30 tháng 4, con người từ những bóng ma

NAM DAO

  

 

Toà Soạn Đối Thoại :Nhà Văn Nam Dao tên thật là Nguyễn Mạnh Hùng, hiện là giáo sư bộ môn kinh tế của Trường Đại học Tổng hợp Quebec, Canada. Nam Dao là một trí thức trưởng thành trong giai đoạn khắc nghiêt cuả lịch sử 1945-1975. Trước khi trở thành Giáo Sư Đại Học Nguyễn Mạnh Hùng và nhà văn Nam Dao, Nam Dao là một thanh niên yêu nước. Vì mang tình yêu nước trong tim nên Ông đã trải đời mình với nổi trôi cuả mệnh nước và cưối cùng , sau 30 năm chiến tranh chấm dứt, Nam Dao phải đứng bên này đại dương nhìn về tổ quốc với những trăn trở khôn nguôi.           

***

 

 

Độc Lập quốc gia? Thống Nhất đất nước? Giải Phóng dân tộc? Thực chất những tiêu ngữ kia là gì trên cơ sở những sử liệu hiện có? Sau 30 năm chiến tranh, dân tộc Việt Nam được gì, mất gì? Sau 30 năm từ ngày 30-04-75, Tự Do đâu? Hạnh Phúc đâu? Không thể không hỏi có phải xương máu hàng chục triệu con người xưa kia đổ ra là chỉ để phục vụ cho một  nền quyền lực độc tôn chuyên chế? Xin đừng xử dụng những tiêu ngữ Độc Lập- Thống Nhất-Giải Phóng để tự tâng công rồi chụp lên đầu mọi công dân một vòng kim cô xiết lại không cho ai có cái quyền tư duy tự do trên những vấn nạn của một xã hội đang chông chênh trên vực bờ hủy diệt...

  

                  Tôi sinh ra đã luân lạc. Hai tháng vào cuộc trần gian, tôi từ Hải Hậu chạy đói và chạy loạn lên Nam Định. Năm sau, về Văn Ấp với mẹ, tôi sống trong gia đình ông bác trong vùng tự do, tập đi thì lững chững đuổi những cô bướm áo vàng sắc lụa, những chú chuồn kim thân xanh mầu biển, tập nói thì ngọng ngịu hát ...ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng. Khi Tây càn tôi chìa khẩu súng bằng gỗ do ông anh họ đẽo cho qua lỗ châu mai căn hầm bắn ra, miệng kêu đùng đoành, khiến bà chị hốt hoảng bịt lấy miệng, cấu vào tay, mặt cắt không còn hạt máu, kêu nho nhỏ im đi kẻo chết. Kinh nghiệm  kháng chiến chống Pháp của tôi chấm dứt bằng sự ám ảnh im đi kẻo chết, và chẳng biết thế nào, trên những bước truân chuyên một đời, tôi lúc nào cũng mang phản xạ chống lại cái ấm ức ngậm miệng mặc cho là  không nói ra thường đồng nghĩa vớí cách ứng xử khôn ngoan để tồn tại. Mẹ tôi dinh tê khi cha tôi từ Cao Bằng xuôi về. Cha tôi bỏ giấc mơ kháng chiến sau khi chính phủ Bảo Đại được thành lập, về hợp tác và đưa chúng tôi đến nơi nhiệm sở là quận Kiến Thụy. Năm ấy tôi lên năm, bắt đầu cảm nhận được có một cái gì đó chông chênh như những nỗi buồn vô cớ khi tôi nghe chị Thược hát. Chị thời đó đã nhón chân bước vào thời con gái, dịp nghỉ học về ở chơi với thầy me, cứ khi trời mưa là ra đứng dưới mái gianh, hát nho nhỏ ...ai có nghe tiếng hát hành quân xa...mà không nhớ thương người mẹ già, ngồi đan áo cho con...Quận Kiến Thụy bị Việt Minh tấn công. Không khí bất ổn đưa chúng tôi lên tỉnh Kiến An. Ngày đi, tôi tìm chị Thược trao cho chị cái hộp gỗ tôi thường bắt cào cào châu chấu bỏ vào. Tại sao, chị hỏi. Tôi lúng búng, đáp không biết. Nhưng chỉ khi chị nhận tôi mới thở phào để rồi mãi những năm sau tôi hiểu ra là mình đả trả một món nợ vô hình mình tự gán cho mình. Kiến An năm sau cũng lại bị đột kích. Gia đình chúng tôi lên Hải Phòng, và năm 54 chúng tôi di cư vào Sài Gòn trên một chiếc máy bay phải nằm bò trên sàn, lắc lư, ói mửa theo độ dập dình lên mây xuống gió. Chín năm sau, tôi lại lên máy bay, lần này có ghế ngồi, bay qua Thái Bình Dương. Và đến nay, tôi đã sống 42 năm ở nước ngoài. Nhưng tôi vẫn trăn trở với những món nợ. Một người bạn chí tình bảo, cậu có nợ là nợ nơi cưu mang cậu, để cậu có dịp học hành, làm người, cớ sao cậu cứ dằn vặt mình vì những chuyện trời ơi ở cái xứ sở đã từng đuổi cậu ra ngoài như một thằng tội phạm. Những chuyện trời ơi! Không. Cái ngôn ngữ tôi cưu mang như hành trang trong cả những giấc mơ dữ lẫn lành, điều cho phép tôi xác định mình trong 6 tỉ con người ở trên trái đất ? Cái lịch sử đất nước khiến tôi, khi tự hào, khi buồn tủi, vẫn là một phần lịch sử của chính tôi? Tôi không đếm số năm để cân đo sức nặng của một ràng buộc. Cái hộp gỗ trao tay chị Thược chưa đáp đền được câu hát về những bà mẹ già chờ con, những người lính đã nằm xuống trong những cuộc hành quân mà đìểm hẹn cuối cùng là chốn u linh. Được mất trong cuộc trần gian đều thành vô nghĩa cho kẻ đi nhưng lại vô cùng quan hệ đến kẻ ở. Nhưng tôi, là kẻ ở lại. Tôi, một người mắc nợ. Và lại là cái nợ tự gán nên dẫu biện bạch cách nào tôi cũng không thể trốn nợ cho được.

Tôi viết những dòng chữ này để trả nợ. Nợ những người đã nằm xuống. Nợ những người còn sống. Nợ những bóng ma chưa siêu thoát. Tất cả, tôi đã gặp trên nẻo đoạn trường những con đường xa. Cái nợ khi nhân cách hóa thành là nợ những khuôn mặt trên những con đường tình cờ. Và cái nợ cuối cùng là tôi nợ một người bạn trẻ, tên Nguyễn Bình Minh, hứa sẽ trả khi chúng tôi cùng đến một cái mốc năm tháng khó quên. Sắp tới ngày 30-04. Đếm, thế là đã 30 năm từ ngày Giải Phóng. Sờ lên, đầu tôi nay chập chờn lau trắng. Tôi còn bao nhiêu thời gian? Đã là lúc ngoảnh nhìn về sau. Nhưng để làm gì?

 

                  Tôi gặp Bình Minh trong chuyến về Huế cách đây dăm năm. Đi thăm lăng Minh Mạng, lơ ngơ thế nào tôi hụt mất chiếc thuyền máy chở khách tham quan đủng đỉnh rời bến mặc cho tôi vẫy tôi gọi. Một thanh niên lễ phép đề nghị chở tôi bằng Honda rượt thuyền. Leo lên sau, xe vù đi trên những con dốc ngoằn ngoèo, leo lên rồi trượt xuống, làm xiếc mà không khán giả, đùa với những tai hoạ của tình cờ. Thôi em, khỏi rượt thuyền. Xe ngừng. Tôi thở ra, buột miệng, đường xa thấy nỗi sau nay mà kinh. Bình Minh trầm trồ, a...anh cũng thuộc Kiều. Chuyện trò, tôi mới biết Bình Minh người Nam Đàn, Nghệ An. Bình Minh thốt, quê Bác đấy. Tôi mỉm cười, này cậu có biết cái câu sấm Trạng Trình gì có nơi ... bò rống rồi Nam Đàn sinh thánh không? Anh hỏi thật hay lỡm? Tôi đáp, thật. Tôi hỏi, cậu ở Nghệ, vô đây làm chi? Bình Minh đáp, em đi học Quản Trị ở đại học Huế. Nói đến đó, Bình Minh chép miệng, thật ra thì em thích môn Sử, nhưng đất nước mình cần làm kinh tế tốt đã! Bình Minh hỏi lại, tôi đáp tôi giảng dậy Kinh Tế, nhưng chỉ “lý thuyết’’ chứ chẳng thể kiếm ra tiền ức tiền triệu để mà xây dựng đất nước đâu. Bình Minh có vẻ thất vọng. Tôi thấy thế, đành nói, thì ta trao đổi chuyện Sử vậy, đó cũng là điều tôi rất quan tâm. Mắt sáng lên, Bình Minh gật đầu. Tôi lẩy Kiều:

Ngoảnh nhìn một cuộc vần xoay.

Đường xa thấy nỗi sau này mà kinh...

                  - Những ngày này ở Huế, sinh viên được nghỉ. Nếu anh muốn, Bình Minh vui vẻ, em sẽ hướng dẫn du lịch cho anh.  

Ngoảnh nhìn...

 

                  Bình Minh đưa tôi đến đàn Nam Giao, nơi vua chúa nhà Nguyễn tế lễ đất trời cho mưa hoà nắng thuận. Trời mưa sụt sùi, nay nhìn lại những tấm ảnh chụp ngày đó mà tưởng chúng vẫn còn hoen ố nước, tiêu điều dưới bầu trời nặng trĩu mây đen. Khi đó tôi buột miệng: Ai vô xứ Huế thì vô… Nay, có đâu người sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang!  Bình Minh nói tiếp, rồi nửa đùa nửa thật, lập lại câu danh ngôn, rằng nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý đó... Tôi nhẫn nại nghe Bình Minh, hỏi lại “Thế cậu có đọc Hoàng Lê nhất thống chí chưa? Cậu có để ý khi Nguyễn Nhạc gặp vua Lê, hai người còn nói với nhau là nước tôi với nước ông... Nếu bảo nước Việt Nam là một, thì chỉ bắt đầu với Gia Long, tức là từ 1802. Kể cái thời gian 80 năm bị thực dân Pháp phân ra làm 3 Kỳ, sau là 10 năm kháng chiến chống Pháp, rồi 20 năm chia cắt từ hiệp định Genève đến 1975, thì thời gian cho nước Việt Nam là một quá ít ỏi...’’. Bình Minh chau mày “...còn dân tộc, là một?’’. “Cũng không! Việt Nam là một lãnh thổ đa sắc tộc. Nhưng chúng ta có một ngôn ngữ chung cho đa số là người Việt. Có chung một ngôn ngữ, tức chia chung một văn hóa. Thể hiện của văn hóa là những con người sinh nhai thế nào, sống với nhau ra sao, đồng thuận cơ bản về một thể chế xã hội, một hướng nhìn tương lai, và góp tay xây dựng tương lai đó! Nhìn dưới góc độ này thì chưa là một đâu ...’’.

                  Chúng tôi lên Honda. Bình Minh đưa tôi vào Thành Nội, mặt thoáng nét băn khoăn. Đã định thôi không nói chuyện lịch sử nữa, tôi lăng nhăng hỏi qua quít này nọ, nhưng Bình Minh đáp nhát gừng. Ngừng xe, Bình Minh chỉ, đây là Ngọ Môn. Nhìn lên, tôi nghe Bình Minh nói, chỗ này là nơi Bảo Đại đọc chiếu thoái vị. Nơi đó, nay sơn son thếp vàng như một cái cổng chùa Tầu. Chạnh nghĩ đến hôm đi thăm đền vua Đinh tuần trước ở Hoa Lư, chỗ nào cũng một kiểu, bôi đỏ loe đỏ loét...Tượng thì vẽ lại, một anh cán bộ phụ trách trùng tu những di tích lịch sử bảo, phát hiện họa sĩ vẽ râu, vẽ cả cho Dương Vân Nga rồi lại phải xóa, có ai biết là đàn bà đâu! Tôi nhìn những cột gỗ lim hai người ôm. Một cột, mối ăn thủng một đầu, vứt lăn lóc cạnh lối đi, lên nước bóng loáng sau cả nghìn năm trơ gan cùng tuế nguyệt. Những chiếc cột khác, nay đều sơn son thếp vàng, vẽ rồng vẽ phượng, và nhất là những đám mây cho rồng bay phượng múa. Bật miệng, tôi nói cứ để nguyên mới đẹp. Anh cán bộ cười: ‘’ để nguyên thì lấy đâu ra ngân sách, trên Ủy Ban nhân dân bảo thế, muốn có tiền thì phải vẽ ra chuyện mà làm chứ! Truyền thống bây giờ cực hợp thời, anh ạ! ‘’. Tay xoa cái cột mối ăn, tôi suỵt soạt tiếc rẻ. Anh cán bộ bảo, thích lấy về mà dùng, tôi đổi anh nửa con dê. Lúc đó tôi nhìn ra chân núi. Ở Hoa Lư, người ta nuôi dê, hàng đàn. Vấn đề là làm sao chuyên chở cái cột mối ăn có thể sẽ bị chẻ ra làm củi. Đành chịu!

