Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Đại hội X: Nhìn xa hay nhìn gần? |
28.2.2006
Nhân Đại hội X, hãy nhìn lại những
chuyển biến chính trị đưa đến việc thay thế những chế độ cộng sản, những chế độ
độc tài bằng nền dân chủ đã xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới - và kết quả của nó
- để xem Việt Nam sẽ nhìn xa hay nhìn gần và có thay đổi gì.
Tháng 5.1989, khởi đầu cho cuộc cách mạng dân chủ ở Đông Âu khi hai chính phủ Áo
và Hungari đạt được một thỏa ước ngoại giao bãi bỏ giới hạn tự do du lịch của
công dân Hung qua Áo. Ở biên giới hai nước, hình ảnh người lính biên phòng Hung
dùng kìm cắt bỏ những hàng rào kẽm gai đánh dấu một biến cố quan trọng trong
quan hệ Đông và Tây Âu kể từ sau Thế chiến II.
1. Đông Đức
Những tuần lễ sau khi biên giới Áo-Hung mở cửa, không chỉ dân Hung kéo nhau qua
Áo, mà dân Đông Đức cũng lũ lượt rủ nhau lên những chuyến xe lửa từ Đông Đức qua
Séc, xuống Hung rồi qua Áo. Trước làn sóng người Đông Đức tràn qua Séc, biên
giới hai nước phải đóng cửa. Người dân Đông Đức đến được Séc đã tràn vào tòa đại
sứ Tây Đức ở Praha xin tị nạn. Từ khi nước Đức bị phân chia nhiều người Đông Đức
đã can đảm trèo vượt Bức tường Bá Linh, bây giờ họ còn có cơ hội vượt thoát chế
độ cộng sản bằng tầu hỏa.
Đông Đức là nước cộng sản phát triển nhất ở Đông Âu. Vào thời điểm đó (1989) lợi
tức bình quân đầu người ở nước này là 8.000 đô la một năm, vượt xa hơn cả nhiều
nước không cộng sản khác trên thế giới. Nhưng khi có cơ hội, người dân Đông Đức
đã vượt biên giới qua phương Tây.
Những chuyển động của người dân Đông Đức dẫn đến việc phá bỏ Bức tường Bá Linh
vào tháng 11.1989, một hình ảnh lịch sử còn ghi đậm trong ký ức của những ai đã
sống qua thời điểm đó.
Tháng 12.1989 Đảng Xã hội Chủ nghĩa Thống nhất Đức (SED), tức Đảng Cộng sản Đông
Đức cũ, công bố từ bỏ sự độc tôn cai trị, giải tán những cơ quan công an, mật vụ
và tổ chức bầu cử đa đảng.
Mùa xuân 1990 có bầu cử quốc hội, các đảng đối lập chiếm đa số trong khi Đảng
SED chỉ được 16%. Ít lâu sau nhân dân hai miền Đông Tây đã quyết định thống nhất
nước Đức.
2. Cộng hoà Séc
Năm 1968 Liên Xô đã đưa xe tăng và binh lính vào Praha lật đổ Alexander Dubcek,
một tổng bí thư cải cách. Liên Xô lo sợ những cải cách sẽ kéo theo sự sụp đổ của
Đông Âu. Dubcek bị thay thế và bị giam lỏng.
Tháng 12.1989, trước đòi hỏi của dân chúng, quốc hội Séc với đa số đại biểu cộng
sản đã biểu quyết chấm dứt sự độc tôn cai trị và tổ chức bầu cử tự do, đa đảng.
Nếu không có sự can thiệp của Liên Xô thì năm 1968 có lẽ Séc đã là nước cộng sản
Đông Âu đi tiên phong trong việc dân chủ hoá.
Tháng 6.1990 có cuộc bầu cử tự do, đa đảng. Kết quả, liên minh hai đảng mới là
Diễn đàn Công dân (Civic Forum) và Quần chúng Chống Bạo lực (Public Against
Violence) chiếm 57% số đại biểu, trong khi Đảng Cộng sản chỉ được 16%. Quốc hội
mới của Séc nhóm họp, chọn một đại biểu từng bị giam suốt 20 năm qua là
Alexander Dubcek làm chủ tịch.
Tiến trình cải cách chính trị đưa đến sự kiện một nhà tranh đấu cho dân chủ đã
vào tù nhiều lần dưới thời cộng sản là Vaclav Havel được bầu làm tổng thống đầu
tiên của nước Séc dân chủ và ông đã gọi đây là một cuộc “cách mạng nhung.”
3. Ba Lan
Sự chuyển hoá sang nền dân chủ ở Ba Lan khởi đi với sự ra đời của Công đoàn Đoàn
kết (Solidarnosc), một nghiệp đoàn công nhân độc lập, vào đầu thập kỉ 1980, dưới
sự lãnh đạo của người thợ điện Lech Walesa. Kinh tế yếu kém, nhà nước cộng sản
Ba Lan không giải quyết được đã khiến công nhân nổi lên đình công làm tê liệt hệ
thống kinh tế, suy giảm khả năng lãnh đạo của chính quyền. Công đoàn bị nhà nước
cấm hoạt động, những lãnh tụ bị bắt giam.
Đến năm 1989 tướng cầm quyền Jaruzelski đã phải chấp nhận cải tổ chính trị rộng
lớn bằng cách cho phép Công đoàn Đoàn kết hoạt động công khai và coi đây như là
một đảng đối lập với Đảng Cộng sản Ba Lan. Những cải tổ theo sau cho phép các
đảng chính trị hoạt động.
