Đối Thoại          Website: Doi-Thoai.com         Email: toasoandoithoai@yahoo.com


Việt Hoàng

KINH TẾ VIỆT NAM SẼ RƠI VÀO TAY AI?

 

Dự thảo báo cáo chính trị của Đại hội X đảng cộng sản VN vẫn khẳng định rằng Doanh Nghiệp Nhà Nước vẫn là đòn bẩy, là then chốt của nền kinh tế đất nước. Khu vực doanh nghiệp Tư nhân vẫn được nhắc đến, nhưng sự “phân biệt” chắc chắn vẫn còn nguyên khi “tinh thần” chỉ đạo đã được khẳng định như trên.

Kinh tế VN đã phát triển mạnh mẽ trong thời gian qua phần lớn là nhờ vào sự năng động của khu vực kinh tế tư nhân. Khu vực Doanh Nghiệp Nhà Nước dù được đầu tư không biết bao nhiêu là tiền của nhưng đó là những công ty làm ăn kém hiệu quả nhất, nợ ngân hàng nhiều nhất và là những ổ tham nhũng lớn nhất.

Thế nhưng tại sao nó vẫn được ưu ái và bảo vệ? Lý do cũng thật đơn giản vì đó là nơi rửa tiền và tham nhũng lý tưởng nhất của các quan chức Trung ương và địa phương có chức quyền.

Khu vực kinh tế tư nhân, dự đoán vẫn tiếp tục phát triển mạnh trong thời gian tới nhưng qui mô vẫn còn nhỏ và manh mún do thiếu sự hỗ trợ của chính quyền. Cái “được” nhất mà khu vực kinh tế tư nhân tạo ra được cho VN là việc giải quyết công ăn việc làm cho dân chúng, dù rằng chỉ với mức lương “tạm đủ sống”.

Với việc cho phép đảng viên được làm giàu, được làm kinh tế tư nhân ( tức được tha hồ và thoải mái bóc lột nhân dân lao động- theo học thuyết của Mác-Lênin) đã hợp thức hóa số tiền khổng lồ của các quan chức đảng viên “kiếm” được trong thời gian qua, đặc biệt là sau 20 năm “đổi mới”. Nhiều người cộng sản đầu óc bảo thủ hay vì không kiếm chác được gì trong chuyện này đã phản ứng kịch liệt việc đảng viên được phép làm giàu. Họ cho rằng điều này đã đi ngược lại với chủ thuyết Mác-Lênin, là nền tảng của mọi giá trị hình thành nên nhà nước Việt Nam XHCN, mà giáo sư Nguyễn Đức Bình là ví dụ.

Dù lý do đưa ra để chống đối việc đảng viên làm giàu có “thuyết phục’ đến đâu? Hay có đem cả Mác, Lênin hay ông Hồ ra dọa thì cũng không ăn thua gì. Việc đảng viên làm giàu là một thực tế mà ai cũng thấy rõ suốt 20 năm qua. Và đó là sự tất yếu như việc nước chảy từ chỗ cao xuống chỗ thấp.

Việc mà tôi muốn nói đến trong bài viết này là các đảng viên cộng sản làm kinh tế như thế nào? Tương lai phát triển của nền kinh tế VN sẽ ra sao? Kinh tế VN sẽ rơi vào tay ai?...

Trước hết xin mời các bạn đọc bài viết “Nhóm lợi ích và tương lai đổi mới” của tác giả

