Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
Nguyễn Kiến GiangSuy tư 90 - Đi tìm lời giải mới của chủ nghĩa xã hội(2) |
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=6876&rb=0306
(Mấy suy nghĩ về số phận lịch sử của chủ nghĩa xã hội khoa học)
Suy tư 90 - Đi tìm lời giải mới của chủ nghĩa xã hội (1)
8.
Chủ nghĩa xã hội khoa học là một bước phát triển mới của chủ nghĩa nhân văn. Nói
như Mác, chủ nghĩa cộng sản chính là chủ nghĩa nhân văn hiện thực. Riêng
việc đặt chủ nghĩa nhân văn lên mảnh đất hiện thực đã là một bước nhảy về nhận
thức rồi. Với Mác, chủ nghĩa nhân văn nhìn thấy những triển vọng sẽ được thực
hiện trong thực tế, mà không chỉ dừng lại ở những lời tán tụng con người chung
chung như trước đó.
Nhưng, chủ nghĩa nhân văn vào thời của Mác nói chung, cũng như chủ nghĩa nhân
văn của Mác nói riêng, chưa thoát ra khỏi truyền thống cổ điển của chủ nghĩa
nhân văn (hay chủ nghĩa nhân văn cổ điển), bắt nguồn từ thời Cổ Hy Lạp và được
làm sống lại, được đề cao từ thời Phục hưng, thời Cải cách và thời Khai sáng. Từ
chỗ con người cảm thấy mình bị lệ thuộc tuyệt đối vào những sức mạnh siêu nhiên,
vào Thượng đế, con người đã tự nhận thức được vị trí tối thượng của mình trong
thế giới. Thay thế cho Thượng đế trên bàn thờ là Con người. Con người được coi
là mục đích tự thân của lịch sử xã hội (Kant). Thậm chí người ta nói tới một tôn
giáo mới: tôn giáo con người (Robespièrre, Feuerbach...). Con người là chí tôn,
vậy thì con người cũng phải là chí thiện. Sở dĩ con người chưa chí thiện là bởi
những hoàn cảnh, những nguyên nhân bên ngoài, do giáo dục không đầy đủ hoặc do
môi trường xã hội làm nó hư hỏng. Con người vốn là tốt từ chính bản thân nó
(“nhân chi sơ tính bản thiện”), mọi cái xấu xa của nó là từ bên ngoài. (Gần đây,
trong một cuốn sách bàn về con người, Trần Đức Thảo trình bày bản chất con người
thành bản chất hàng một, bản chất hàng hai. Bản chất hàng hai của con người là
đúng bản chất của nó, chỉ cần gạt bỏ bản chất hàng một đi, là con người lại trở
về với bản chất nguyên vẹn của mình. Có thể coi sự trình bày của Trần Đức Thảo
là tiêu biểu cho chủ nghĩa nhân văn cổ điển).
Trong sự phát triển của nó, chủ nghĩa nhân văn cổ điển dần dần tách đôi. Một
nhánh dựa vào triết học duy tâm đi tới chủ nghĩa duy linh và chủ nghĩa nhân vị,
quay trở về với sự tu dưỡng đạo đức và tinh thần của con người, và cuối cùng lại
rơi vào màu sắc tôn giáo, rơi vào những Thượng đế mới. Một nhánh dựa vào triết
học duy vật, đi tới những tư tưởng cách mạng xã hội nhằm dọn sạch những mảnh đất
sống của con người, từ đó con người trở thành tốt đẹp (“con người chí thiện”),
thoát khỏi mọi tha hóa để trở thành con người nguyên chất (con người với “sức
mạnh bản chất” của nó). Đối với những nhà cách mạng thế kỷ XVIII, trở lực chủ
yếu của con người là ở chế độ quân chủ, ở đẳng cấp quí tộc thống trị xã hội. Đối
với những người xã hội chủ nghĩa, trở lực đó nằm ngay ở chế độ tư hữu, ở giai
cấp tư sản. Chủ nghĩa nhân văn của Mác thuộc dòng này, nhưng ở ông nó đã trở
thành chủ nghĩa nhân văn hiện thực thể hiện thành chủ nghĩa xã hội khoa học. Chỉ
cần xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, thiết lập chủ nghĩa xã hội bằng cuộc
cách mạng xã hội của giai cấp vô sản và các tầng lớp lao động khác, chủ nghĩa
nhân văn sẽ được thực hiện đầy đủ với sự ra đời của những “con người mới”, những
“cá nhân phát triển tự do và toàn diện”. Công lao không thể mai một của chủ
nghĩa xã hội khoa học (với tư cách chủ nghĩa nhân văn hiện thực) chính là ở chỗ
đánh thức dậy niềm tin ở chính bản thân mình của tất cả những người nghèo khổ,
những người vô sản đang nằm dưới đáy xã hội, từ đó dấy lên sức mạnh của chính họ
để lật đổ mọi ách áp bức và bóc lột. Các cuộc cách mạng trong thế kỷ XIX và thế
kỷ XX đã chứng minh sức mạnh to lớn ấy của chủ nghĩa xã hội khoa học với tư cách
chủ nghĩa nhân văn hiện thực.