                  Bình Minh vào mua vé tham quan. Đứng đợi, tôi ngẩn ngơ nhìn, như thấy lại Bảo Đại mặc hoàng bào, trân trối nhìn lá cờ quẻ Ly kéo xuống, và cờ đỏ sao vàng kéo lên. Trao ấn kiếm cho Trần Huy Liệu, một vương triều cáo chung. Gia Long, người đã mang Bá Đa Lộc vào đất nước mình, dặn Minh Mạng phải coi chừng bọn Tây Dương. Thế là cấm đạo, rồi phân tháp, rồi bế quan tỏa cảng. Chỉ 60 năm sau khi nhà Nguyễn nắm quyền, thực dân Pháp đã chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam bộ. Cuộc xâm lăng tiếp tục đến 1884 thì Tự Đức không còn gì ngoài cái ảo tưởng trị vì của một ông vua chỉ còn cái ngai bằng gỗ sơn son thếp vàng. Khi Nhật biết sẽ bại trận, Bảo Đại được phép tuyên ngôn độc lập và xin trả lại Nam kỳ về một nước Việt Nam thống nhất. Nhưng chỉ một việc chuyển gạo miền Nam ra cứu 2 triệu người chết đói ở Bắc kỳ cũng không làm nổi. “Thôi, Bình Minh nói, Bảo Đại xuống cũng phải!’’. Dĩ nhiên. Nhưng đừng quên công lao nhà Nguyễn. Từ thuở Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân, họ đâu ngồi yên, xua quân Nam tiến[i]. Người Việt chúng ta cũng từng đi xâm lăng. Vương quốc Chăm bị tiêu diệt. Người Chân Lạp giạt xuống cực Nam, rồi về phía Tây, nơi nay ta gọi là Campuchia. “Bây giờ lại có vấn đề ở Tây Nguyên đấy!’’ Bình Minh chép miệng.

                  Chúng tôi vào Thành Nội. Nhìn quanh, không mấy khác với Cấm Thành ở Bắc Kinh, chỉ nhỏ hơn, nghèo hơn. Nhưng khung cảnh chung quanh tuyệt vời. Tôi hỏi, nơi nào là nơi ở sông Hương mà Nguyễn Huệ chọn làm chỗ tiến công kinh thành Phú Xuân do tướng nhà Trịnh trấn thủ. Không ai biết. Bình Minh hớn hở  “Tây Sơn mới là triều đại đã thống nhất đất nước, có phải không anh?’’. Không. Nhưng chẳng lẽ cứ tiếp tục thế này, gì cũng không à? Lỡ rồi nên tôi tiếp, Nguyễn Lữ vào Gia Định nhưng không bao giờ ở lâu, hễ có chuyện đao binh là lại “zọt’’ về Qui Nhơn. Nhạc thì thích thú làm ông vua một cái thành nhỏ. Phần Huệ, tham vọng lớn hơn, nhưng chỉ lên ngôi vua khi đại phá quân Thanh, về ngồi chưa kịp nóng ghế Hoàng Đế ở Phú Xuân đã vội ra người thiên cổ[ii]. Cuộc khởi nghĩa nông dân là chuyện tào lao, vì dưới thời nào cũng sưu cao thuế nặng, bắt lính xung quân, bỏ con thơ vợ dại, đi đánh nhau thì đánh cho ông tướng bà chúa, làm gì có cái chuyện ý thức “giai cấp đấu tranh’’ đời sau tô vẽ ra [iii]. Nói xong, tôi biết là Bình Minh bực bội. Không kìm được, Bình Minh hỏi “Sách vở em học, đều nói thế! Anh lấy chứng cớ gì mà cứ nói ngược?’’.

                  Thế ai thống nhất đất nước? Bình Minh thắc mắc. Nếu gọi đất nước là từ Nam Quan đến mũi Cà Mâu thì Gia Long là người làm cái việc thống nhất đầu thế kỷ 19, tôi đáp. Sau, thì sao? Bình Minh gặng hỏi. Khi ấy chúng tôi bước về phía sau Thành Nội. Tôi không đáp, lặng nhìn một bức tường đổ nát nằm chắn ngang, sạt hai đầu, trên lổn nhổn những lỗ đạn xoáy vỡ lớp ngoài để phơi ra lớp trong mầu trắng đục như xương người. Những viên đạn đó bắn ra trong cuộc tổng công kích và nổi dậy năm Mậu Thân, để lại cho những năm sau một Huế ngổn ngang thương tích. Không thấy tôi trả lời, Bình Minh vung tay, nói như đinh đóng cột :

                  -  Sau, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã giải phóng dân tộc, giành độc lập, và thống nhất đất nước! 

                  Tôi nhìn vào cặp mắt Bình Minh trong sáng, lòng bỗng chớm ngậm ngùi. Em đã được học gì trong lịch sử cận đại thì tôi cũng biết. Ba mươi năm qua, không hiểu bao nhiêu lần câu trên được lập đi nhắc lại đến độ tiềm thức cũng mất phản xạ, não bộ thu và nuốt thông tin không cần lý lẽ để tiêu hóa, tất cả nhằm đưa ba vòng hoa vinh quang là độc lập - giải phóng- thống nhất  lên bàn thờ Tổ Quốc như của thế chấp cho những kẻ cầm quyền, bất luận thực tiễn nay ở đâu, và tương lai mai mốt thế nào. Nguy hiểm hơn, ba vòng hoa kia ngụy hóa thành ba vòng kim cô, xiết vào đầu những kẻ nào suy nghĩ chệch đường phép tắc chính thống. Tôi nhỏ nhẹ:

                  - Không ai phủ nhận kiểu phẩy tay bảo Đảng không công lao.  Nhưng bây giờ, đâu phải lúc tranh công luận tội, chẳng ích gì. Có lẽ điều phải quan tâm là thực chất và nội dung  những điều em vừa nói và cái giá phải trả, với những sự kiện lịch sử nhìn từ nhiều chiều và có thể kiểm chứng được. Phải tránh ngộ nhận, những úp mở có ý đồ đánh lận con đen, những sự thật cắt xén kiểu gọt chân cho vừa giầy...

Độc lập?

                 

                  Ngày xưa, tôi rất băn khoăn với những điều Bình Minh vừa mới đề cập tới. Trước khi hoạt động phản chiến với những người trong Hội Việt Kiều Yêu Nước ở Canada, tôi bỏ ra nhiều thời gian để tìm hiểu cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhớ lại những trao đổi với bạn tôi, một người có suy tư độc lập tham gia phong trào thời đó, tôi kể :

                  -  Bản Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 2-09-1945 là món tả pí lù, tôi phẩm bình, câu đầu lấy trong bản tuyên ngôn Mỹ, vài câu sau thì là tuyên ngôn nhân quyền của Cách Mạng Pháp, rồi 3 chữ Độc Lập- Tự Do- Hạnh Phúc biểu trưng cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thì lại từ chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Dật Tiên bên Tầu!

                  -  À, bạn tôi chép miệng, khi Nhật đầu hàng, từ vĩ tuyến 16 trở ra, quân Anh-Ấn đến giải giới. Còn miền Bắc là quân Tưởng Giới Thạch, có hậu thuẫn của Mỹ. Thế nên phải đánh bài ba lá, tuyên ngôn thế nào cho đẹp lòng tất cả thôi...Nhưng chuyện quan trọng hơn là Hiệp Định Sơ Bộ (HĐSB)!

                  - ...?

                  -  Mười tám vạn quân Trung Hoa Dân Quốc vào giải giới quân Nhật, theo chân là Quốc Dân Đảng và Việt Nam Cách mệnh Đồng Minh hội, đều là những đảng phái Quốc Gia chống Cộng, trong khi Việt Minh người ít, khí giới không có [iv]! Các ‘‘vị’’ lãnh đạo Đảng Cộng Sản Đông Dương lo chuyện sống còn, giải tán Đảng, thành lập Chính Phủ Liên Hiệp và cố nhanh chóng hợp thức hóa Chính Phủ qua một cuộc bầu cử Quốc Hội để có cái thế chính danh mà điều đình. Cuối tháng 2, hiệp ước Hoa-Pháp ký kết, quân Tưởng rút để quân Pháp vào miền Bắc, các ‘‘vị’’ đành gấp rút ký HĐSB, bỏ hai chữ Quốc Gia độc lập thay vào bằng hai chữ tự do, còn quyết định về thể chế ở miền Nam thì sẽ thông qua một cuộc trưng cầu dân ý. Nhưng thật oái oăm,  tự do trong HĐSB lại là tự do trong Liên Bang Đông Dương và Liên Hiệp Pháp, khi đó chưa có qui chế, rất mù mờ[v]...Hồ Chí Minh và các ‘‘vị’’ tìm cách tranh thủ thêm khi ký kết một Hiệp Định Pháp-Việt chính thức ở Fontainebleau vói Chính Phủ Pháp!

                  - ...và lại bất thành!

                  - Phái đoàn Chính Phủ Việt Nam bỏ về trước. Hồ Chí Minh ở lại, ký được bản Tạm Ước, nội dung là một bước lùi so với HĐSB, chiều hướng là Việt Nam sẽ chẳng có quân đội và ngoại giao riêng trong Liên Hiệp Pháp[vi]. Một hội nghị dự định sẽ họp ở Hà Nội vào tháng 2-1947 để chính thức hóa những thỏa hiệp trong Tạm Ước. Nhưng khi Hồ Chí Minh vừa lên đường sang Pháp, anh tu xuất D’Argenlieu, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương, đã đơn phương lập ra Chính Phủ một nước Nam Kỳ tự trị, tiến đánh Tây Nguyên và vùng thượng du Bắc Kỳ. Ở Pháp, mặc dầu đảng Cộng Sản Pháp trở thành chính đảng số một và liên minh với đảng Xã Hội để thành lập Chính Phủ phe tả, không có  một dấu hiệu gì khả quan cho Việt Nam. Ai cũng biết chiến tranh rất khó tránh[vii]!

                  -...

                  -  Sau là cuộc xung đột ở Hải Phòng, và lệnh Kháng Chiến Toàn Quốc vào ngày 19-12-1946. Khi đó, dân khí lên rất cao, dân ở mọi tầng lớp nơi nơi tản cư, tòng quân, về vùng tự do và các chiến khu, tiếp tục chiến đấu giành độc lập. Bốn năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp với những anh bộ đội cụ Hồ có thể là những năm đẹp nhất của cả dân tộc trong thế kỷ 20. Đẹp và  lý tưỏng vô cùng! Chỉ một điều đáng tiếc...

                  -...

                  -...là song song với cuộc kháng chiến chống thực dân, các ‘‘vị’’lại ươm mầm cho một cuộc nội chiến. Trong cái thế đấu tranh chính trị đầu năm 46 giữa Việt Minh và những người Quốc Gia (Việt Cách và Việt Quốc), chuyện khủng bố từ cả hai bên đáng tiếc nhưng khó tránh. Nhưng sau đó, khi Quốc Gia đã bỏ chạy, Việt Minh truy kích và tiếp tục một cuộc tàn sát có thể nói là không mấy cần thiết! Số người chết có thể lên đến 4,5 vạn[viii], ở chiến khu 3 của Việt Nam Quốc Dân Đảng, chiến khu Hòa Bình-Ninh Bình của Đại Việt Duy Dân, những thành viên của Đại Việt Quốc Dân đảng, nhóm đệ tứ Trốt-Kít, người của Việt Nam Quang Phục hội sau theo Việt Cách...Rất nhiều yếu nhân những đảng phái Quốc Gia bị thủ tiêu. Tạm kể, có Trương Tử Anh, Lý Đông A, Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Huỳnh Phú Sổ, Khái Hưng ...Tóm lại, phe Quốc Gia mất gần hết những lãnh tụ có bản lĩnh. Thực dân Pháp vỗ tay, vì sau, nếu có chính phủ Quốc Gia nào thì khả năng họ cũng chỉ làm bù nhìn, đúng như với Chính Phủ Bảo Đại thành lập ra cuối năm 1949 sau khi Pháp chấp nhận Việt Nam độc lập trong Liên Hiệp Pháp với những điều kiện còn rộng rãi hơn HĐSB trên giấy tờ văn bản. Và Việt Minh, với lá cờ chống Pháp thu về tay, khi phất sẽ phất một mình, ai không theo tức không yêu nước, tức Việt gian, tức phản quốc, đúng sách lược Xứ Ủy Bắc Bộ đã vạch ra từ thời tiền khởi nghĩa, vào tháng 3-45, với  “Đội Danh dự trừ gian’’ mà nhiệm vụ là đi ám sát...