 , n

ý thức hệ về kinh tế, đảng cộng sản tiến hành “đổi mới”, mở rộng nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế khác nhau, tăng cường mua bán, trao đổi mậu dịch với các nước khác (ngoài khối XHCN đã sụp đổ), nền kinh tế VN đã “thoát chết”. Từ chổ thiếu ăn triền miên đã trở thành một nước có nhịp độ tăng trưởng kinh tế khả quan. Khi nền kinh tế phát triển thì những lợi ích đem lại cũng rất lớn. Một sự thực mà ai cũng thấy là các quan chức VN ngày càng trở nên giàu có một cách kinh khủng. Và như tác giả Nguyễn An Nguyên đã nói thì VN đã và đang hình thành nên các “nhóm lợi ích”, tức là các ông trùm tài phiệt. Các ông trùm tư sản đỏ này sẽ nhanh chóng bằng mọi cách để chuyển tài sản của chung (của nhà nước) thành của riêng họ. Sau đó với việc nắm giữ các ngành kinh tế quan trọng của đất nước, cộng với quyền lực đang có trong tay, các nhà tài phiệt đỏ này sẽ thao túng mọi chính sách và đường lối của đảng cộng sản cũng như nhà nước VN.

Tương lai nền kinh tế của VN sẽ nằm trong tay các nhà tài phiệt đỏ này, đảng cộng sản và cả bộ máy của nó, khi đó, cũng chỉ là công cụ để phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tài phiệt đỏ này. Ví dụ về trường hợp của Phi-lip-pin dưới thời nhà độc tài Marcos hay sự cố gắng không thành công của các nhà tài phiệt Nga dưới thời Putin là những chứng minh rất thuyết phục cho sự lũng đoạn của các nhà tài phiệt mới.

Các nhóm tài phiệt này sẽ hỗ trợ tối đa cho sự cầm quyền lâu dài của chế độ cộng sản nếu chế độ vẫn tạo điều kiện “bảo hộ” cho việc làm ăn của họ. Nếu vì một lý do nào đó phải thay đổi thể chế chính trị thì giới tài phiệt này cũng sẽ bằng mọi cách xâm nhập sâu vào hệ thống chính trị cộng với nguồn tiền bạc không hạn chế của mình để tiếp tục “vận động” cho những chính sách có lợi cho mình.

Một thực tế mà ai cũng thấy rằng là khi các nhà tài phiệt này thành công bao nhiêu thì quyền lợi của người dân sẽ bị thiệt hại đi bấy nhiêu. Tác giả Nguyễn An Nguyễn cũng đưa ra hai dẫn chứng rất cụ thể đó là trường hợp công ty dược phẩm Zuellig Pharma Vietnam, đã nhiều năm liền độc quyền làm mưa làm gió trên thị trường thuốc Tây của VN. Hay việc bảo hộ cho ngành công nghiệp ôtô đã khiến cho người tiêu dùng phải chịu một mức giá cao hơn các nước khác trong khu vực 2-3 lần. Ngoài ra Điện, Nước, Viễn thông…cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự.

Rõ ràng là các nhà tài phiệt, các công ty độc quyền này đã thu được lợi nhuận khổng lồ từ sự “bảo hộ” của chính quyền, nhưng nền kinh tế đất nước sẽ chịu nhiều hậu quả. Ví dụ khi giá Điện và Viễn thông quá cao thì giá thành sản xuất ra mọi sản phẩm sẽ cao, các doanh nghiệp khó cạnh tranh, mặt khác môi trường đầu tư sẽ kém hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, và tất nhiên là bao nhiêu thiệt thòi đó người dân sẽ...lãnh đủ.

Các tập đoàn kinh tế VN đang và sẽ tiếp tục hình thành bấp chấp tình hình chính trị ra sao. Và chủ nhân thật sự của các tập đoàn này sẽ là các đảng viên cỡ bự (hoặc con cháu họ). Để bảo vệ cho lợi nhuận và quyền lợi tối đa của mình các tập đoàn tài phiệt này sẽ dùng tiền (để mua chuộc) và quyền (để áp đặt) các chính sách có lợi cho họ.