Nhưng đồng thời, thực tiễn của các cuộc cách mạng ấy và những xã hội được xây
dựng sau đó lại phơi bày một sự thật khác: con người đã không trở nên “chí
thiện” như đã tưởng, “con người mới” không xuất hiện một cách phổ biến; trái
lại, con người trong các xã hội mới vẫn bộc lộ những yếu kém, những tật xấu,
thậm chí những tệ nạn dưới những hình thức khác nhau.
Điều đó bắt nguồn từ tính phiến diện của chủ nghĩa nhân văn cổ điển mà chủ nghĩa
nhân văn hiện thực, dưới hình thức chủ nghĩa xã hội khoa học, đã trực tiếp kế
thừa.
Đối với chủ nghĩa nhân văn cổ điển, như đã nói, con người được đặt vào vị trí
trung tâm, được đặt lên địa vị tối thượng, nhưng nó vẫn chỉ được nhìn nhận từ
bên ngoài bản thân nó, trong mối quan hệ với thiên nhiên, với xã hội, nhất
là với Thượng đế. Con người chưa được nhìn nhận từ bên trong bởi chính
nó.
Vì thế, bản chất con người, “sức mạnh bản chất của con người”, vẫn là một phạm
trù trừu tượng, được khái quát bằng tư duy triết học siêu hình mà chưa dựa vào
những dữ kiện hiện thực, những nghiên cứu khoa học, do đó, bản chất con người là
gì, tổng hợp từ những yếu tố nào, câu hỏi ấy không được trả lời rành mạch và có
căn cứ vững chắc. Bản chất con người có phải là “chí thiện” không, nó có những
xu hướng trái ngược nhau ngay trong bản thân nó không (chưa nói là tốt hay xấu),
quan hệ giữa cái bẩm sinh (donné) và cái tiếp nhận được (acquis) là thế nào...,
tất cả đều còn mù mờ dưới làn mây trắng đục chưa bị xua tan.
Và đó không phải do lỗi của chủ nghĩa nhân văn cổ điển. Tính phiến diện, tính
hạn chế của nó nằm ngay trong trình độ nhận thức của con người. (Dường như đây
là một qui luật của nhận thức: trước hết là nhận thức những cái “ngoài ta”, rồi
sau đó mới đi theo chiều ngược lại, từ “cái ngoài ta” đến “cái trong ta”?).
Nghịch lý chính là ở đó: chủ nghĩa nhân văn tuy đạt tới tính hiện thực
với Mác, vẫn là chủ nghĩa nhân văn trừu tượng. Và khi còn dừng lại ở dạng
trừu tượng, thì nó chưa thể đưa ra những lời giải chính xác (hay gần chính xác)
cho những câu hỏi hắc búa về đời sống con người ở dạng quần thể cũng như ở dạng
cá thể.
Phải nói rằng, trong những ý kiến của Mác về con người, có những luận điểm hết
sức sâu sắc, khó tìm thấy ở những nhà tư tưởng lớn khác, có những dự cảm khoa
học với sức mạnh phóng chiếu về thời gian mà chính những người mác-xít đã coi
nhẹ trong một thời gian rất dài. (Gần đây ở Liên Xô, một số nhà khoa học nổi
tiếng đề xướng phải trở lại và xuất phát từ những luận điểm của Mác về con người
để xây dựng “một chủ nghĩa nhân văn mới”, nhưng họ vẫn chưa thoát khỏi ảnh hưởng
của chủ nghĩa nhân văn cổ điển nói chung ). Với tất cả sự kính phục, vẫn có thể
dễ dàng nhận thấy tính chất trừu tượng của chủ nghĩa nhân văn hiện thực của Mác.
Xây dựng xã hội mới với con người “chí thiện” trừu tượng - dù đó là “con người -
giai cấp” như học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học đề xướng - thì đó vẫn là “con
người - giai cấp” trừu tượng. Và sự phóng chiếu về xã hội đó vẫn chỉ là kéo dài
nhận thức trừu tượng về con người mà không phải là đi từ con người hiện thực cụ
thể. Hơn nữa, con người được nhìn từ bên ngoài, nghĩa là con người-khách thể,
con người đó chỉ có thể là đối tượng của một sự nhào nặn theo những mục
tiêu lý tưởng trừu tượng mà không phải là con người-chủ thể, tự mình là chủ thể
tự cải tạo theo những yêu cầu của cuộc sống mới với những khả năng và
những giới hạn có thể. Không phải Mác không nói tới vai trò chủ thể của con
người trong lịch sử (con người làm ra lịch sử trong chừng mực ngang như lịch sử
tạo ra con người), nhưng một khi con người chưa tự nhận thức được mình từ bên
trong thì khó có thể đóng vai trò chủ thể.
9.