                 

Trả giá nào cho một chiến thắng?

 

                  Chúng tôi bước lên thềm điện Thái Hòa. Ngai vua, nay cũng lại sơn son thếp vàng, trơ trẽn nằm giữa một cái thảm đỏ xung quanh chăng dây chặn không để khách tham quan đến gần. Chiếc ngai nhỏ, chắc xưa các vị vua triều Nguyễn không cao lớn gì, vừa vặn với cái tầm nhìn không quá được tháp chuông chùa Thiên Mụ, chẳng bì được với Minh Trị Thiên Hoàng, kẻ kịp thời canh tân nước Nhật giữa thế kỷ 19. Bước vòng vòng theo chân một đám du khách, tôi nói cái ý ngộ nghĩnh đó rồi im lặng. Bình Minh có vẻ nóng ruột, tấp tểnh rủ ra ngoài, tôi trù chắc thế nào cũng hỏi thêm về nước Nhật canh tân. Nhưng tôi đoán nhầm. Nhìn sau không còn thấy ai, bấy giờ Bình Minh lấy giọng nghiêm trọng :

                  - Nhưng rồi đến chiến thắng Điện Biên, cả thế giới khâm phục ta! Rõ ràng là Pháp thua, phải ký Hiệp Định Genève nhé...

                  - Tôi cũng khâm phục, như nhiều người, dĩ nhiên! Nhưng chúng ta trả cái giá nào cho chiến thắng ấy?

                  - Cái gì mà không có giá của nó. Đúng là ta thiệt hại rất nhiều, nhưng Tướng Giáp đâu có dùng chiến thuật biển người kiểu các cố vấn Tầu đề nghị...

                  - Tôi không định chỉ đề cập đến cái giá trả bằng sinh mạng và thương tật của hàng vạn con người. Đúng là khi nghĩ đến những chiến sĩ đã hy sinh, dẫu có đau lòng nhưng chúng ta chấp nhận rằng chiến thắng nào mà chả dựng trên vô số những nấm mồ của những kẻ nằm xuống. Tôi định nói đến những chuyện khác, oái oăm hơn...Có 2 điều. Thứ nhất, chiến thắng ở Điện Biên Phủ ( ĐBP) lẽ ra phải dẫn đến những thắng lợi ngoại giao ở Genève, nhưng thực ra Hiệp Định (HĐ) Genève lại là một thất bại khó chối cãi [ix]. Tại sao? Bởi dẫu chiến thắng quân sự,Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa của các ‘‘vị’’ lại thất bại trên mặt ngoại giao vì nước ta mất không hẳn có độc lập. Từ đó, thứ hai là, cũng vì vậy, trong giai đoạn 53-56, Việt Nam phải tiến hành một cuộc Cải Cách Ruộng Đất (CCRĐ), một mặt vì nhu cầu vận động nông dân đóng góp vào cuộc chiến đổi lấy giấc mơ muôn đời là người  cầy có ruộng, mặt khác vì bị Trung Quốc và Liên Xô áp đặt mô hình XHCN  thời đó. CCRĐ đã phá nát truyền thống đạo lý, gây ra những nứt rạn không hàn gắn được trong xã hội, nhất là ở nông thôn. Chuyện này dẫu dấu nhẹm trong một thời gian, sau này ai cũng biết!

Bình Minh lắc đầu chau mày :

                  -   Sách em học lại viết rằng ngay sau khi ký kết, ngày 22-07-1954, Bác Hồ nói: “... ngoại giao ta đã thắng lợi to ’’ cơ mà !

                  -   Phải nhìn lại cái thế của ta trong bối cảnh toàn cục thế giới. Nhưng ngoài tinh thần anh dũng của bộ đội và tài năng của tướng Giáp, ta cần gì mới có thể đoạt được chiến thắng Điện Biên Phủ? Súng, đạn, lương thực…Và một hậu phương chắc chắn, là Trung Quốc, năm 49 đã về tay Đảng Cộng Sản và Mao Trạch Đông. Chúng ta không thể đánh giặc với tay không! Trước năm 50, với chính sách của Pignon, Pháp đã có ý đồ Việt Nam hóa chiến tranh. Đến năm 51-52, lực lượng người Việt trong quân đội cũng như Bảo Chính Đoàn, gọi là Quân Đội Quốc Gia, lên trên 220.000 người [x]. Đó là chưa kể số quân nhân Pháp, Marốc, Sênêgan…trong những binh chủng chính qui, được Mỹ trang bị vũ khí tối tân, với không quân và hải quân cũng như những lực lượng cơ động áp đảo hoàn toàn trên trời và dưới biển. Tháng 2 năm 50, ông Hồ Chí Minh sang Bắc Kinh rồi Mạc Tư Khoa, đề nghị với những nước “anh em’’(!) chính thức công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà như một Quốc Gia, và giúp ta trong chiến tranh chống Pháp. Dĩ nhiên, cái giá phải trả là quay theo cái quĩ đạo của những nước Cộng Sản[xi]. Đổi lại, là khí giới và, ở một mức nào đó, cả lương thực… Chỉ sau Chiến dịch Biên giới, thế giằng co với lực lượng quân đội Pháp mới có chiều thay đổi. Pháp thua, rồi trận cuối cùng là ĐBP. Thế nhưng 9 năm máu xương kháng chiến ta lấy lại được gì? Một nửa đất nước với HĐ Genève. Chia cắt đất nước đau lòng lắm chứ. Trưởng phái đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Phạm Văn Đồng đề nghị chấp nhận một Việt Nam thống nhất sẽ tiếp tục ở lại trong Liên Hiệp Pháp[xii], tức là quay lại khởi điểm 9 năm trước, ngày Hiệp Định Sơ Bộ ký kết vào 6-03-1945. Nhưng quá muộn, Pháp buông tay ở Đông Dương cho Mỹ nhẩy vào[xiii]...

                  - ...còn bối cảnh quốc tế anh có đề cập tới? Bình Minh ngắt.

                  -  À, thế này : Đầu năm 1954 Liên Xô đề nghị nên giải quyết vấn đề Đông Dương. Khi đó, tại hội nghị Berlin, ngoại trưởng Pháp, Anh, Mỹ đồng ý sẽ bàn chuyện Đông Dương ở Geneve, có thêm Trung Quốc và Ấn Độ tham gia.Thủ tướng Ấn kêu gọi hai bên ngưng chiến, nhưng lực lượng đặc biệt của Pháp với 500 cố vấn Mỹ vẫn muốn thực hiện kế hoạch Navarre, bất ngờ bị pháo kích của Việt Minh, và kéo theo bước leo thang của Mỹ trong giúp đỡ về máy bay vận tải và ném bom. Để vận động dư luận và Thượng Viện, tổng thống Mỹ Eisenhower tuyên truyền chủ thuyết Domino. Bộ Trưởng Ngoại Giao Mỹ Dulles thậm chí còn ngỏ lời với Bộ Trưởng Pháp là Bidault về khả năng dùng bom nguyên tử ở Điện Biên Phủ. Tuy nhiên, không chỉ các nước Xã hội chủ nghĩa, mà ngay cả các nước trung lập cũng muốn hội nghị Geneve khai mạc đúng hạn.  Và thế là hội nghị Geneve được tổ chức từ 26-04 đến 21-07, với nghị trình đầu là chuyện Triều Tiên, sau đó mới đến Việt Nam vào ngày 8-05, đúng một ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Ngày 10-05, phó thủ tướng Phạm Văn Đồng đưa ra quan điểm của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, đòi Pháp công nhận quyền độc lập và tự chủ của Việt Nam, nhưng cũng xác nhận sẵn sàng gia nhập Liên Hiệp Pháp. Khi ấy, hai khối  mang tên Thế giới Tự Do và Xã Hội Chủ Nghĩa đã cắt đôi nước Triều Tiên, và thế là hai nước “anh em’’ Trung Quốc và Liên Xô ép một giải pháp tương tự với Việt Nam. Nhưng cắt Việt Nam ở đâu? Ta đòi vĩ tuyến 13, rồi lùi dần...Chu Ân Lai, người ngày xưa mai mối và dự lễ cưới của Hồ Chí Minh với Tăng Tuyết Minh [xiv], nay gặp lại ông Hồ ở Quảng Châu thuyết phục để vĩ tuyến 17 trở thành vết chém ngang lưng Tổ Quốc.

                  - Sao thời đó ta không đánh tiếp? Bình Minh gằn, giọng ấm ức.

                  - Súng đạn là do ‘’anh em’’ cung cấp thì thắng bại là có phần “anh em” quyết định! Khi đó, cái kinh nghiệm chiến tranh Triều Tiên cho thấy Mỹ đã đổ quân trực tiếp tham chiến, từ phía Nam đánh bật lên phía Bắc Triều Tiên, chắc ‘’anh em’’ không muốn phiêu lưu thêm một bước!

                  - ...và hai năm sau là Tổng Tuyển Cử theo như HĐ Genève!

                  - Chuyện này thì nói để mà ‘’chơi’’ thôi!  Hoa Kỳ không ký tuyên cáo chung, chỉ xác nhận là có ghi nhận văn bản này, trừ điểm số 13, tương tự như phái đoàn của chính phủ miền nam Việt Nam Ngô Đình Diệm. Ý đồ như thế thì trẻ con cũng có thể đoán ra. Nghe kể, khi ăn bữa ‘’liên hoan’’ chia tay sau hội nghị ‘’ đạt thắng lợi’’, ngồi giữa hai vị trưởng đoàn của hai Chính Phủ miền Nam và miền Bắc, Chu Ân Lai hỏi ông miền Nam có đệ đơn xin vào Liên Hiệp Quốc không, và nếu có, Trung Quốc sẵn sàng ủng hộ. Ông miền Bắc, tức Phạm Văn Đồng, nghe mà chết sững... Chỉ tội cho tiếng sáo trên hồ Lehman!

                  - ???

                  - Một người họ Võ vấn tóc mặc áo the đến ngồi bờ hồ Lehman gần nơi diễn ra Hội Nghị thổi sáo để nói cho nhân loại biết cái nỗi đau của vết chém ngang lưng. Bình Minh có nghe có biết nhà thơ Trần Dần không?

                  - Không! Nhưng Bình Minh sáng mắt lên, tiếp, nhưng  em rất thích thơ...

                  - Ông Dần viết năm 56 bài thơ Nhất định thắng trong Giai Phẩm mùa Xuân khiến sau ông bị treo bút hơn 30 năm liền ấy mà...

                  - Em...chẳng biết gì cả. Anh nhớ được, đọc đi..

 

                  - ...Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc

                  Đất hôm nay tầm tã mưa phùn

                  Bỗng nhói ngang lưng máu nhỏ xuống bùn

                  Lưng tôi có tên nào chém trộm ?

                  A, cái lưỡi dao cùn!

                  Không đứt được mà đau

                  Chúng định chém tôi làm hai mảnh

                  Ôi! Cả Nước! Nếu mà lưng tôi lạnh

                  Hãy nhìn xem: có phải vết dao?

                  Không đứt được mà đau!

                  Lưng Tổ Quốc hôm nay rớm máu...

 

Bình Minh bần thần, mím môi, im lặng. Chúng tôi ra khỏi Hoàng Thành, men con đường Cách Mạng Tháng Tám, rẽ phố Tống Duy Tân, bước cạnh một cái viện bảo tàng trên sân lổn nhổn đủ loại loại xe tăng, nào là T175, M 113..., ta đoạt được của Mỹ-Ngụy trong mặt trận Quảng Trị, Đông Hà...và chiến dịch Đại Thắng Mùa Xuân. Nghĩa là sau Genève 20 năm.