Tháng 5.1990 có cuộc bầu cử quốc hội mới. Công đoàn được 40% số ghế, Đảng Nông
dân 7%. Trong khi đó Đảng Dân chủ Xã hội (SdRP), hậu duệ của Đảng Công nhân
Thống nhất Ba Lan (PZPR, Đảng Cộng sản), chỉ được 2%.
Tháng 11.1990 Ba Lan có cuộc bầu cử tổng thống với ba ứng cử viên: Lech Walesa,
lãnh tụ Công đoàn; Mazowiecki, đương kim thủ tướng; và Tyminski, một thương nhân
gốc Ba Lan lưu vong hơn 20 năm, từ Canada về tranh cử. Kết quả hết sức ngạc
nhiên: Walesa được 40%, Tyminski 23% và Mazowiecki 15%. Qua bầu cử vòng nhì
Walesa được 75% số phiếu và trở thành tổng thống dân cử đầu tiên của một nước Ba
Lan dân chủ.
4. Hungari
Hungari cải cách dân chủ sớm nhất trong những nước Đông Âu. Cuối tháng 12.1989
đã có những cuộc bầu cử đa đảng cấp địa phương và các đảng đối lập với Đảng Công
nhân Xã hội chủ nghĩa Hungari (MSZMP, Đảng Cộng sản) đã thắng.
Tháng 4.1990 có cuộc bầu cử quốc hội. Đảng MSZMP cải tổ thành Đảng Xã hội chủ
nghĩa Hungari (MSZP), chỉ chiếm được 8% số ghế. Trong khi đó một đảng mới là
Đảng Diễn đàn Dân chủ chiếm 43%.
5. Những nước Đông Âu khác
Rumani, Bulgari và Albani có những cải cách chính trị đến chậm hơn, có đổ máu và
Đảng Cộng sản vẫn nắm được đa số trong các cuộc bầu cử vào đầu thập kỉ 1990.
Nhưng sau 15 năm thay đổi hệ thống chính trị, các nước Đông Âu nay đã là những
nền dân chủ tiến bộ trong cộng đồng thế giới.
|
|
|
Budapest, Hungari năm 1985, ảnh: Bùi Văn Phú |
|
|
|
|
|
Sài Gòn, Việt Nam ngày nay, ảnh: Bùi Văn Phú |
Nhìn xa có Đông
Âu chuyển thể từ cộng sản qua dân chủ. Nhìn gần là những nước Đông Á trong hai
thập kỉ qua cũng đã chuyển đổi từ độc tài, chậm phát triển qua dân chủ tiến bộ.
6. Đông Á
Đài Loan của thời độc tôn Quốc dân Đảng với Tưởng Giới Thạch, Tưởng Kinh Quốc đã
đi vào lịch sử và được thay thế bằng Lý Tăng Huy, Trần Thủy Biển là những vị
tổng thống dân cử từ những đảng đối lập.
Nam Hàn cũng đã qua đi thời đại Phác Chánh Hy, Chung Đô Hoán để có được Kim Đại
Trọng, một nhà bất đồng chính kiến đã phải vào tù, phải sống lưu vong nhiều năm,
trước khi được bầu làm tổng thống.
Philippin không còn tổng thống muôn đời Ferdinand Marcos khi Corazon Aquino lên
thay thế qua một cuộc bầu cử tự do.
Thái Lan, Mã Lai, Indonesia, Singapore và ngay cả Cam Bốt ngày nay đều có sự
tham gia vào sinh hoạt quốc gia của nhiều đảng chính trị.
7. Việt Nam
Trong hai thập kỉ qua kinh tế Việt Nam có tăng trưởng nhưng tình trạng phát
triển vẫn còn tụt hậu so với những quốc gia khác trong vùng. Tính theo tỉ giá
sức mua thì chỉ số bình quân của người Việt là 2.700 đô la một năm, trong khi
Nhật là 29.400, Đài Loan 25.300, Nam Hàn 19.200, Mã Lai 9.700, Thái Lan 8.100,
Trung Quốc 5.600, Philippin 5.000, Indonesia 3.500. Việt Nam hơn được Cam Bốt
(2.000), Lào (1.900), Bắc Hàn (1.700) và Myanmar (1.700). So với hai thập kỉ đổi
mới thì vị trí kinh tế của Việt Nam cũng không thay đổi.
Như thế Việt Nam mới chuyển từ văn minh xe đạp lên văn minh xe gắn máy trong khi
Nhật, Nam Hàn, Đài Loan, Singapore hay Hungari, Ba Lan, Séc, đã là những quốc
gia của văn minh xe hơi. Chuyển đổi từ xe đạp qua xe gắn máy tương đối dễ, không
cần thay thế cấu trúc hạ tầng vì khoảng không gian của hai phương tiện di chuyển
chiếm ngự không khác nhau nhiều. Từ văn minh xe gắn máy lên văn minh xe hơi đòi
hỏi sự vận hành với tốc độ cao của nền kinh tế nhiều khu vực mà Việt Nam ngày
nay chưa có môi trường cạnh tranh đúng mức để thúc đẩy những phát triển này.
Bao giờ những công dân Việt Nam, không thua kém ai về trí tuệ, về tinh thần độc
lập, lòng yêu nước, mới được có những quyền tự do chính trị, được hưởng những
giá trị nhân bản và phúc lợi kinh tế do phát triển dân chủ đem lại như công dân
nhiều nước trong vùng? Liệu Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam có tầm nhìn xa
hay nhìn gần để mở ra một cánh cửa mới cho dân tộc có cơ hội nhảy vọt, bắt kịp
đà phát triển trong vùng cũng như toàn cầu?
Hay Đảng chỉ có còn khả năng nhìn thật gần lên phương Bắc và vẫn tự cho mình là
trí tuệ và tinh hoa của tổ quốc? Nếu thế thì thật là một điều không may cho dân
tộc Việt Nam.