Chủ nghĩa xã hội khoa học tự tuyên bố là khoa học, đoạn tuyệt một cách căn bản
với các thứ chủ nghĩa xã hội không tưởng trước đó. Trong lịch sử tư tưởng xã hội
chủ nghĩa (và do đó, trong lịch sử tư tưởng loài người nói chung), đây là một
bước nhảy lớn làm chuyển động toàn bộ sự phát triển xã hội một cách mạnh mẽ chưa
từng thấy, vì nó huy động được các tầng lớp quần chúng “bên dưới” tham gia một
cách có ý thức vào sự phát triển xã hội.
Phải nhận rằng nó mang tính khoa học khi phân tích và phê phán xã hội tư sản
đương thời, chủ nghĩa tư bản cổ điển, mà trước đó chưa có một học thuyết nào làm
được như thế. Phát hiện ra cơ chế bóc lột giá trị thặng dư của nhà tư bản, như
Ăng-ghen đánh giá, đó là một công lao vĩ đại của Mác.
Nhưng khi chuyển sang dự báo về xã hội cộng sản tương lai, thì tình hình lại
khác đi, tính khoa học yếu hẳn. Mác đã dự kiến những bước đi lớn của xã hội cộng
sản trên những mảnh đất được ông coi là hiện thực, chia xã hội đó thành hai giai
đoạn (thấp và cao), trong đó giai đoạn thấp (chủ nghĩa xã hội) phải thừa kế
không ít những nguyên tắc của xã hội tư sản (“pháp quyền tư sản” của nguyên tắc
“làm theo năng lực, hưởng theo lao động” là một ví dụ). Đến Lênin, mảnh đất xuất
phát hiện thực của xã hội tương lai được nói rõ hơn, khi ông coi chủ nghĩa tư
bản độc quyền Nhà nước là “phòng chờ trực tiếp” của chủ nghĩa xã hội, giữa hai
cái đó không có một sự chuyển tiếp kinh tế nào khác. Tiếc thay, những luận điểm
sáng suốt, mang tính khoa học ấy về sau bị bỏ qua, gây những tổn thất lớn cho
chủ nghĩa xã hội và trên thực tế đã kéo nó về các hình thái tiền tư bản chủ
nghĩa.
Nhưng, bình tĩnh nhìn lại, người ta thấy rằng trong những dự kiến của các nhà
sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học về xã hội tương lai khi đạt tới trình độ cao
của nó, nhiều cái đã không đứng vững trước tính khoa học nữa. Về thực chất, xã
hội ấy được quan niệm gần như một xí nghiệp công nghiệp mở rộng ra phạm vi toàn
xã hội: tư liệu sản xuất và, sau đó, cả tư liệu tiêu dùng, nằm dưới sự chi phối
của một trung tâm quản lý thống nhất; toàn bộ đời sống kinh tế của xã hội từ sản
xuất đến tiêu dùng được kế hoạch hóa cao độ trên cơ sở chế độ công hữu phổ biến
và tuyệt đối; lao động con người trở thành lao động xã hội trực tiếp, do đó quan
hệ phân phối của cải xã hội cũng được tiến hành trực tiếp bằng những “phiếu thời
gian lao động” lúc đầu và bằng một chế độ cung cấp trực tiếp theo nhu cầu về
sau... Trên cơ sở đó mà xóa bỏ xã hội có giai cấp, thiết lập xã hội không có
giai cấp, trong đó mỗi cá nhân phát triển hài hòa và toàn diện, sự phân chia
thành lao động chân tay và lao động trí óc mất đi, sự phân chia giữa thành thị
và nông thôn cũng mất đi, v.v... Tóm lại, đó là một xã hội thực hiện tất cả
những ước mơ cao đẹp nhất của con người.
Quan niệm ấy về xã hội tương lai là một sự tổng hợp nhiều yếu tố: những lý tưởng
vĩnh hằng, “văn minh công nghiệp”, chủ nghĩa nhân văn đương thời. Nhưng trong
quan niệm đó về xã hội tương lai, thấy rất rõ ảnh hưởng to lớn của các trào lưu
chủ nghĩa xã hội không tưởng. Sự phóng chiếu về tương lai càng xa bao nhiêu, ảnh
hưởng ấy càng lớn bấy nhiêu.
Có thể nói rằng quan niệm ấy là sự tiếp tục các dự án của chủ nghĩa xã hội không
tưởng trên những đường nét cơ bản nhất. Chỉ có cái khác là các dự án ấy từ nay
được coi là đặt trên một mảnh đất “hiện thực” hơn. Như đã nói, cái vĩ đại của
chủ nghĩa xã hội khoa học so với các thứ chủ nghĩa xã hội không tưởng chính là ở
đó, nhưng tính hạn chế của nó cũng chính là ở đó. Nói cách khác, chủ nghĩa xã
hội khoa học vẫn mang trong bản thân nó không ít chất không tưởng.