                  A, cái lưỡi dao cùn? Nhưng súng đạn hai bên lại rất hiện đại. Và khiến trên dưới bốn triệu người cả quân lẫn dân hai bên đã mạng vong trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước? Những bóng ma vẫn đâu đây. Của Huế Mậu Thân. Của An Lộc tử thủ. Của thành cổ Quảng Trị thương tích với gạch đá hoang tàn. Bóng ma họVõ bên bờ hồ tuốt trời Tây, cây sáo cong queo nằm trong rẩy bụi vấy sương. Bóng ma Trần Dần, với vết sẹo cứa cổ rắp ranh trốn sổ đoạn trường, nhưng không thành nên lại một mình khập khễnh đi, không thấy phố, không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ, suốt trên dưới bốn mươi năm. Tôi bước, đâu đó những bóng ma quây quanh, tai chợt nghe thấy tiếng sáo văng vẳng ven sông  đệm cho những lời thơ của một người đã từng cứa cổ vì không chịu khuất phục. Bỗng Huế rải vào thế gian những bụi mưa, rất Hà Nội... Bình Minh buột miệng như để tự trấn an :

                  -  Đình chiến để có thời gian xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa là một sách lược đúng, phải không anh?

 

Đất bằng sóng dậy!

 

                  Không đáp câu hỏi giọng có chớm chút hoài nghi, tôi chỉ một quán ven sông, rủ Bình Minh vào uống nước. Chọn một góc vắng nhìn ra cầu Tràng Tiền, chúng tôi nghe mưa nặng hột gõ như cười trên mái tôn. Nhìn dăm con đò ủ dột xuôi dòng để lại những vòng nước xoáy hờ bên mái chèo, tôi không biết nói gì cho người bạn trẻ yên lòng. Bình Minh hỏi lại, mắt bỗng dưng ánh lên nét lo lắng. Tôi đáp :

                  -  Chỉ 5 năm, làm sao xây dựng gì ngay được trên cái nền một xã hội đã hàng ngàn năm phong kiến, lại mới thoát ách thực dân? Trở lại cái vế thứ hai, là khi phải dựa vào hai nước’’anh em’’ để chiến thắng ĐBP, ta không còn độc lập trong vấn đề xây dựng xã hội như ta mong muốn. Tài liệu do chính Đảng sau này khéo léo phổ biến khiến người dân có thể nghĩ rằng ông Hồ Chí Minh không cưỡng nổi áp lực của Xtalin và Mao trong phương sách tiến hành những cải tạo xã hội kiểu XHCN giáo điều. Ngay 1953, Việt Nam ta đã phát động một chính sách điền địa bắt chước kiểu Mao bên Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc. Bắt đầu là 4 đợt Giảm Tô Giảm Tức, rồi sau là 5 đợt Cải Cách Ruộng Đất (CCRĐ), chấm dứt vào 56, tức 2 năm sau Genève. Song song với CCRĐ là phong trào Chỉnh Đốn Tổ Chức (CĐTC), tiến hành với sự chỉ đạo của các cố vấn Trung Quốc có kinh nghiệm là La Quí Ba về chính trị, Vi Quốc Thanh về quân sự và Kiều Hiểu Quang về CCRĐ. Chính sách thành phần-lý lịch ra đời, với giai cấp nông dân là đội quân chủ lực xây dựng XHCN. Các đội Cải Cách về nông thôn thăm nghèo hỏi khổ, bắt rễ, xâu chuỗi, tranh thủ  bần nông cốt cán để phóng tay phát động đấu tranh chống giai cấp địa chủ, tàn dư phong kiến và (nhân tiện!) bọn Việt gian Quốc Dân đảng, bọn phản động, bọn làm ‘’gián điệp’’ tay sai cho những thế lực ngoại xâm, vân vân...Rập khuôn Trung Quốc, ta cũng phải tìm cho bằng được 5% địa chủ cường hào, tịch thu của cải - gọi là quả thực -  để phân phát cho bần nông. Nhất đội nhì Trời. Và qui thành phần, đem đấu tố, rồi mang trước Toà Án Nhân dân mà kết tội, nhẹ thì tù đầy cải tạo, nặng thì tử hình. Ai không chịu tham gia, tức có liên quan thành phần, và thế là cũng có tội, bị cách ly với quần chúng cách mạng, bị ruồng bỏ. A, cái chỉ tiêu 5% khó làm sao! Và chỗ nào cũng thi đua đấu tố, cũng đạt thắng lợi, cũng nêu thành tích...nên địa phương nào không có, hay không đủ, địa chủ cường hào thì ‘’đánh lên’’ thành phần. Tiếng hát vang vang ‘’Nông dân là quân chủ lực’’, lẫn trong tiếng trống ếch thiếu nhi, biến nông thôn thành nơi bần nông có kẻ ‘’tố điêu’’, có người ‘’tố vấy’’, rủ nhau hôi của, tranh cửa cướp nhà. Bấy giờ, không thiếu những chuyện vợ tố chồng, con tố cha, anh em, chú bác tố nhau, giết nhau. Làng xã Việt Nam, nền tảng truyền thống và đạo lý của xã hội, bị xới tung lên, chẻ nát ra, cùng với những con  người không còn gì ngoài cái bản năng mà phần thú tính nghiền phần nhân tính ra thành những mảnh vỡ khó lòng hàn gắn lại [xv]. Đồng thời, CĐTC được tiến hành, thực chất là Đảng của các ‘’vị’’ thanh trừng nội bộ để sắp xếp lại bộ máy quyền lực từ trên xuống dưới. Bao nhiêu đảng viên oan, bao nhiêu chết, bao nhiêu gia đình tan nát? Ông Võ Nguyên Giáp nói độ 8.000 người. Có kẻ bảo 20.000. Con số đích xác thì Đảng biết, nhưng 60 năm qua rồi vẫn cứ ‘’bảo mật’’. CCRĐ đưa đến những công phẫn ngay trong giai cấp nông dân chủ lực. Nạn nhân đấu tố là cường hào ác bá địa chủ thì đã đành, nhưng chỉ 5% và đã bị đấu. Nhưng còn chuyện quả thực chia không công bằng. Ruộng thấp ruộng cao ruộng xấu ruộng tốt phân cho bần cố cũng không công bằng. Hỏi ai đây? Nhưng cứ nhất Đội thì hỏi Trời cũng vô ích. Trời hạng nhì, vả lại qui thành phần thì qui thế nào? Tháng 9 năm 1956, Trung Ương Đảng họp để tổng kết thành quả CCRĐ.  Đại Tướng Giáp, người anh hùng ĐBP, thay mặt Đảng ra nhận sai lầm trước nhân dân. Nhưng số nạn nhân là bao nhiêu ở miền Bắc? Không ai trong những kẻ có thẩm quyền nói gì cả. Cứ coi như nông thôn miền Bắc khi ấy độ 10, 12 triệu người, thế thì 5% số người chắc phải xấp xỉ  600,000  nạn nhân, với có thể khoảng 60,000 người bị sát hại? Lạy trời rằng không phải thế!

                  Nghe tôi bật miệng lậy trời, Bình Minh quay mặt dấu nỗi xúc động. Bây giờ, gió xào xạc thốc vào quán nước. Cô tiếp đãi viên kéo áo len lên che cổ, nhìn chúng tôi, đôi mắt long lanh như thấm nước mưa của Huế da diết, Huế đế đô ngày xưa, và Huế hôm nay nghèo nàn tức tửi những tiếng hò mất hút cuối một thời sắc hương phai nhạt. Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách! Tôi ngậm ngùi, cần chi phải nhắc sắc bất ba đào...trên cái đất nước ba đào này, chòng chành đến chóng mặt!

                  -  Rồi sửa sai thế nào, anh ?

                  - Sửa thì có Đội sửa sai về thay Đội cải cách. Sai có, và sửa thì ông Trường Chinh, Tổng Bí thư Đảng và Chủ nhiệm ủy ban Cải Cách thành Chủ Tịch Quốc Hội. Ông Hoàng Quốc Việt, phó chủ nhiệm đặc trách CCRĐ, đưa qua nắm Ban Kiểm Sát. Ông Lê Văn Lương, phó chủ nhiệm lo CĐTC, về nhậm chức Chủ tịch UBND Thành Phố Hà Nội. Riêng Hồ Viết Thắng, uỷ viên thường trực của Uỷ ban CCRĐ thì có xuống, bị văng ra khỏi Trung Ương nhưng lại về trách nhiệm Ủy ban Kế Hoạch Nhà Nước. Hồ Chí Minh thành Tổng Bí Thư Đảng, cứ như người vô can! Và sai gì thì sai, có sai là chỉ chấp hành sai chứ về ‘’cơ bản vẫn đúng’’, đã ‘’cào bằng’, chia bình quân ruộng đất cho nông dân canh tác trong giai đoạn đầu, và sẽ ‘’vào hợp tác’’ trong tương lai một xã hội đúng bài bản xã hội chủ nghĩa. Dân đùa, có sai có sửa, sai đâu sửa đấy, nhưng sai đấy sửa đâu!

                  - Vào hợp tác là thế nào? Bọn em sinh sau đẻ muộn, không biết là gì!

                  - Ban đầu, ở mức thấp cho mươi mưòi lăm gia đình, hợp tác với những tổ đổi công. Sau, ở mức cao hơn, là Hợp Tác Xã, lao động tính theo công điểm, và từ đó qui ra thu nhập của nông dân. Năm 60, hợp tác trong nông nghiệp được hoàn thành về cơ bản. Chỉ ít năm sau, sản lượng xuống, dân bắt đầu ăn độn. Không đổ cho thời tiết được, trong chiến tranh người ta bảo là vì bom Mỹ. Đâu cũng một giọng, chiến tranh là cách đổ tội để biện minh cho sự thất bại của những cải cách thời bình. Nhưng ngoài chiến tranh, cái nghiệp dĩ của dân tộc từ suốt mấy trăm năm nay, còn những chuyện khác...

                  - Chuyện gì ?

                  - Sự thủ tiêu một xã hội dân sự. Với cái khẩu hiệu ‘’chính trị là thống soái’’, phương thức tổ chức một nền chuyên chính vô sản kiểu Lênin, lại kèm vào liều lượng Maoít xuất phát từ truyền thống phong kiến Trung Quốc. Từ đó, xã hội được tổ chức theo kiểu một trại tập trung. Và như thế, lại cần đến chiến tranh, điều kiện ‘’khách quan’’ để xây dựng một xã hội-trại lính

 

Bình Minh chằm chằm nhìn, đợi tôi nói tiếp. Lúc ấy, mưa tạnh hột. Trời bắt dầu tối dần, ánh đèn bên kia bờ sông Hương đã nhấp nháy thắp sáng. Cô tiếp đãi viên nhìn chúng tôi, vẻ muốn  đóng cửa quán, thu xếp lăng quăng như giục chúng tôi đi. Nhìn Bình Minh, tôi nói khẽ:

                  - Ta đi...Tìm cái gì ăn. Em có biết quán cơm Âm Phủ không?

 

Miền Nam của tôi!

 

                  Ngồi sau Bình Minh, xe chúng tôi vừa qua cầu Tràng Tiền thì mưa thình linh nặng hột rồi xối xả trút xuống như để hả một cơn ấm ức. Gần khách sạn nơi tôi ở, tôi đề nghị Bình Minh ghé lại, vừa trú, vừa mượn thêm một chiếc áo mưa trước khi đi ăn. Ngồi trong phòng khách, chúng tôi đợi cho mưa ngớt nước, nghe tiếng gió rít qua những tàn cây và tiếng sấm động từ xa vọng lại. Bình Minh bất thình lình hỏi:

                  - Như em hiểu thì anh đi di cư vào Nam, rồi du học, nhưng lại ủng hộ miền Bắc. Rồi nghe anh vừa nói, thì miền Bắc có những điều anh không ưng...Tại sao anh...bỏ miền Nam ?