Tôi không tin rằng nhà nước VN đang nỗ lực để hạn chế vai trò và ảnh hưởng của các nhà tài phiệt này.Việc cho nhập xe ôtô cũ vào VN (một vấn đề đang rất thời sự nóng hổi) không hẳn là vì một môi trường lành mạnh cho thị trường ôtô mà vì lợi nhuận khổng lồ từ việc buôn bán ôtô cũ sẽ mang lại. Mong muốn sỡ hữu được một chiếc ôtô là một mong muốn chính đáng của mọi công dân, và mong muốn đó còn là biểu tượng của sự thành đạt, nên thị trường ôtô ở VN còn rất lớn và triển vọng trong tương lai. Chúng ta cũng không quên rằng tỉ phú người Nga gốc Do Thái Berenhepski, hiện đang lưu vong tại Anh đã kiếm được hơn 3 tỉ đôla tự việc buôn bán ôtô cũ vào Nga.

Nếu không sớm thừa nhận và chuẩn bị sống chung với nó, thì các nhóm lợi ích tư này có thể ngăn chặn cải cách, hoặc làm quá trình cải cách tuột khỏi sự kiểm soát, tạo ra một xã hội được thống trị bởi thiểu số (orligarchy). Tác giả Nguyễn An Nguyên nhận xét hoàn toàn chính xác. Và khi của cải nằm trong tay một số nhỏ và sự tái phân phối không công bằng, tức là hố giàu nghèo quá lớn sẽ gây ra rất nhiều vấn đề xã hội nghiêm trọng mà nhà nước rất khó lòng giải quyết.

Việc tiếp tục cổ phần hóa các doanh nghiệp và công ty của nhà nước sẽ phải tiếp tục diễn ra và “Nhất định các nhóm lợi ích thèm thuồng và đang ráo riết chuẩn bị cho cuộc thâu tóm. Và nhất định là nếu ý chí của nhà cầm quyền không thống nhất trong khi pháp luật còn lỏng lẻo, sẽ không gì có thể ghìm cương được họ” (Nguyễn An Nguyên).

Hai biện pháp đối phó với tiến trình không thể đảo ngược này mà tác giả Nguyễn An Nguyên đưa ra rất rõ ràng và cụ thể: “ Một là, bất kì nhà nước nào muốn độc lập về chính sách đều phải tạo ra cho được cơ chế kiềm chế và đối trọng giữa các nhóm lợi ích tư. Sự cạnh tranh giữa các nhóm có quyền lợi đối nghịch sẽ làm giảm bớt sức tấn công vào nhà lập chính sách. Thực tế là việc hình thành các nhóm lợi ích tư mới, hưởng lợi từ cải cách ở VN còn khá chậm chạp. Muốn tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, nhà nước phải chủ động nâng đỡ các nhóm mới này làm đồng minh cho mình.

Hai là, các nhóm lợi ích công (các nhóm bảo vệ môi trường, bảo vệ người tiêu dùng, hỗ trợ nông dân, công đoàn v.v.) và truyền thông có thể là khắc tinh của các nhóm lợi ích tư. Bởi vì yếu huyệt của các nhóm lợi ích tư là họ khó biện minh được cho lợi ích ích kỉ của mình. Họ thường thông qua những vận động hậu trường nhằm thay đổi chính sách. Khi đương đầu với các nhóm lợi ích công trên báo chí, họ sẽ không còn có thể “múa tay trong bị” như khi một mình đem tiền đến nhà các quan chức. Để đảm bảo cho mỗi chính sách trong tương lai thực sự đại diện cho lợi ích của số đông, nhất thiết phải tạo điều kiện cho các nhóm lợi ích công hình thành. Đương nhiên, muốn có đồng minh tin cậy, nhà nước phải nới bớt quyền kiểm soát với chính các đồng minh ấy trước”.