Xã hội là một cơ thể sống hết sức phức tạp, trong đó các cá nhân cũng phát triển
theo những phương hướng và hình thái hết sức phức tạp. Do đó, không thể khuôn xã
hội loài người vào những “mô hình” có tính phổ biến. Nhất là khi “mô hình” xã
hội tương lai ấy lại không đi từ những điều kiện, những trình độ, những khả năng
của sự phát triển xã hội hiện thực, luôn luôn vận động, đôi khi có những bất
ngờ, những ngẫu nhiên (tức là những cái không thể dự đoán được, chẳng hạn văn
minh tin học, cách mạng công nghệ - khoa học đang diễn ra), mà là từ lý trí trừu
tượng của con người, cho dù lý trí ấy có sáng suốt đến đâu chăng nữa.
Đây là một nghịch lý: tính không tưởng trong trường hợp này lại là sản phẩm của
chủ nghĩa duy lý. Chủ nghĩa duy lý là một trình độ cao của đời sống tinh thần và
tư tưởng của con người, nó giải phóng con người khỏi những mê muội, những tín
điều mà con người bị áp đặt vào. Nhưng nó lại bao hàm những nguy cơ tạo ra những
tín điều mới khi lý trí được tuyệt đối hóa. Bởi vì, thứ nhất, không phải mọi cái
xẩy ra ở con người và xã hội đều được lý trí dự kiến và nắm bắt (xã hội và con
người là những tập hợp phức tạp của cái hợp lý và cái phi lý, và thứ hai, sự
phóng chiếu của lý trí bao giờ cũng có những giới hạn nhất định về thời gian và
không gian. Và như đã thấy, rất nhiều quá trình hiện đang diễn ra của nền văn
minh loài người đã không thể dự kiến được (cả về những khả năng mới của con
người cũng như những nguy cơ đe dọa nó).
Hậu quả của các dự án xã hội không tưởng là rất nguy hại, nhất là khi chúng được
coi là duy nhất khoa học có thể có, nghĩa là khi chúng biến thành những tín
điều. Khi đó, tính không tưởng biến thành một thứ duy ý chí, những dự án duy ý
chí được đem áp đặt cho xã hội và con người, nhân danh sự giải phóng con người,
để cuối cùng, trở thành một sự chuyên chế đối với con người cũng nhân danh con
người. Sự vận động từ ý thức đến thực tiễn không thể tránh khỏi các khâu chuyển
tiếp sau đây: không tưởng - duy ý chí - chuyên chế. Và nếu sự vận động ấy lại
diễn ra từ khâu chuyên chế thì quá trình đó lại tăng thêm chất duy ý chí và chất
không tưởng lên gấp bội, để rồi lại vận động theo chiều ngược lại, với hậu quả
là sự chuyên chế cũng tăng lên gấp bội.
Những dự án xã hội không tưởng còn mang lại một hậu quả khác, cũng không kém
nghiêm trọng: nhân danh tương lai để bắt buộc con người hy sinh hiện tại. Và khi
cuộc sống hiện tại của con người bị hy sinh cho tương lai, thì chính cái tương
lai ấy sẽ không bao giờ tới. Thay thế cho cái hiện tại bị hy sinh, cái tương lai
không bao giờ tới là cái quá khứ mà con người muốn từ bỏ nhưng bây giờ lại chìm
sâu vào đó.
Đây không phải là bác bỏ mọi dự đoán, những dự cảm về tương lai của Mác, một
thiên tài. Trong những dự đoán, những dự cảm ấy, có nhiều cái phải được tiếp
nhận một cách đầy đủ (chẳng hạn, dự báo của Mác về bước nhảy của con người từ
“vương quốc tất yếu” sang “vương quốc tự do” trong xã hội tương lai). Nhưng
không nên coi những cái đó là một hệ thống hoàn chỉnh, một thiết kế không thể
thay thế được, như đã từng làm. Vả chăng, làm như thế là trái với chính Mác và
những tư tưởng của ông.
10.