 

                  Trời hỡi, tôi nào đâu có bỏ miền Nam của tôi! Chín năm sống ở Sài Gòn thuở thanh thiếu niên là quãng thời gian tôi lớn lên để biết yêu biết ghét, biết khinh biết trọng,  biết hy vọng và bám vào tương lai bằng tất cả nhiệt huyết tuổi trẻ. Chế độ Đệ Nhất Cộng Hoà ‘’ thịnh ‘’ nhất là cho đến năm 1958, sau khi chính quyền Diệm dẹp xong Đại Việt và Quốc Dân Đảng ở miền Trung, rồi Bình Xuyên, Hòa Hảo và Cao Đài trong Nam. Từ chối hiệp thương Nam-Bắc và để dân chúng tự do đi lại với lý do là miền Nam không ký vào HĐ Genève, chính quyền Diệm biết sẽ có chiến tranh nhưng chủ quan cho rằng có thể giữ được miền Nam bằng phương tiện quân sự với hậu thuẫn của Mỹ. Về mặt chính trị, chính sách tố cộng và diệt công tung ra với những đoàn thể như Thanh Niên Cộng Hòa, Phụ Nữ Liên Đới làm nòng cốt trong dân chúng. Ở nông thôn Diệm tổ chức Dân Vệ để giữ an ninh, có trang bị vũ khí thô sơ, nhưng không hiệu quả gì, nên giải pháp là phải gom dân. Lực lượng ‘’nằm vùng’’ của miền Bắc, khoảng đâu đó 60,000 người, bị cô lập với chính sách Khu Trù Mật, rồi Ấp Chiến Lược, và sau có nguy cơ bị tiêu diệt với Luật 9/59 đặt Cộng Sản ra ngoài vòng pháp luật. Trong bối cảnh đó, chính quyền Diệm từng bước phô khuôn mặt độc tài. Cố Vấn Ngô Đình Nhu, em Diệm, lý thuyết gia của Đảng Cần Lao Nhân Vị (CLNV) mượn hai chữ nhân vị của Bertrand Mounier trong phong trào Công giáo Dân chủ Tây phương cấy ghép vào hai chữ cần lao. Hai chữ này nghe mang máng như lao động của Đảng Lao Động miền Bắc, thoái thân của Đảng Cộng Sản Đông Dương đã giải tán năm 45  để phát huy sách lược Mặt Trận nhắm kết hợp được mọi thế lực dân tộc chống Pháp. Lý thuyết khập khiễng, nhưng Diệm-Nhu lại dùng Đảng CLNV như bàn đạp chống Cộng. Cuối cùng Đảng CLNV chỉ thành cách tiến thân quan trường của những kẻ qui phục Diệm-Nhu, vừa có tính địa phương, vừa nhuốm mầu sắc tôn giáo, tập trung vào miền Trung và Công giáo. Tập hợp “Bắc di cư”, một thành tố quan trọng của Lực Lượng Quốc Gia và là chỗ dựa ban đầu của nền Đệ Nhất Cộng Hòa  mất dần thế đứng.  Bà Cố Vấn Trần Lệ Xuân xuất hiện như bóng ma những Thái Hậu thời phong kiến. Cái nhân đức nổi tiếng của “cụ” Diệm, buồn cười nhất là cụ nhận một số tướng lãnh làm “con nuôi” như Nguyễn Chánh Thi chẳng hạn, trở thành cách cụ điều khiển một quốc gia trong tinh thần gia đình gốc đạo, anh có, em có, em dâu có, với các loại con nuôi chia ra nắm quân những vùng chiến thuật, ai nấy vừa hiến mình phụng sự Chúa, và vừa chống Cộng ! Kéo máy chém đi khắp nơi với cái luật 9/59, chính quyền Diệm-Nhu phá tan tành cơ sở Cộng Sản trong Nam, tạo ra phong trào hồi kết ở miền Bắc. Số người miền Nam tập kết năm 55, khoảng 80,000,  nóng lòng quay về quê quán là một trong những nhân tố thúc đẩy mở rộng cuộc đấu tranh bằng võ lực. Trận thử lửa với sư đoàn 23 và vụ nổ bom trong căn cứ Biên Hòa bắt đầu một thử thách. Và sau, phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre. Năm 60, Mặt Trận Giải Phóng miền Nam được thành lập, với Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ Tịch. Thời gian đó, Diệm-Nhu đã đẩy  tính cách “gia đình trị” đến mức khó chấp nhận. Năm sau, cuộc đảo chánh Nguyễn Chánh Thi- Vương Văn Đông chết sẩy như một cái bào thai còn non tháng, thiếu sửa soạn và hậu thuẫn chính trị ngoại giao.

 

                  Khi ấy, tôi ở với ông bố nuôi, nhà trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm gần đài phát thanh, nghe tiếng súng nổ ròn rã một chặp rồi theo gia đình lên trú nhà ông Vũ Quốc Thông tránh đạn bay bom nổ. Đó là lần đầu tôi nghe nói đến Mặt Trận Quốc Dân Đoàn Kết chống độc tài ở miền Nam với sự tham gia của nhà văn Nhất Linh, người đã tục bản Văn Hóa Ngày Nay cuối thập niên 50. Bố nuôi tôi thời ấy hợp tác với Bộ Trưởng Trần Chánh Thành, là Tổng Giám Đốc Thông Tin Báo Chí, trách nhiệm một guồng máy khiến nhà tôi tấp nập từ những người làm chính trị cho đến đủ loại văn nghệ sĩ. Sau cuộc đảo chính hụt, ông bị hạ xuống, trở thành Chủ Tịch Hội Đồng Kiểm Duyệt, dĩ nhiên vẫn là một vai trò quan trọng trong bộ máy tuyên truyền chống Cộng. Không hiểu thế nào mà bố nuôi tôi, kín tiếng với những đứa con đẻ, nhưng với tôi, đứa con nuôi, lại thỉnh thoảng gọi lên, nói cho nghe đủ điều về đủ mọi nhân vật. Nào Trần Kim Tuyến, Phan Quang Đán. Rồi Nguyễn Đức Quỳnh, Phan Huy Quát... Bên văn nghệ báo chí, Phạm Việt Tuyền, Văn Giang, Lý Thăng, anh Tám Xạc Ne (vốn họ hàng nhà bà Nhu), Phạm Duy, Nguyễn Mạnh Côn...Bố tôi dặn, phải có dũng, nhưng không thể thiếu trí, nhưng trên nền tảng là chữ nhân. Thở dài, ông chán nản, chúng nó chỉ có khôn vặt. Đến nay, chúng nó là những ai tôi cũng chưa kịp hỏi!

 

                  Người tôi có nhiều gắn bó là nhà thơ Trần Việt Hoài, anh ruột Tuệ Mai, hậu duệ của cụ Á Nam Trần Tuấn Khải. Khi đó, chú Hoài viết Tro Tàn Điện Ngọc, một tập kịch thơ về thời chiến quốc, có Phạm Lãi với Tây Thi. Chú ở một mình trong một căn gác xép gần chợ Phú Nhuận, viết báo kiếm sống, và, có lẽ, tham gia vào cái việc chú gọi lơ lửng là hoạt động xã hội. Khi in cuốn kịch, chú tặng tôi, đề: Còn gì đâu sau dâu biển đổi dời. Sự nghiệp người rã tan như bọt sóng. Họa chăng khi sống cuộc đời hoạt động. Mòn tim gan, mỏi óc, ráo máu hồng. Ta được nhắp ly rượu mạnh say nồng. Của Đấng Toàn Năng vô hình tặng thưởng....Mà những kẻ yếu hèn không bao giờ dám hưởng. Ở cái tuổi 15, tôi mơ mộng ‘’hoạt động’’. Và trong bối cảnh ngày nào cũng nghe rằng Diệm-Nhu độc tài, gia đình trị, không đủ tài đức nên thế nào rồi cũng lại thua Cộng Sản. Và lần này mà thua thì đúng là theo Lạc Long quân ra biển Đông chứ đất liền làm gì còn chỗ sống. Rồi cái tuổi trẻ ăm ắp những giấc mơ phiêu lưu bất chấp thực tại, tôi ‘’thoát ly ‘’(trốn khỏi gia đình đi hoang), đi “ hoạt động”, chèo kéo đám hơn tôi dăm ba tuổi thi rớt Trung Học Đệ Nhất Cấp nên phải vào “Dân Vệ”, mua (khi ăn cắp được tiền) hoặc trộm súng ống, đạn dược...(rất cải lương) đợi ngày khởi nghĩa!  Chống độc tài đảng trị và gia đình trị nhà Ngô năm sau có thêm một yếu tố thôi thúc là cuộc đàn áp Phật giáo miền Trung của cậu Cẩn, em Diệm, ở Huế. Họ đạo Hố Nai tay dao tay mác lên Sài Gòn. Chùa Từ Đàm bị Cảnh Sát Dã Chiến vây. Rồi chùa Xá Lợi trong Sài Gòn. Tôi bỏ học. Làm cách mạng vừa bận vừa vui, nhưng nhất là vô cùng hồi hộp kiểu truyện trinh thám Đoan Hùng-Lệ Hằng ...với hậu quả là tôi trượt khi đi thi Tú Tài toàn phần kỳ 1. “Nhà” cách mạng bị mẹ nuôi đến vây bắt, mang về nhà, nhốt lên gác khóa cửa lại, và bắt bỏ công đèn sách học thi kỳ 2, đỗ và sau đó thi vào dự bị y khoa.

 

                  Cuộc đàn áp Phật Giáo của chính quyền Diệm-Nhu chớm trổ nét thánh chiến quá khích là bước cáo chung của nền Đệ Nhất Cộng Hòa. Dinh Độc Lập bị không kích. Sinh viên học sinh xuống đường. Trí thức lên tiếng phản đối. Người Mỹ bắt đầu buông tay Diệm-Nhu, và mặc dầu tung lực lượng cãnh sát dã chiến, công an mật vụ ra khủng bố, những cuộc chống đối chính quyền ngày một công khai trực diện. Đỉnh cao là ngày hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu trên một  ngã ba góc đường Lê Văn Duyệt. Bấy giờ, tôi đã tham gia vào tổ chức những cuộc chặn xe gây tắc giao thông trên hai cây cầu nối Sài Gòn vào Gia Định, rải truyền đơn, đi vận động học sinh trung học ở các trường như Cao Thắng, Võ Trường Toản...chống nhà Ngô. Mật vụ lùng, tôi “ rút vào bí mật”, trốn về vùng phụ cận, khi Gia Định, khi Thủ Đức... đinh ninh mình “làm cách mạng” cho đến khi bố nuôi tôi tìm được, mắng “ Con ạ! mày là đứa manh động, tao đã xin họ nhắm mắt bỏ qua vì con còn vị thành niên. Thôi về mà đi học...”. Diệm đưa nhà văn Nhất Linh ra tòa, định xử tội để dọa dẫm, nhưng Nhất Linh tự sát, trăn trối chỉ để cho lịch sử phán quyết ông. Sinh viên chúng tôi tổ chức đưa đám Nhất Linh, và trên những con đường Sài Gòn, tuổi trẻ đã ngửng cao đầu mặc dầu nước mắt có ứa ra khóc một bậc trí giả đã sống và hành xử đủ trách nhiệm với đất nước và con người.

 

                  Nhận được một học bổng trong chương trình Colombo đi Canada, tôi bỏ y khoa, ai nấy trong gia đình thở phào bớt đi cái gánh lo một đứa con cứng cổ mà mẹ tôi cứ rên là to đầu mà dại. Phần tôi, đi là cái giấc mơ hải hồ, đồ chừng dăm  năm sau sẽ về, có chi mà gọi là sông Dịch để tưởng ra tiếng sáo họ Cao với chén rượu tiễn Kinh Kha. Hai tháng sau khi tôi đặt chân đến Montreal, Diệm và Nhu bị đảo chánh và bắn chết mặc dầu đã xin đầu hàng một Hội đồng quân nhân cách mạng với những Big Minh, Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Khánh... Họ là những kẻ đã được Đại Sứ Mỹ Cabot Lodge bật đèn xanh và điệp viên CIA là  Conein cho...tiền thưởng.  Sự can thiệp của Mỹ vào nội tình Việt Nam rõ như ban ngày, và thời những tướng lãnh nhẩy lên bàn độc được khai trương với tiếng giầy đinh chưa nện nhưng đã vang vang khắp phố phường. Thế rồi Hiến Chương Vũng Tầu với tướng Nguyễn Khánh như cọng rơm cháy, và sau, nền Đệ Nhị Cộng Hòa với đủ bầu bán Thượng, Hạ Viện rất Made in USA. Chiến tranh leo thang, với sự hiện diện của quân đội Mỹ và Đồng Minh, rồi tiếp theo đó là sự kiện vịnh Bắc Bộ, đưa đến phong tỏa Hải Phòng, đánh bom miền Bắc tháng 8-65. Năm sau, vào tháng 3, hai Lữ Đoàn Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng. Thế giới lên tiếng: Đế Quốc Mỹ xâm lược một nước nhỏ ở bên kia Thái Bình Dương!