Như vậy, vấn đề mà tác giả đặt ra là nhà nước phải tạo điều kiện cho các Hiệp hội độc lập bảo vệ quyền lợi của từng “nhóm lợi ích công” được thành lập. Nhà nước phải hỗ trợ, nâng đỡ, tin tưởng vào các tổ chức đó. Đó sẽ là các “đồng minh” giúp nhà nước chống lại sự bành trướng của các nhóm tài phiệt. Đồng thời tiêu chuẩn minh bạch trong việc soạn thảo và hình thành các chính sách, cùng với sự theo dõi chặt chẽ của giới truyền thông (tức là tự do báo chí) sẽ nhanh chóng giúp nhà nước phát hiện ra các lỗ hổng trong cơ chế và bắt buộc các nhóm tài phiệt này phải chú trọng nhiều hơn vào quyền lợi của dân chúng: Nếu có hành lang pháp lý cho hoạt động lobby và quá trình ra chính sách minh bạch, các nhóm lợi ích sẽ phải thuyết phục công chúng thay vì đầu tư vào các quan chức. Sự cạnh tranh lành mạnh giữa các nhóm lợi ích sẽ góp phần soi sáng những ảnh hưởng đa chiều của cải cách và những lỗ hổng trong cơ chế.

Một lực lượng cần phải có những tiếng nói quan trọng hơn nữa trong việc hình thành và cải cách các chính sách kinh tế là thành phần kinh tế Tư nhân. Thông qua các hiệp hội của mình, hay qua báo chí…các doanh nhân này cần lên tiếng và ủng hộ mạnh mẽ các quá trình cải cách. Cần yêu cầu sự minh bạch trong các luật lệ thay vì đi đêm với các cơ quan công quyền bằng phong bì. Cần lên tiếng và phản ứng mạnh mẽ với các công ty độc quyền của nhà nước về điện, nước, viễn thông, cơ sở hạ tầng. Cần ủng hộ người dân trong việc đấu tranh đòi hỏi các quyền lợi chính đáng…Nếu không làm như vậy trong tương lai các doanh nhân này sẽ bị các nhà tài phiệt “đè bẹp” dễ dàng, hoặc là mãi mãi chỉ là các doanh nghiệp, các doanh nhân tầm tầm bậc trung…

Dù muốn hay không thì nền kinh tế của VN cũng đã như chiếc máy bay lao về phía trước, để nó dừng lại là điều không tưởng. Và nếu không muốn để nó bay chệch hướng thì nhà nước VN phải nhanh chóng lắng nghe các ý kiến rất chân thành từ các chuyên gia kinh tế, để từ đó có thể hoạch định các chính sách vĩ mô đúng đắn.

 Biết là một chuyện, có làm được hay không là một chuyện khác. Ngay cả tác giả Nguyễn An Nguyên vẫn còn phân vân khi đặt câu hỏi “Liệu có một cuộc cởi trói cho các Hội, để từ đó gây được sự ủng hộ to lớn của quảng đại quần chúng với công cuộc đổi mới, hay chính cuộc cởi trói này sẽ bị chặn lại bởi các nhóm lợi ích thủ cựu? Ẩn số này sẽ ảnh hưởng to lớn đến tương lai của đất nước.

Riêng tôi xin phép được đưa ra một lời khuyên, không phải cho nhà nước VN, (vì tác giả Nguyễn An Nguyên đã nói rất rõ ràng và cụ thể) mà là cho các nhà tài phiệt VN rằng: Hãy vì chính quyền lợi của mình trong tương lai (quyền lợi đó là danh dự, tiền bạc, cơ đồ…) mà trong quá trình thâu tóm các lợi ích của chung thành của riêng, nên cố gắng sòng phẳng và minh bạch đến mức tối đa, ngay cả khi nhà nước không yêu cầu. Sau đó phải nhanh chóng phát huy, đưa vào sử dụng các nguồn lực đó một cách có hiệu quả, và trên hết là phải mang lại lợi ích thiết thực cho nền kinh tế quốc gia nói chung và của từng người dân nói riêng. Bài học từ các tỉ phú Nga lừng danh dưới thời Enxin sau đó phải chạy “bán sống bán chết” dưới thời tổng thống mới Putin. Nhà tỉ phú dầu lửa, giàu nhất nước Nga, Mikhail Khodorkovsky đã không chạy kịp (hay không muốn chạy) đã phải nhận bản án 9 năm tù giam tại Sibêri lạnh giá…