Chủ nghĩa xã hội đã cáo chung? Ngay việc đặt câu hỏi này ra, đối với nhiều tín
đồ Mác-Lênin, có vẻ là phản động. Để trở lại với chủ nghĩa tư bản ư? - họ hỏi
lại ngay. Nhưng không nên vội vã phán xét sự vận động của tư tưởng. Tất nhiên,
không thể quay về với chủ nghĩa tư bản như một hình thái xã hội đã bị phủ định
về mặt lịch sử, nhưng không phải vì thế mà thiếu đi một nhận định khách quan và
khoa học đối với sự tồn tại và phát triển đang đặt ra nhiều câu hỏi không đơn
giản về chủ nghĩa tư bản (chẳng hạn câu hỏi sau đây: tại sao một hình thái xã
hội dựa trên cơ sở chế độ tư hữu phát triển ở trình độ cao như vâỵ lại có thể
thích nghi với các giai đoạn văn minh khác nhau của loài người: tiền công
nghiệp, công nghiệp và hậu công nghiệp?). Và dù cho không muốn từ bỏ những lý
tưởng và những nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội - thể hiện ở chủ nghĩa xã hội
khoa học - cũng không thể không đặt ra những câu hỏi về vận mệnh lịch sử của nó
một cách cũng khách quan và khoa học, vượt lên mọi tín điều và cảm xúc (như một
tác giả Xô-viết gần đây đã tự đặt ra câu hỏi: tại sao gần một thế kỷ nay, trải
qua những thí nghiệm lịch sử khác nhau, người Nhật trở thành những người châu Âu
nhất giữa châu Á, còn người Nga thì lại trở thành những người châu Á nhất giữa
châu Âu?). Xét đến cùng, đó không phải là những câu hỏi của các cá nhân riêng
rẽ, mà là phản ảnh sự phán xét về sự vận động lịch sử của loài ngưòi. Câu trả
lời trước tiên không phải tìm từ trong sách vở, mà là từ trong những hiện
thực lớn nhất của thời đại hiện nay
Ở đây, xin nói một chút về khái niệm “thời đại”. Đó không phải là một khái niệm
đơn trị mà là một khái niệm đa trị, tùy theo những nội dung căn bản, những tiêu
chuẩn căn bản nào được dùng để phân định thời đại. Một định nghĩa quen thuộc về
thời đại mà những người mác-xit hay dùng: thời đại được qui định bởi giai cấp
nào chiếm địa vị trung tâm của nó, quyết định nội dung và phương hướng chủ yếu
của nó. Với cách định nghĩa này, những người mác-xít khẳng định thời đại hiện
nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội trên phạm vi
toàn thế giới, mở đầu bằng Cách mạng tháng Mười Nga. Cách hiểu đó về thời đại là
cách hiểu dựa vào cách nhìn sự vận dộng lịch sử qua các giai cấp và đấu tranh
giai cấp, do đó, khái niệm “thời đại” ở đây mang nội dung xã hội - chính trị
trực tiếp. Nhưng ngoài khái niệm mác-xít ấy (mà các nhà nghiên cứu mác-xít cũng
đang “điều chỉnh” nội dung của nó), còn có những khái niệm “thời đại” khác, dựa
vào những nội dung và tiêu chuẩn khác Trong đó, nổi bật lên khái niệm “thời đại”
lấy những biến đổi về chất của lực lượng sản xuất xã hội làm tiêu chuẩn chủ yếu
để phân biệt. Và theo cách hiểu này, người ta phân biệt các thời đại: tiền công
nghiệp, công nghiệp, hậu công nghiệp (hay điện tử - tin học, khoa học - công
nghệ, v.v...).
Nếu trung thành với chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác, trong đó phép biện chứng
của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là nền tảng, thì ngoài khái niệm
“thời đại” theo nghĩa xã hội - chính trị, phải chấp nhận cả khái niệm “thời đại”
theo nghĩa biến đổi về chất của lực lượng sản xuất, theo nghĩa kỹ thuật - công
nghệ. Hơn nữa, không thể không nghiên cứu mối quan hệ qua lại biện chứng giữa
hai khái niệm “thời đại” này theo phép biện chứng của lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất. Đây là một công việc lý luận hết sức nghiêm túc, không thể bỏ qua.
Nhưng dù kết quả nghiên cứu sẽ là như thế nào đi nữa, theo tôi, khái niệm “thời
đại” hiểu theo nghĩa những biến đổi của lực lượng sản xuất phải là khái niệm
cơ sở.
Rõ ràng, loài người đang nằm ở nơi tiếp giáp giữa hai thời đại công nghiệp và
hậu công nghiệp. Trong khi phần lớn các nước còn đang ở trong thời đại công
nghiệp (văn minh công nghiệp), thậm chí nhiều nước còn ở trong thời đại tiền
công nghiệp, thì các nước phát triển nhất đã bước sang thời đại hậu công nghiệp
với cuộc cách mạng khoa học - công nghệ mới. Có thể khẳng định đó là một giai
đoạn văn minh mới của loài người, tức là một cấp độ văn minh cao hơn. Nội dung
và cả tên gọi của nền văn minh này còn phải bàn luận, nhưng rõ ràng nó đã xuất
hiện như một hiện thực cơ sở của thời đại hiện nay. Trong nền văn minh mới này,
tất cả các mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người thay đổi tận gốc. Ở
đây chỉ xin nói tới một số điểm có liên quan trực tiếp với hệ vấn đề của chúng
ta.
vân vân...
Tóm lại, trí tuệ con người trở thành nhân tố hàng đầu, chi phối các quá trình
sản xuất xã hội, tạo ra giá trị chủ yếu của sản phẩm xã hội, do đó, trở thành
tài sản cơ bản của mọi nền kinh tế quốc dân.
Trong nền văn minh mới, các quan hệ về lao động, về sở hữu, về giao lưu... của
loài người sẽ mang một chất lượng mới.