                 

                  Miền Nam của tôi ơi! Những ngày lạnh lẽo xứ người, tôi mỗi ngày chúi mũi vào những trang báo, đọc toàn những tin tức vấy máu và sực mùi thuốc súng, với những hình  ảnh tàn phá man dã, kiểu Trung úy Calley châm lửa  đốt mái tranh một căn nhà ở Mỹ Lai. A, oái oăm thay, mỹ lai  nôm na là (người) mỹ đến, với súng M.16, tăng M.113, F 101, C-30... Năm 66, Mỹ phát động chiến dịch ‘’ Tìm và Diệt’’ với 2 triệu cuộc hành quân, dùng pháo đài bay B 52 đánh bom. Năm 67, đã có 1 triệu tấn bom trút xuống miền Nam, 2 triệu xuống miền Bắc. Rồi chiến dịch Johnson City, trực thăng vận, và pháo 360,000 quả đạn, nhưng cứ 100 quả mới giết được 1 VC! Cũng năm đó, Mỹ dùng tăng đánh vào ‘’Tam Giác Sắt’’ với 3 sư đoàn, xe san bằng thị xã Bến Xúc, đẩy 6000 dân vào cảnh màn trời chiếu đất. Thảm họa chùm lên mạng sống những người nông dân chất phác cùng một giòng máu với tôi, một kẻ may mắn ở bên ngoài, ngượng  ngùng mỗi lần người bản địa chép miệng, giọng thương xót, xứ anh quả là tội nghiệp với một cuộc chiến chống tên khổng lồ không tim nhưng thừa bom đạn. Với vài người bạn, chúng tôi khai sinh giai phẩm Cảm Thông năm 64-65, ra được ba số,  kêu gọi hòa bình, và thế là không chống Cộng, sau bị cái cộng đồng nhỏ bé tẩy chay. Ở thành phố Quebec, tờ báo Đất Lạnh chuyển mình với một số du học sinh qua năm 65 nên có dịp chứng kiến sự vong bản của nền Đệ Nhị Cộng Hòa với những tướng lãnh đi giầy đinh, vai đeo sao, lưng giắt súng lục, chửi ĐM và hung hãn hô hào Bắc Tiến! Trong khi đó, Sài Gòn phồn vinh mặc cho số trẻ em bụi đời và các cô gái ăn sương tràn ngập vỉa hè, và OK  Salem thành ngôn ngữ Việt, với sự tủi nhục khó mà tránh được ở tuổi chúng tôi, lứa tuổi mới hai mươi, không thể sống mà không tự hào  ngước mặt nhìn trời.

                  Thế cho nên chúng tôi đọc 10 điểm của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, đồng thuận vì chỉ mong hết chiến tranh, và hiểu như thế là đồng nghĩa với sự chấm dứt can thiệp của người Mỹ vàoViệt Nam. Phần tôi, tôi hoạt động tiếp tay lực lượng thứ ba trong nước, nhắm mục đích lập lại hòa bình, xây dựng một miền Nam trung lập rồi từng bước thống nhất đất nước qua giải pháp chính trị. Nghe tôi kể đến đây, Bình Minh ngạc nhiên hỏi:

                  -  Mặt Trận là do Đảng lập ra mà, các anh không biết thế sao?

                  -  Biết là có Đảng, nhưng cũng biết có những người trong Mặt Trận không là cộng sản...

Chọn Lựa nào?

 

                  Đi từ miền Nam, lại thuộc thành phần quốc gia có nòi, di cư và chống cộng, nên bức thư tôi báo cho cha đẻ cũng như bố nuôi tôi biết rằng tôi ủng hộ Lực lượng thứ ba và Mặt Trận Giải Phóng miền Nam có lẽ là vết cắt bật máu đầu tiên giữa tôi và những người ruột thịt. Với cha đẻ, vết cắt đó không bao giờ lành. Về nước năm 77, cứ mỗi lần tôi có mặt là cả gia đình tôi bỗng nhiên kiệm lời, có nói với nhau thì nói thầm, và tuy không nói ra nhưng tôi hiểu bấy giờ tôi là những kẻ phía bên kia - mang đủ  tính tam vô: vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo - và gia đình tôi nếu không thù thì cũng oán tôi, một thằng Việt Cộng, đúng là nuôi ong tay áo. Ba năm sau, khi thấy mấy cô em uống thuốc ngừa thai trước một chuyến vượt biên không thành, tôi làm một chuyện mà nếu như không làm tôi sẽ chẳng có thể nhìn mình trong gương mà không xấu hổ: tôi bảo lãnh cho tất cả những người trong gia đình đi chính thức để rồi ra mới biết là cái vết cắt kia sẽ ứa máu suốt đời. Với bố nuôi, tôi may mắn hơn. Trước ngày ông qua đời ở Cali, tôi có hỏi, vào địa vị ông năm 46, tôi chắc chắn đã theo kháng chiến, và lý do gì đã khiến ông chống lại miền Bắc. Bố tôi kể, ông được bộ phận công an của chính phủ cụ Hồ chỉ định ở lại Hà Nội để vận động và tổ chức thành phần nhân sĩ quốc gia tiếp tục chống thực dân Pháp trong khi mẹ nuôi tôi và 3 đứa con được  đưa lên chiến khu Việt Bắc. Nhưng ông ngạc nhiên khi thấy những người ông liên lạc lôi kéo được cứ lần lượt hoặc bị Tây bắt hoặc bị thủ tiêu mờ ám. Đến khi ông anh con cô con cậu của ông là Nhượng Tống bị sát hại thì ông hiểu ra, rằng có thể ông là một miếng mồi, và chính ông cũng có thể bị thí chốt bất cứ lúc nào. Tìm cách đưa được vợ con về Hà Nội, ông đầu hàng Pháp hòng cứu mạng mình. Từ đó, ông thành đối thủ của những người xưa ông tin là đồng chí. Sau 75, ông không di tản dù có thể đi dễ dàng, ở lại đòi đối chất với Hoàng Đạo, người chịu trách nhiệm liên lạc với ông nhưng đã tìm cách hại ông, khi đó đã là một Thiếu Tướng công an tăm tiếng. Chính ông Trường Chinh nhắn qua bà Vũ Đình Hoè bảo ông đi đi, đối chất mà làm gì, và Trần Bạch Đằng ở Sài Gòn làm thủ tục cho ông lên đường qua Pháp một cách chính thức năm 80. Ông bảo tôi, con ạ, bố nào có được lựa chọn! Nhưng bố hiểu cái động cơ đã đưa con đến những lựa chọn của con. Rồi ông chép miệng, thủng thỉnh đọc, đã mang lấy nghiệp vào thân, thì đừng trách oán Trời gần Trời xa...

                  Tôi vẫn nghĩ, cái thế của những người như tôi thật mà nói không có chọn lựa nào khác là mong muốn hòa bình, chống mạnh hiếp yếu, và hy vọng góp phần xây một  xã hội công bằng nhân ái. Tuổi chớm thanh xuân, ai lại chẳng mơ mộng một xã hội hướng đến công chính lý tưởng. Thuở đó, tình thật, cái kiến thức của tôi là kiến thức thuần sách vở, và lại là sách vở về chủ nghĩa Mác và sự dự tưởng một XHCN do phương Tây truyền đạt: tôi đọc Althusser, rồi Fromn, Marcuse, Sartre ...tức là thể loại kinh điển của thế hệ tháng 5-68. Đó là thế hệ sinh viên của phong trào phản kháng (contestation) cậy đá lát đường khu Quartier Latin ở Paris ném vào xã hội tư bản Tây Âu, là thế hệ râu tóc để dài, miệng hô Peace and Love, tay cầm hoa hồng, tay kia châm lửa đốt cờ hoa Hiệp Chủng Quốc chống chiến tranh Việt Nam ở Berkeley. Tuổi trẻ với Mác, và Che Guevara...là ngọn triều cách mạng lãng mạn ào lên như một con sóng hồn nhiên. Nhưng bèo bọt.  Sự bèo bọt nằm ngay trong cái hồn nhiên bây giờ nghĩ lại thấy sao mà ngây ngô kỳ lạ. Trong không khí bồng bột đó, phong trào ở Canada là sự tự phát cùa những sinh viên, từ lòng yêu quê hương và viễn cảnh một cuộc chiến tang thương, về sau ít nhiều được hỗ trợ về mặt thông tin của phong trào bên Pháp đã có kinh  nghiệm từ thời giành độc lập năm 45-46. Riêng tôi, tôi quen anh Phương, đến từ Paris, làm việc trong phòng thí nghiệm Sinh Hóa ở Đại Học Montreal. Sau này, anh bị chính phủ Canada trục xuất. Khi bị dẫn độ về Sài Gòn thì anh trốn được, qua Chili làm việc trong ban cố vấn của Thủ Tướng Allende, và bị bắn chết khi Pinochet đảo chính. Anh cho tôi mượn cuốn Thời dựng Đảng của Thép Mới. Đọc xong, thấy tôi thòm thèm, anh đưa tập Luận Cương của Lê-nin. Tôi không nhớ đã nói gì, nhưng anh bảo tôi thiếu kiến thức cơ bản, phải học từ đầu. Anh giúi vào tay cuốn Tư Bản Luận. Tôi đọc, không hiểu, phải tìm bản tiếng Pháp và từng bước lần mò gỡ những gút chỉ rối rắm, nhưng ngay cho đến nay, tôi thú thật với Bình Minh, rằng tôi chẳng thấy kinh điển Mácxít dính gì đế những thể loại thực tiễn XHCN.

                  - Thực tiễn ?

                  - Ở Liên Xô, những nước Đông Âu, và Trung Quốc, tôi chỉ thấy những tổ chức chính quyền chuyên chính, với tầng lớp nomenklatura độc quyền đặc lợi ! Lý tưởng cộng sản đầy tính nhân đạo, nhưng con đường thực hiện thì ngược lại toàn là tù đầy, máu me và nước mắt...

                  - Nhưng tại sao anh vẫn tiếp tục ủng hộ ?

                  - Đầu tiên, tôi chỉ chống sự xâm lược của Mỹ trong chiến tranh. Ai có thể ngồi yên khi biết số lượng bom Mỹ rơi trên quê hương mình gấp năm ba lần tổng số bom thả trong suốt Thế Chiến thứ 2? Sau 75, tôi hão huyền hy vọng Cách Mạng Việt Nam có thể khác, với những con người tôi thành tâm cảm phục. Bởi đất nước đã trải một cuộc tang thương khủng khiếp, nên tôi tin khó mà chỉ vì đặc quyền đặc lợi tầng lớp lãnh đạo có thể nhắm mắt không đặt ra câu hỏi người dân hy sinh giành độc lập thống nhất để làm gì? Không lẽ để tiếp tục nghèo, dốt, và lại oằn người dưới những cái ách mới? Sau Đại Hội V năm 81, tôi tự nhủ, dẫu gì đi nữa thì tôi cứ giữ sự ủng hộ cơ bản thêm 10 năm. Phải nói, khi nước ta bước vào thời Đổi Mới, tôi đã nuôi nhiều hy vọng. Nhưng ủng hộ đối với tôi không là thái độ ngậm miệng mà là phát biểu “đúng nơi đúng lúc đúng người”. Nhưng thế nào là đúng, mà đúng đến ba lần. Tôi sau lại mắc tội trời chưa sáng đã gáy!

                  - Tội gì lạ vậy anh ?

                  - Bình Minh có biết truyện Lục Súc tranh công hậu hiện đại nhưng đậm đà bản sắc tiếu lâm dân tộc không?

                  -...???

