn ngự trị lén lút hay công nhiên ở địa vị điều khiển và lãnh đạo của nhiều cơ quan, những bệnh giáo điều chủ nghĩa, công thức chủ nghĩa, sùng bái cá nhân còn ngự trị trong công tác lãnh đạo văn nghệ và học thuật và còn nặng nề chính trong tư tưởng của nhiều người trong giới trí thức chúng ta.”
Triết gia Trần Đình Thảo, trong Nhân văn số Ba ngày 15-10, kêu gọi nỗ lực mở rộng dân chủ, phát triển phê bình trong nhân dân.
“Cái tự do mà họ muốn phát triển là tự do của toàn dân phê bình lãnh đạo và nhờ có phê bình thì mới xây dựng được một tổ chức hợp lý, bảo đảm cho công tác được kết quả tốt, để mỗi công dân được góp phần tích cực vào nhiệm vụ chung.”
Nhân văn số Bốn ngày 5-11-1956 đăng bài của Trần Duy nói đấu tranh cho tự do dân chủ chính là để cùng Đảng và nhân dân chiến đấu cho một mục đích chung.
“Sống trong một xã hội mà sự tự do đã chính thức ghi lên giấy trắng mực đen trong tuyên ngôn Độc lập, trên Hiến pháp, sao tự do vẫn còn bị vi phạm trắng trợn ở trên địa hạt tư tưởng, trí thức và cả trên sinh mệnh xương thịt của con người?”
Trên Nhân văn số Năm ngày 20-11-1956, cũng là số cuối cùng, ông Nguyễn Hữu Đang nhận định về Hiến pháp Việt Nam 1946.
“Liên hệ những điều bảo đảm tự do dân chủ trong Hiến pháp Việt Nam 1946 và Hiến pháp Trung Hoa 1954 với thực tế miền Bắc bây giờ chúng ta thấy gì?
|
|
Nguyễn Hữu Đang, 1956 |
Chúng ta thấy các quyền tự do dân chủ bị hạn chế quá nhiều. Và chúng ta nhiệt liệt hoan nghênh nghị quyết của hội nghị lần thứ 10 của Trung ương Đảng Lao động đã nhấn mạnh sự cần thiết phải mở rộng tự do dân chủ.
Nhưng tại sao việc đó mới đề ra chứ chưa thực hiện được phần nào mà đã lại có ngay một luồng dư luận chống đối, hình như muốn chuyên chính hơn nữa? Sự thay đổi đột ngột ấy làm cho quần chúng hoang mang, lo ngại.”
Cũng trong tháng 11, trên Giai phẩm Mùa thu số Ba, ông Đào Duy Anh góp ý về xây dựng nền học thuật nước nhà.
“Chính cái tư tưởng không tin và coi rẻ trí thức đã dẫn đến sự ứng dụng lệch lạc cái nguyên tắc rất đứng đắn về quyền lãnh đạo của chính trị, do đó công tác học thuật của chúng ta, về khoa học tự nhiên cũng như về khoa học xã hội, gặp nhiều cản trở mà vẫn bị hãm vào tình trạng lạc hậu.”
Ngày 9-12-1956, chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh bãi bỏ quyền tự do báo chí.
Giai đoạn tự do tranh luận, mà sau này hay được gọi là ‘phong trào Nhân văn Giai phẩm”, hoàn toàn kết thúc vào năm 1958 với việc khai trừ nhiều văn nghệ sĩ, cùng việc kết án tù và quản thúc với một số người khác.
50 năm đi qua, tình hình Việt Nam dĩ nhiên đã đổi khác. Tuy vậy, nội dung của cuộc tranh luận năm 1956 vẫn còn những bài học thích hợp để người hôm nay suy nghĩ.
Trong một bài phỏng vấn hồi năm ngoái, cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt cho rằng:
“Tình trạng thiếu dân chủ, quen "hành dân" và hành hạ lẫn nhau của bộ máy nhà nước các cấp là một thực tế nhức nhối. Vì không tạo được mối quan hệ gắn bó với Dân nên nạn tham nhũng càng có điều kiện hoành hành.”
Năm 2006, tác giả Nguyễn Trung viết về những thách thức đặt ra cho Đảng:
“Sự hẫng hụt về trí tuệ và phẩm chất như vậy đang hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, đang làm mai một nhiều truyền thống cách mạng quí báu của Đảng, đang từng bước đẩy lùi đảng lãnh đạo xuống thành đảng cai trị, điều mà tôn chỉ mục đích của Đảng không bao giờ cho phép.”
Còn năm 1956, luật sư Nguyễn Mạnh Tường phát biểu trước Mặt trận Tổ quốc ở Hà Nội:
“Chung quy, mặc dầu cách mạng là tốt đẹp, mang lại hạnh phúc cho dân tộc, sở dĩ vẫn có người xa lánh cách mạng, chẳng qua là vì chính thể cách mạng mắc trầm trọng bệnh xa lìa quần chúng, thiếu dân chủ, do đó đi càng ngày càng sâu vào tình trạng quan liêu, mệnh lệnh, duy trì một thái độ lãnh đạo hẹp hòi, độc đoán, có khi độc tài."
"Thái độ một chiều không muốn, không cho phép ai nói cái gì trái ngược ít nhiều với ý kiến nhận định, thành kiến của mình...Ta bay bổng lên trời xanh của ảo tưởng, ta chỉ tin ở ta. Trong tư tưởng, ta không khinh quần chúng, nhưng trong hành động, quả thật con mắt khách quan nhận thấy ta bất chấp quần chúng.”