Lao động trực tiếp sản xuất ngày càng giảm đi, lao động điều khiển và quản lý
sản xuất ngày càng tăng lên, lao động chân tay có xu hướng giảm ngày càng nhanh
và lao động sáng tạo có xu hướng ngày càng phổ biến hóa. Lao động tập thể (trong
dây chuyền sản xuất) dần dần nhường chỗ cho lao động cá nhân. Khái niệm “giai
cấp công nhân” hiểu theo nghĩa cổ điển không còn tồn tại nữa, dù với những biến
thể của nó (như coi lao động trí óc là một bộ phận của giai cấp công nhân, hoặc
trí thức hóa...), thay vào đó là khái niệm “người lao động” mang thuộc tính mới
(sáng tạo, cá nhân, xã hội hóa linh hoạt...). Quan niệm về “sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân” trở nên lỗi thời.
Các quan hệ sở hữu cũng biến đổi căn bản. Trên cơ sở (và theo đòi hỏi) của cách
mạng khoa học - công nghệ, của lực lượng sản xuất ở trình độ mới, sở hữu ngày
càng đa dạng. Nếu trước đây, sản xuất nhỏ bị sản xuất lớn của văn minh công
nghiệp phủ định, thì bây giờ, sản xuất lớn kiểu công nghiệp lại bị sản xuất đa
dạng, hỗn hợp phủ định. Trong giai đoạn văn minh nới, các hình thức sở hữu khác
nhau đều có thể tồn tại trên cơ sở kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Tùy theo
những yêu cầu của sản xuất xã hội, mỗi hình thức sở hữu lớn và nhỏ xã hội và cá
nhân, đều có vị trí trong mối liên hệ hữu cả với các hình thức sở hữu khác. Sở
hữu cá nhân ở đây không còn là sở hữu tư nhân theo quan niệm cũ. Sở hữu tư nhân
trước đây (dưới chủ nghĩa tư bản chẳng hạn) đi tới tách tư liệu sản xuất khỏi
người lao động. Trong giai đoạn văn minh mới, sở hữu cá nhân là sự thống nhất
của hai yếu tố đó. Sở hữu cá nhân trước đây (như kinh tế học chính trị về chủ
nghĩa xã hội quan niệm) chỉ bó bẹp vào tư liệu tiêu dùng cá nhân. Sở hữu cá nhân
mới cho phép bao hàm cả tư liệu sản xuất. Về đại thể, sở hữu xã hội (dưới các
hình thức khác nhau của nó: toàn dân, tập thể, địa phương...) và sở hữu cá nhân
nằm trong mối quan hệ tối ưu với sản xuất và tiêu dùng của xã hội, bổ sung nhau,
thâm nhập lẫn nhau, thúc đẩy nhau. cơ sở hữu xã hội lẫn sở hữu cá nhân đều mất
địa vị độc tôn. Trong xã hội sẽ tồn tại một hệ thống sở hữu đa nguyên.
11.
Nền văn minh mới của loài người không chỉ làm biến đổi đời sống kinh tế của con
người. Nó còn làm biến đổi các mặt đời sống khác (chính trị, tư tưởng, văn
hóa...) của con người. Xin nêu bật mấy điểm có liên quan trực tiếp với hệ vấn đề
của chúng ta.
Trong đời
sống tinh thần của con người, của xã hội, sự phân chia thành những hệ tư tưởng,
những trường phái tư tưởng khác nhau vẫn tiếp tục tồn tại, nhưng không còn giữ
thái độ thù địch nhau, loại bỏ nhau bằng bạo lực, bằng những sức ép tinh thần
nữa. Đời sống con người sẽ mang tính đa nguyên ngày càng cao. Tranh luận sẽ tăng
lên, nhưng sự tiêu diệt nhau vì lý do hệ tư tưởng sẽ không còn. Nếu trong Thời
Khai sáng, sự khoan dung về tín ngưỡng (tolérance de conscience) được nêu thành
một trong những phương châm lớn nhất của đời sống tinh thần xã hội, thì bây giờ
nó phải được mở rộng ra mọi lĩnh vực khác (hệ tư tưởng, khoa học...).
12.
Chủ nghĩa nhân văn mới đang xuất hiện, nó kế thừa, phát triển và thay thế
chủ nghĩa nhân văn cổ điển. Cái chung của chủ nghĩa nhân văn cổ điển và chủ
nghĩa nhân văn mới là lấy con người làm điểm xuất phát và điểm tận cùng của đời
sống xã hội, coi con người là giá trị tự thân, là mục đích tự thân của chính nó.
Nhưng giữa hai thứ chủ nghĩa nhân văn này có những khác biệt căn bản, từ nhận
thức chính bản thân con người đến việc đặt vị trí của nó trong tự nhiên.
Như đã nói trên, nhân văn cổ điển chủ yếu là nhận thức con người từ bên ngoài.