Tôi kể:

                  - Thời hậu hiện đại, xã hội loài người là xã hội đại đồng nhưng súc sinh còn đang ở giai đoạn quá độ lên XHCN. Và như loài người thuở trước, mọi sinh vật đều tìm cách vào đội ngũ tiên phong là Đảng Cộng Sản. Sau khi đã sinh hoạt Đoàn, nay có 6 đối tượng kết nạp Đảng, là Bò, Chó, Gà, Ngựa, Lợn và không biết ai giới thiệu mà lại có một chú Rệp. Bò qua kỳ kiểm tra lý lịch và năng lực cuối với các đồng chí “bên trên”, đi ra, vẻ thiểu não. Sao vậy? Bò kể, các đồng chí bảo tôi ngu như bò nên không kết nạp, mặc dầu tôi hiền lành, lại cung ứng thịt cho các đồng chí! Con Lợn ưỡn đít, nói, tôi cũng cung ứng thịt. Nhìn Chó, Lợn thủng thỉnh, khi có riềng có mẻ thì thành giả cầy, rồi ục ịch bước vào phòng làm việc. Lát sau, nó uể oải đi ra. Sao vậy? Các đồng chí bảo, đúng là cũng lành, cũng cống hiến thịt, nhưng lại chê tôi là bẩn như lợn. Cả bọn bật cười. Gà ngẫm nghĩ, gà cũng có thịt gà, không ai chê ngu chê bẩn. Phen này, cờ đã đến tay, gà vươn cổ, gáy rồi bước vào. Lát sau, nó cụp đuôi đi ra. Sao vậy ? Các đồng chí bảo, đúng là cỗ bàn gì thì cũng có thịt gà, lại không ngu, không bẩn. Thế thì mắc tội gì – đám súc sinh hỏi, giọng lo lắng. Gà thở ra, tôi bị phê là có cái tật là trời chưa sáng đã gáy! Cả bọn đăm chiêu. Ngựa gật gù: tớ cũng cung cấp thịt, không mang tiếng bẩn và ngu, chẳng gáy báo sáng cho ai, lại thêm cái việc chở các đồng chí trên lưng rong ruổi khi đèo lúc suối...Ngựa bước vào, nhưng lát sau, Ngựa ra, vẻ buồn bã. Sao vậy? Các đồng chí phán, được cả, nhưng tớ có cú đá hậu, khó tin. Bấy giờ, Chó vểnh tai, khệnh khạng, nói như đinh đóng cột: tớ không biết đá, tuy không chở được các đồng chí trên lưng đi tham quan nhưng lại biết giữ nhà giữ cửa, là món đánh chén đậm đà bản sắc dân tộc, lại có tiếng là bạn thân nhất của loài người, chắc đảng đến tay tớ chứ còn vào ai. Chó vào, nhưng khi ra, tai cụp, đuôi cụp. Sao vậy? Các  đồng chí bảo dù tớ có tất cả phẩm chất đảng viên đấy, tớ vẫn còn khuyết điểm. Khuyết điểm gì? Tớ có cái thói hay sủa bậy, và tật ăn cứt. Chó đáp rồi kêu ư ử! Chỉ còn Rệp. Mi thì vô phương, cà bọn la lên. Lạnh lùng, Rệp không nhìn ai, bước vào phòng và chỉ năm phút sau đi ra, đường bệ, mặt vênh lên trời. Đám súc sinh ngạc nhiên. Rệp tuyên bố mình đã được kết nạp. Sao vậy? Rệp ngắn gọn: các đồng chí bảo trong tớ có máu công nông!

                  Bình Minh phá lên cười. Bên ngoài, trời thôi mưa. Đêm lừng lững chùm lên Huế một bức màn nhung kéo che sân khấu một vở tuồng đến hồi kết. Bình Minh đứng lên, dí dỏm:

                  - Tối nay đi ăn, nhất định em không ăn thịt gà, dẫu chẳng biết anh gáy sáng ra sao!

                 

Xã hội mới?

 

                  Hai mươi năm trước tôi có ghé quán cơm này, khi quán về đêm thắp bằng đèn măng-xông, bàn kê xiêu vẹo, ghế đẩu chông chênh, ông chủ quán hò vợ rồi ra tiếp khách, mặt lạnh lẽo, chỉ gật, không nói, cứ như một bóng ma hiện về. Và từ quán trên lưng đồi nhìn xuống, chỉ có đêm, đêm mịt mùng. Nhưng nay, có khác, tôi thực sự không  nhận ra, và không chắc đó là quán cơm Âm Phủ. Bây giờ quán mắc điện, ghế cao có chỗ tựa, bàn phủ ni-lông sặc sỡ kẻ những ô đỏ xen kẽ những ô trắng, hai cô tiếp đãi xinh như Huế thơ mộng, mắt kẻ đen, miệng chào khách khiến chẳng một đấng trượng phu nào có cái gan dạ bỏ đi. Và nhìn ra tít tắp, trong tâm tưởng vẫn mơ hồ  bóng cầu Tràng Tiền chiếu đèn mầu, cứ dăm phút mầu đổi từ xanh ra vàng, vàng ra đỏ, đỏ ra trắng. Tôi kể, lòng bỗng ngậm ngùi nhớ những bóng ma xưa, nhưng Bình Minh tươi tắn, đùa với giọng Huế:

- Đấy, chừ anh thấy, răng là tiến bộ chứ hỉ!

Tôi cười, gọi cơm hến, món nhà nghèo dân dã, mong tìm lại hương vị ngày trước. Vừa ăn vừa suỵt xoạt vì cay, tôi nghe Bình Minh hỏi:

                  - Nẫy anh nói gì về cái xã hội dân sự và xã hội- trại lính vậy?

                  - Cải Cách Ruộng Đất có thể là một trong những lý do giải thích có đến gần một triệu người di cư từ Bắc vào Nam, sau miền Nam lấy đó như một chiêu bài để đề ra “quốc sách’’ chống Cộng. Mặt khác, vào năm 56, vẫn có người hy vọng sẽ có Tổng Tuyển Cử thống nhất đất nước. Trước tình hình phải nhận sai lầm và sửa sai trong Cải Cách Ruộng Đất, Đảng có nới tay một chút. Nguyễn Mạnh Tường đề nghị nhận định lại Quan điểm Lãnh Đạo trong một báo cáo đọc tại Mặt Trận Tổ Quốc, nêu sự quan trọng của một nền pháp lý có tính chuyên môn và không chỉ là dụng cụ thể hiện lãnh đạo chính trị. Phan Khôi viết ‘’Phê bình Lãnh Đạo Văn Nghệ’’ đăng trên Giai Phẩm mùa Xuân số 1, ra và bị tịch hồi. Cũng năm đó, Đại Hội 20 của Đảng Cộng Sản Liên Xô công bố Bản Báo Cáo của Krút-Sốp, trong đó cái xã hội-nhà tù kiểu Xtalin bị vạch trần với những trại Tập Trung Cải Tạo và con số 20 triệu nạn nhân. Bản Báo Cáo đó có tác động nổ một quả bom trong thế giới những nước XHCN. Biến động ở Ba Lan. Rồi Hung Ga Ri. Bên Trung Quốc, Mao nhẩy một bước lùi, phát động phong trào Trăm hoa đua nở, Trăm nhà đua tiếng. Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ta theo sau, và những người không chấp nhận mọi điều trên cõi đời này cứ phải có ‘’đảng lãnh đạo’’ nhân dịp đó cất lời. Tờ báo tư nhân Nhân Văn xuất hiện, với Nguyễn Hữu Đang, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phan Khôi...Có sự cộng tác của nhiều nhân sĩ và trí thức uy tín như Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh, Trương Tửu..., báo gầy nên một phong trào: Giai Phẩm mùa Xuân tái bản, rồi Giai Phẩm mùa Thu, mùa Đông. Phía lớp trẻ, tờ Đất Mới của sinh viên Đại Học Hà Nội ra đời. Nói chung, phong trào chỉ xin với Đảng là cứ theo cho đúng Hiến Pháp năm 46, xây dựng một xã hội pháp chế chứ không  rập theo mô hình chuyên chính Xtalin, trả lại cái quyền việc ai nấy làm, chẳng hạn như người làm văn nghệ trách nhiệm và lãnh đạo văn nghệ chứ thôi đừng để ông chính ủy mang ‘’chính trị’’ thống soái ra chỉ trỏ sai trái...

                  - Chỉ xin thế thôi sao...

                  - Ừ, chỉ thế mà các vị đó đều bị ghép đủ thứ tội. Sáu tháng sau, Mao lùi một nhưng tiến ba bước, từ hữu sang tả, và Việt Nam ta nhẩy theo trong điệu múa đôi môi hở răng lạnh. Tháng 12 năm 1956, Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh về chế độ báo chí. Ủy ban hành chính Hà Nội sau đó ra thông báo Nhân Văn, Giai Phẩm bị cấm. Cuối tháng 2-1957, Trường Chinh kêu gọi đấu tranh đập nát luận điệu phản động Nhân Văn Giai Phẩm với 500 đại biểu trong Đại hội Văn Nghệ toàn quốc lần 2. Đảng cho thành lập Hội Nhà Văn, cho ra báo Văn, nhưng cái đám trí thức tiểu tư sản đã ‘’bị nhiễm độc’’, Nguyễn Tuân  và Nguyên Hồng dám quan điểm khác với Học Tập là tờ báo lý luận của Đảng, rồi cho đăng những ‘’Lời Mẹ dặn’’ của Phùng Quán, ‘’Hãy đi mãi’’ của Trần Dần hay ‘’ Ông Năm Chuột’’ của Phan Khôi...Lại đóng cửa báo Văn! Và đấu tranh tư tưởng với 272 văn nghệ sĩ đảng viên, rồi 304 cán bộ văn hóa văn nghệ ở Thái Hà. Một số được tập thể ‘’chiếu cố giúp cải tạo’’ trong những buổi học tập mà kỹ thuật đấu địa chủ lại lôi ra áp dụng.   Những kẻ hạ sinh Nhân Văn và Giai Phẩm và những người cộng tác tất tật thành phản động, phản cách mạng, Trốt-kít, gián điệp... Nhiều người bị rút  Đảng tịch, Hội tịch [xvi]... Nguyễn Hữu Đang, người trách nhiệm tổ chức cho ông Hồ Chí Minh đọc Tuyên Ngôn Độc Lập ở Ba Đình, bị 18 năm tù, có xét xử. Phùng Cung, 12 năm, không xét xử. Lê Đạt, Trần Dần, Hoàng Cầm... không đi tù, chỉ đi ‘’lao động cải tạo’’, nhưng bị rút hội tịch, treo bút 30 năm, cuối cùng chỉ được’’hồi tịch’’   thời kỳ hậu Đổi Mới, nghĩa là khi đầu bạc răng long. Trí thức như vậy đeo xiềng khóa miệng ngay sau khi Đảng biết không có Tổng Tuyển Cử: truyền thông là khâu Nhà Nước quản lý, và dĩ nhiên Đảng lãnh đạo! Thế có nghĩa là Đảng quyết cái gì nhân dân cần và phải biết, cái gì không, cái gì cho, và cái gì cấm nói, cấm bàn bạc, cấm có ý kiến riêng tư không có tính ‘’tập thể’’. Oái oăm thay, cái giá trị “tập thể” này lại do một thiểu số dăm ba người trong Tuyên Huấn Tuyên Giáo quyết  định. Và nhân danh nó như thứ quyền năng của Thượng Đế mà đại diện là những ông Trời con bắt sống bắt chết này, người ta gây mê cho cả một  đất nước...

                  - Những ông Trời con ? Bình Minh vung tay, hỏi, họ là những ai ?

                  -...là những ông Trời con con thôi, hệt những tay kiêu binh cung Vua Lê phủ Chúa Trịnh vừa học được dăm chữ Mác-Lênin ở Thăng Long, sau khi đã bươn trải qua bước thành phần –lý lịch, được xác định là  giai cấp ‘’cơ bản’’ trong tiến trình lịch sử biện chứng ‘’rất’’ loài người tiến bộ!

                  -  Em vẫn chưa nghe anh nói thêm về cái anh gọi là xã hội-trại lính? Bình Minh ngước lên nhìn.

                  -  Năm 58, cuộc cải tạo công thương nghiệp ở những thành phố được tiến hành. Khi ấy, những xí nghiệp công nghiêp của tư sản thật ra đã chuyển hết khỏi miền Bắc, còn lại chỉ có tiểu thương, tiểu công nghệ là chủ yếu. Cải tạo là đưa đến hợp tác, bắt đầu là năm, bẩy gia đình, từng bước đi vào qui mô lớn dần lên, đến cấp phường, quận, thành phố rồi quốc doanh. Tóm lại, cả công, thương và nông nghiệp, phải vào ‘’hợp tác’’, tức là sản xuất trao đổi hàng hóa ở mức tập thể, thủ tiêu kinh tế tư nhân. Chẳng khác gì trong nông nghiệp, cải tạo đưa đến tình trạng cha chung không  ai khóc, thiếu động cơ kích thích kinh tế, đưa đến trì trệ trong sản xuất, phẩm lẫn lượng có chiều hướng đi xuống, hàng hóa sản vật khan hiếm dần. Chỉ một, hai năm sau khi Đảng tuyên bố ‘’hợp tác’’ cơ bản đã hoàn thành thì dân bắt đầu ăn độn, nghèo đi trông thấy, và tệ nạn lạm quyền cầu lợi của đảng viên sớm hiện hình. Nhưng buồn cười, và cười ra nước mắt, là   tháng 4-1960, Hồ Chí Minh viết[xvii]: "Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta và việc chúng ta là thành viên của đại gia đình xã hội chủ nghĩa thế giới là sự thực hiện Luận cương của Lê-nin về khả năng một nước thuộc địa lạc hậu có thể đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa".

                  Trong guồng quyền lực, Lê Duẩn, Xứ ủy Nam bộ trước tập kết, nay là Bí thư thứ nhất của Trung Ương Đảng, hợp với Lê Đức Thọ đã thay thế Lê Văn Lương trong vai trò Trưởng ban Tổ Chức, chưa hoàn toàn nắm quyền lực như ý muốn vì còn phải chia sẻ với những nhân vật dẫu phạm sai lầm trong Cải Cách Ruộng Đất nhưng vẫn bám chốt như Chinh, Lương, Việt... Thế là có cái nghị quyết 15 của Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam, cho phép giải phóng miền Nam bằng đấu tranh vũ trang song song với đấu tranh chính trị [xviii], trong khi đó Ngô Đình Diệm ban hành luật 10/59 kéo máy chém đi khắp nơi diệt Cộng. Nghị quyết 15 này củng cố quyền lực Duẩn-Thọ, và Ban Tổ Chức từng bước trở thành cái nôi của quyền lực, từ đó cho mãi đến tận ngày nay. Có tiếng đồn là cả Hồ Chí Minh lẫn Võ Nguyên Giáp đều không đồng tình, nhưng nếu thế, rõ ràng họ cũng đã không có thực quyền trong thời gian người ta khai đường 559, sau thành đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại. Năm năm sau ĐBP, bóng dáng ma quái của chiến tranh lại lẩn quất, vì hai đìểm cơ bản: 1- Mâu thuẫn và tranh đoạt quyền lực nội bộ ở những cấp cao nhất trong Đảng; và 2- Khó khăn, lúng túng, và sai lầm trong việc xây dựng xã hội XHCN. Cộng thêm vào là mặt khác, những người miền Nam tập kết mất kiên nhẫn, nóng lòng muốn quay trở về quê hương gốc gác. Thế là Đồng Khởi ở Bến Tre năm 60. Khẩu hiệu mới gồm 2 khâu: vừa giải phóng miền Nam vừa xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Khâu Giải Phóng lọt, vì khi đó những mâu thuẫn giữa hai nước’’anh em’’ đã có, Trung Quốc của Mao không ‘’xét lại’’ và chịu chung sống hòa bình với Đế quốc Mỹ theo đường lối Liên Xô dưới thời Krút-sốp. Việt Nam ta muốn giải phóng miền Nam với một nền kinh tế non trẻ thiếu cả ăn lẫn mặc thì làm thế nào đây? Vừa xin vũ khí, vừa xin viện trợ lương thực, tất cả là vì nghĩa vụ quốc tế. Nói cho hình tượng là ta bán máu lấy ăn, máu đổ vì mục đích cao cả Giải Phóng và Thống Nhất đất nước, đối đầu với Đế Quốc trong cuộc Cách Mạng Thế Giới. Mao vui lòng cho ít khí giới qui ước và tiếp tế gạo, đường, mắm muối... nhưng còn Krút-Sốp? Khí giới hiện đại chống Mỹ cứu nước thì Liên Xô sản suất, thế mới gay go. Ông Chí Phèo cào mặt chống Bá Kiến ở Washington không thiếu mẹo kiểu Trạng Quỳnh, linh động phát ra năm 63 cái Nghị Quyết 9 lươn lẹo đầy những mảng vừa trắng vừa đen[xix] trong cái bước chông chênh ‘’giữa hai đường lối’’, một đỉnh cao trong nghệ thuật nước đôi trên trường quốc tế...

                  - Vừa Chí Phèo, lại vừa Trạng... Bình Minh nhăn mặt.

                  - Thế là sau chiến thắng ĐBP, ta không thống nhất được đất nước, không thực sự độc lập nên bị ép buộc đặt bút ký vào cái HĐ Genève chia cắt Tổ Quốc ở vĩ tuyến 17. Ở miền Bắc, Đảng và Nhà Nước bóp chết nền kinh tế tư nhân nhưng lại mù lòa giáo điều trong những bước xây dựng xã hội XHCN, khoá miệng trí thức sau phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm, và ngay năm 61 ban hành Nghị quyết 49/NQ/TVQH do Trường Chinh ký[xx], hợp pháp hóa việc có thể bắt nhốt bất cứ ai vào những Trại Tập Trung Cải Tạo mà không cần xét xử. Như thế, Đảng vuốt mắt xã hội dân sự, đắp mặt liệm bằng vải đỏ, và đóng áo quan rồi đào sâu chôn chặt!

Bình Minh chép miệng:

                  - Thế thì em hiểu cái bước đầu dẫn đến xã hội-trại lính...

                  - Bây giờ, lại chiến tranh. Bắt đầu là cuộc nội chiến đã khai mào từ 46. Năm 63, trận Ấp Bắc. Chiến tranh đặc biệt kết thúc với trận Bình Giả năm 65. Mỹ leo thang, đưa quân vào, tất cà là 3 triệu lượt người, số cao nhất lên đến hơn nửa triệu trong Chiến tranh cục bộ. Với 24 tiểu đoàn thiết giáp (2750 tăng), 83 tiểu đoàn pháo binh (1412 khẩu pháo), 5 tuần dương hạm, 5 tầu có sân bay, 65 tầu chiến cộng thêm 700.000 lính ‘’ngụy’’ và đồng minh Nam Hàn, Thái.., Mỹ phong tỏa Hải Phòng, ném bom trên 3 nước Đông Dương, xử dụng trong toàn cuộc chiến gần 8 triệu tấn bom đạn, tức 3,8 lần số xử dụng trong Thế Chiến 2, và 12 lần số xử dụng trong chiến tranh Triều Tiên. Riêng miền Nam, Mỹ rải 45,260 tấn chất độc hóa học, và 33,800 tấn bom lửa Napan ( 10 lần hơn chiến tranh Triều Tiên, 25 lần hơn Thế Chiến 2). Nhưng bất ngờ, cuộc Tổng công kích và nổi dậy Mậu Thân năm 68 khiến Mỹ chựng lại, phong trào phản chiến ở Mỹ lan như lửa cháy, và thế giới lên án,  khiến Mỹ phải chấp nhận hòa đàm ở Paris [xxi].

                  Nhưng chiến tranh tạo ra cái xã hội thời chiến ở miền Bắc. An ninh là quan trọng, nên phải xiết cho chặt mọi kiểm soát với chính sách hộ khẩu. Lương thực được viện trợ phải phân, phải phát với tem, phiếu...Dân xả xú-páp: Gì cũng quản, gì cũng phân, đến phân cũng quản! Con người bị nô lệ đầu tiên bởi cái dạ dầy. Nó cần 13 kilô gạo, chút đường, chút dầu, chút mỡ. Nó được ăn, nhưng phải cung cấp cho thần chiến tranh những đứa con cứ ‘’Bác bảo đi là đi, đánh là đánh’’ với ‘’Khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng’’. Nó không được mắc chứng lập trường dao động, miệng nói ra là phải phục vụ cho chiến thắng để Giải Phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Mỹ cút Ngụy nhào. Và nó nói, tất cả, đồng điệu. Nói mãi, nó nghĩ, cũng đúng một khuôn, tức là nghĩ những điều ‘’trên cho nghĩ’’ vì trên đã nghĩ hộ, đã nghĩ hết cho rồi. Trong cái xã hội khẩu phần với bộ đồng phục của đói nghèo từ ăn mặc đến suy tư, xã hội thời chiến chỗ nào thì cũng là một trại lính trong đó con người muốn tồn tại thì phải tin vào một cái gì đó có tính thần thánh. Đấy, một cuộc chiến thần thánh với cứu cánh ‘’Giải Phóng Dân tộc’’ để cho hơn bốn triệu người hy sinh là vậy...

                  Nói đến đây, tôi nghẹn lời. Tôi buồn bã, xin Bình Minh chở tôi về khách sạn. Trên con đường từ quán Âm Phủ quay lên Huế dương gian chập choạng sống dưới ánh điện về đêm, tôi không nói thêm được một lời. Hình ảnh những kẻ chết trận. Rồi nỗi niềm của những người sống sót. Tất cả chụp xuống tôi như chiếc lưới quăng ra mắc tôi vào, mặc cho vùng vẫy, mặc cho van nài, để tra tấn, hành hạ với một câu tra vấn. Chỉ một câu, này, thế trách nhiệm cùa tôi còn sống hôm nay là gì? Có phải chỉ để kể lể cái quá khứ đầy bất hạnh kia không? Tại sao lại kể với Bình Minh? Không đáp được. Khi chia tay, Bình Minh nói khẽ trước khi rồ ga xe:

                  - Đêm nay chắc em mất ngủ!

 

Tâm sự của kẻ bên lề

 

                  Đứng bên lề đường, tôi nhìn theo Bình Minh cho đến khi xe rẽ ở cuối đường. Mưa lại rơi. Vuốt nước mưa trên mặt, tôi tự hỏi, lên phòng khách sạn hay đi một vòng quanh quanh đây? Tôi biết tôi cũng sẽ mất ngủ, thôi thì đi, dọc Lê Lợi về phía Đập Đá, men cái công viên nay ngổn ngang những bức tượng hiện đại được thành phố cho trưng để Huế ngày nay hết là Huế cổ kính của một thời quá vãng. Xích lô ngừng, xe không anh? Đi vào công viên, bên những gốc cây được bóng tối đồng lõa che đậy, đò không anh? Không, xin cám ơn. Tôi cần được cô đơn. Vì chưa đáp câu hỏi, tôi gợi lại những bóng ma quá khứ để làm gì?

                  Tôi nhớ đến một người quen, sinh và lớn lên ở Huế đây, hiện cũng lưu lạc như tôi, mỗi năm cứ đến mùa tuyết lại kêu, chừ sao mà  lạnh. Ông ta nay đâu trên 70, trước khi đến định cư nơi tôi ở thì là sĩ quan cấp tá Sư đoàn 1 bộ binh của quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Ở cùng chung cư, một tòa building có cả trăm hộ, ông khoái chí khi biết tôi là người đồng hương, lân la thăm hỏi, và năm sau ông gọi tôi là tri kỷ. Ông có một thói quen rất lạ. Sáng nào ông cũng dậy sớm, tắm rửa sạch sẽ, rồi ốp vào người bộ quân phục, đeo lon, đội mũ, để cát-sét nghe quốc ca, hãnh diện đưa tay ngang mũ chào quốc kỳ cờ vàng ba sọc đỏ choán hết một bức tường nơi ông dùng để tiếp khách. Chào cờ xong, ông thay đồ xi-vin, rồi đi làm. Việc của ông là đỡ đần bệnh nhân già yếu và khênh xác trong một nhà thương. Ông từng chiến trận, không sợ máu me và  xác người, lại lực lưỡng nên công việc ổn định. Hai năm sau, ông thay lon. Tôi hỏi, ông đáp ‘’Tri kỷ hè, tui lên Trung Tá là đúng, thời gian công vụ zậy mà chưa chết trận, thằng nào cũng rứa, lên lon cả’’. Ba năm sau, ông tự cho mình lên lon Đại Tá. Không may, đó là năm ông phải khênh xác bà qua đời vì bạo bệnh. Hai đứa con ông ở xa, nay ông một mình thui thủi, nhưng cứ sáng nào cũng chào cờ, và năm năm sau ông vào Salvation Army, nơi bán đồ phế thãi của quân đội, mua lon Thiếu Tướng. Ngày hôm đó, ông thết cơm, ngập ngừng ‘’...tri kỷ hà, tui lên tới mức này là hết cỡ tui rồi. Muốn lên cao hơn thì khó lắm, tui ra Thủ Đức, chớ không được huấn luyện chính qui như ở trường võ bị Đà Lạt!’’. Đấy, ông sống như vậy. Quá khứ lôi ông về phía sau, lúc đó ông chào cờ, mang lon, yêu và ghét, nhưng ông sống thật. Còn ở nhà thương, ông đã chết ở thì hiện tại, là một bóng ma trên nhân gian, thản nhiên làm công việc vô hồn như nó chẳng hề dính dáng gì đến ông, con người chỉ hãnh diện vào đúng 7 giờ mỗi buổi sáng, với mũ áo cấp bậc, ảo với đời nhưng lại thật với chính ông. Cái quá khứ kéo cho đời sống ngược về thời gian trước cả quá khứ sao nó chua chát đau đớn đến vậy?

                  Tôi nào muốn đánh thức những bóng ma để cướp đi sự sống ở hôm nay, và nhất là sự sống cho một tương lai. Liệu tôi ph