Chủ nghĩa nhân văn mới, ngoài việc tiếp tục các nhận thức ấy ra, chủ yếu đi theo
một đường hướng nhận thức khác: từ bên trong. Trước kia, không thể làm
như vậy được vì trình độ phát triển của các khoa học chưa cho phép. Nhiều lắm,
con người cũng chỉ được nhận thức từ bên trong từng mảnh, mang tính cơ giới
(chẳng hạn nhận thức về từng hệ thống trong cơ thể: hệ tuần hoàn, hệ tiêu hóa,
hệ thần kinh, hệ hormon...). Nói như Frolov, một nhà triết học Xô-viết, trong
con người, cái gì cũng được người ta hiểu hết, nhưng con người trở thành con
người như thế nào thì chưa thể hiểu được. Mấy chục năm qua, không những các
ngành khoa học truyền thống (“cũ”) như y học, sinh học, vật lý, hóa học...) đã
cung cấp thêm nhiều dữ kiện để hiểu rõ con người hơn, nhưng quan trọng nhất là
những khám phá của các ngành khoa học mới và các khoa học liên ngành, đặc biệt
là sinh học phân tử, di truyền học, vật lý sinh học, hóa học sinh học, tâm thần
học, ứng xử học (bao gồm sinh học xã hội - biosociologie), v.v... Sự liên kết,
hòa nhập của tất cả các ngành khoa học ấy thành một hệ thống khoa học thống nhất
về con người đã được bắt đầu thực hiện (qua các trung tâm như Institut de
l’homme của Jacques Monod ở Paris, Viện Nghiên cứu Con người của Frolov ở
Moskva...), báo hiệu một giai đoạn mới về chất của việc nghiên cứu con người.
Nhiều vấn đề nổi lên hàng đầu: chương trình sinh học, hệ di truyền, vô thức và
siêu thức... (Chưa nói tới những nghiên cứu cho đến nay vẫn chưa được thừa nhận
rộng rãi: ngoại cảm, ngoại tâm lý, tử vi, v.v... mà chúng ta không nên loại bỏ
một cách đơn giản). Việc nghiên cứu con người từ bên trong gắn liền với việc
nghiên cứu nó về mặt sinh thành cá thể, ngoài mặt sinh thành quần thể đã có. Số
phận con người không chỉ được đặt trên bình diện cái chung, mà còn được đặt ra
trên bình diện cái riêng. Những thành tựu mới về nghiên cứu con người chưa thật
nhiều, nhưng đã bắt đầu có cơ sở để giải đáp một số vấn đề cơ bản của đời sống
con người:
Như vậy, một
xã hội phù hợp nhất với con người, một xã hội có nhân tính không phải là một xã
hội chỉ cần dọn dẹp môi trường chung quanh để thích hợp với “tính bản thiện” của
nó, cũng không phải là một xã hội khuôn theo những công thức lý tưởng nào đó do
ý chí tốt lành nào đó của một số người tự coi có sứ mệnh cứu thế áp đặt, và nếu
con người không thích hợp với những công thức này thì chỉ có việc là “nhào nặn
lại” cho thích hợp. Một xã hội có nhân tính là một xã hội được tổ chức sao cho
những bản tính tự nhiên của con người tồn tại một cách tự nhiên, tạo ra những
điều kiện tối ưu cho sự phát triển toàn diện và tự do cho mỗi cá nhân con người.
Trong xã hội đó, cái ego không bị triệt tiêu, trái lại, còn được coi là
đơn vị cơ sở của xã hội. Tính đồng loại, tính tập thể của con người là tất yếu
(cũng giống như mọi quần thể sinh học khác) và cũng phải được coi là một giá trị
cơ bản, nhưng điều đó không có nghĩa là triệt tiêu cái ego mà chính là
phải tạo ra môi trường thuận lợi và tối ưu cho mỗi ego. Xã hội chỉ qui
định ranh giới để cho ego này không làm tổn hại ego khác. Tất cả
những giá trị vật chất và đạo đức do con người tạo dựng trong lịch sử phải trở
thành tài sản riêng của mỗi ego, và bằng cách đó mà trở thành tài sản
chung của toàn xã hội. Cái xã hội (cái chung) làm phong phú cho cái cá nhân (cái
riêng),và ngược lại, cái cá nhân được phát triển sẽ làm cơ sở và điều kiện cho
cái xã hội phát triển theo những nhịp độ gia tốc.
Cái ego trong những điều kiện mới không phải là chủ nghĩa cá nhân. (Trong
các xã hội nguyên thủy, không có cá nhân tồn tại như vốn có, vì thế không có chủ
nghĩa cá nhân. Trong các xã hội có chế độ người áp bức và bóc lột người, cá nhân
bị triệt tiêu theo hai hướng: những người bị áp bức và bóc lột thì bị tước đoạt
mất những điều kiện tồn tại với tư cách cá nhân, bị mất nhân tính, bị tha hóa;
những kẻ áp bức và bóc lột người khác lại chiếm lĩnh nhân tính cho riêng mình,
nhưng làm như thế họ cũng đánh mất nhân tính, vì nhân tính chỉ có thể tồn tại
như một khái niệm loài (tộc loại) - trong các quan hệ giữa các cá thể cùng một
loài - do đó, cá nhân họ cũng chỉ có thể tồn tại dưới dạng chủ nghĩa cá nhân,
nghĩa là cá nhân bị tha hóa).
Mỗi ego được phát triển, tự phát triển dến mức có thể có (trong giới hạn
không gây tổn hại cho các ego khác), do đó, tính đa dạng của con người
cũng phát triển đến mức cao. Với những ego như thế, xã hội ngay trong bản
chất của nó có tính đa nguyên.
Chủ nghĩa nhân văn mới dựa trên những cơ sở vật chất mới, đặc biệt là những
phương tiện tin học. Con người có trong tay những phương tiện vật chất có hiệu
quả để phát triển theo hai hướng: cá thể hóa và toàn cầu hóa (tộc loại hóa). Sự
khẳng định về mặt cá thể ngày càng được đẩy sâu do được bảo đảm tính độc lập của
mình trong lao động và các mặt đời sống khác. Đồng thời những phương tiện tin
học giúp cho con người nắm bắt các quá trình toàn cầu một cách nhanh nhạy và sâu
sắc, con người ngày càng cảm thấy mình là một tế bào hữu cả của tộc loại. Tác
động giữa các cá nhân diễn ra không chỉ trong phạm vi từng nước, từng vùng, mà
cả trên phạm vi toàn cầu. Tính toàn cầu trở thành một trong những nền tảng chủ
yếu của tổ chức xã hội. Nó trở thành một thước đo của xã hội. Sự tiến hóa của xã
hội không chỉ được đo theo chiều dọc thời gian, mà còn được đo theo chiều ngang
không gian. Hai yếu tố thời gian và không gian của con người thâm nhập nhau, tạo
thành một khái niệm “thời gian - không gian” thống nhất (chiều rộng không gian
sẽ bù đắp cho những nhịp độ chậm chạp về thời gian, và chiều sâu thời gian sẽ bù
đắp cho những chênh lệch, khập khiễng về không gian).
Chủ nghĩa nhân văn mới đặt con người vào đúng chỗ trong tự nhiên. Nhận thức của
con người về bản thân mình càng sâu, thì nhận thức về tự nhiên của nó cũng càng
sâu. Con người vừa tự coi mình là một thực thể sống cao nhất trong tự nhiên, vừa
thấy rõ hơn mình là một bộ phận không tách rời và không đối lập với tự nhiên,
Quan niệm coi con người là trung tâm (anthropocentrisme) của chủ nghĩa nhân văn
cổ điển sẽ được thay thế bằng quan niệm hòa hợp, hòa nhập giữa con người và tự
nhiên. Bản tính tự nhiên của con người được khôi phục và phát triển ngày càng
cao, cùng với quá trình ấy sẽ diễn ra quá trình tự nhiên được người hóa, theo
nghĩa được con người làm cho hoàn thiện hơn.
Không phải ngẫu nhiên mà gần đây các trào lưu sinh thái học nảy sinh và tăng lên
nhanh chóng, thu hút sự quan tâm của mọi người. Chưa bao giờ con người cảm thấy
nguy cơ thoái hóa, thậm chí hủy diệt của mình gắn liền với sự thoái hóa và hủy
diệt môi trường tự nhiên như bây giờ. Bảo vệ tự nhiên đồng nghĩa với bảo vệ con
người. Bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên, vì thế, là một đòi hỏi và cũng là
một trong những nền tảng tổ chức xã hội trong nền văn minh mới.
Chưa nói tới những khả năng mới của con người trong các quan hệ của nó với vũ
trụ. Những thám hiểm của con người về vũ trụ đang mở rộng tầm nhìn của nó để có
thể đi tới một vũ trụ quan đích thực (dựa vào những dữ kiện hiện thực được khám
phá ngày càng nhiều, mà không chỉ dựa vào những khái quát triết học, những dự
cảm tôn giáo). Những nghiên cứu về các nền văn minh ngoài trái đất (đang được
bắt đầu một cách dè dặt) có thể mang lại cho con người những biến đổi mới về
nhận thức đối với sự tồn tại của chính bản thân mình. Trong trường hợp có những
nền văn minh như vậy và có những giao tiếp với chúng, con người sẽ phải tư duy
và sống khác đi để tạo ra một sự hòa hợp với những “người vũ trụ” khác. Trong
trường hợp không có những nền văn minh ấy, con người cũng sẽ phải tư duy và sống
khác đi để tự bảo tồn tộc loại của mình như sản phẩm cao nhất và độc nhất của
tiến hóa vũ trụ một cách có trách nhiệm hơn nhiều.
Tóm lại, chủ nghĩa nhân văn mới không cần đến những “con người chí thiện”. Nó
chỉ cần có những con người như vốn có với tất cả những khả năng và hạn chế và,
do đó, cũng cần tới một tổ chức xã hội phù hợp với những khả năng và những hạn
chế ấy.
(Tiểu luận này còn tiếp một kỳ)
Nguồn: Những bài viết của Nguyễn Kiến Giang trong thập niên 90 được đăng rải rác trên báo chí trong ngoài nước, được chuyền tay hoặc chưa công bố, nay được tập hợp thành loạt bài “Suy tư 90” cho bản đăng chính thức trên talawas, với sự hiệu đính cuối cùng của tác giả