Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
Nguyễn Kiến GiangSuy tư 90 - Đi tìm lời giải mới của chủ nghĩa xã hội (3) |
(Mấy suy nghĩ về số phận lịch sử của chủ nghĩa xã hội khoa học)
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=6877&rb=0306
Suy tư 90 - Đi tìm lời giải mới của chủ nghĩa xã hội (1)
13.
Nền văn minh mới của loài người, với hai nền tảng kết hợp hữu cơ với nhau: lực
lượng sản xuất mới và nhận thức khoa học mới, đang cung cấp những điều kiện mới
và đưa ra những đòi hỏi mới về tổ chức xã hội. Nhưng đó chỉ mới là những điều
kiện và những đòi hỏi khách quan, chưa thể trở thành những hiện thực đầy đủ với
tư cách một hình thái xã hội mới trong lịch sử loài người. Trong lịch sử,
bất cứ hình thái xã hội mới nào cũng là sự kết hợp các yếu tố khách quan và các
yếu tố chủ quan (thực tiễn của con người). Nó chỉ có thể ra đời dưới dạng phủ
định biện chứng từ trong hình thái xã hội trước đó. Do đó, hình thái xã hội mới
phải là hành vi chủ quan của con người dựa trên những điều kiện và những đòi hỏi
khách quan. Và, dưới dạng phủ định biện chứng, nó phải thoát thai từ những hình
thái xã hội hiện có - xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội xã hội chủ nghĩa (được
tổ chức theo học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học với những biến dạng và biến
chất của nó).
Trước khi xem xét hai loại xã hội ấy có thể đi tới hình thái xã hội mới như thế
nào (theo phương trình biện chứng: khẳng định - phủ định - phủ định của phủ
định), xin nêu mấy đặc trưng có thể có của hình thái xã hội mới từ những phân
tích nói trên. (hãy khoan đặt tên cho hình thái xã hội mới có thể có ấy, mà
trước hết nêu ra một số đặc trưng chủ yếu của nó).
Thứ nhất, kỹ thuật và công nghệ sản xuất phát triển ở trình độ cao, luôn luôn tự
hoàn thiện và có những bước nhảy do chính lôgic phát triển của khoa học và công
nghệ qui định; do đó tạo ra những năng suất lao động xã hội rất cao, đủ sức thỏa
mãn những nhu cầu xã hội và cá nhân ngày càng phát triển và đổi mới, thu hẹp dần
“vương quốc tất yếu” và mở rộng dần “vương quốc tự do”, lao động sản xuất kết
hợp hữu cơ với lao động sáng tạo thành một thể thống nhất, bằng cách đó biến lao
động thành nhu cầu phát triển của chính con người;
Thứ hai, chế độ sở hữu là một tổng thể đa dạng, kết hợp sở hữu cộng đồng trong
những lĩnh vực bảo toàn và phát triển của cộng đông, bảo vệ môi trường sinh
thái, với sở hữu cá nhân dưới mọi hình thức (sở hữu tư nhân, sở hữu hợp tác của
các cá nhân v.v...) trong những lĩnh vực sản xuất các sản phẩm đáp ứng nhu cầu
của con người;
Thứ ba, bảo đảm các quyền con người, các quyền tự do dân chủ của cá nhân, lấy sự
phát triển tự do của cá nhân làm điều kiện và tiền đề cho sự phát triển tự do
của xã hội; thực hiện chế độ tự quản xã hội ở tất cả các cấp quản lý xã hội,
thống nhất các quyền và các nghĩa vụ công dân trong nhà nước pháp quyền, theo
nguyên tắc “nhà nước cho xã hội và công dân”;
Thứ tư, đời sống tinh thần và văn hóa phát triển cao, dựa trên tính đa nguyên,
sự dung thứ và tôn trọng lẫn nhau của các hệ tư tưởng, các tín ngưỡng, các học
thuyết, các trường phái khác nhau; những giá trị đạo đức và tinh thần của loài
người và của mỗi cộng đồng dân tộc được tôn trọng và phát huy; xóa bỏ những cơ
sở và những biểu hiện của bạo lực giữa các cá nhân và các cộng đồng khác nhau.
Có thể thêm những đặc trưng khác, nhưng trong những giới hạn có thể có để tránh
những ngoại suy có tính không tưởng.
Nói khái quát, đó là một hình thái xã hội tự phát triển, nhân bản và đa
nguyên.
Đó không phải là một xã hội lý tưởng, mà là một nấc thang trên con đường tự giải
phóng và tự hoàn thiện của con người. Bản thân nó không tránh được những mâu
thuẫn nội tại và những xung đột gay gắt, thậm chí cả những khủng hoảng nguy hiểm
chưa lường trước khi đứng trước những nguy cơ từ bên ngoài và từ bên trong có
thể đe dọa sự tồn tại và phát triển của con người (kể cả loài người nói chung).
Ngay trong lòng nó, có thể nảy sinh những xu hướng đi ngược với sự phát triển
lịch sử tự nhiên của nó, có khi bắt nguồn từ những hình thái xã hội trước đó:
...vân vân và
vân vân...
Những hiện tượng thoái hóa về nhân cách, phi nhân tính và độc quyền vẫn có thể
xuất hiện ở những mức độ không thể coi thường. Và cả trong mối quan hệ với tự
nhiên, vẫn có thể xẩy ra những hiện tượng vi phạm cân bằng sinh thái do những
tính toán sai lầm gây ra. Và, cuối cùng, những ảo tưởng vạn năng của con người
đối với tự nhiên và đối với chính bản thân con người, vi tư cách một bộ phận của
tự nhiên, cũng có thể dẫn tới những nguy cơ không nhỏ.
14.
Hình thái xã hội tương lai ấy không phải là hình thái xã hội chủ nghĩa, dù có
thêm những tính từ “phát triển”, “hoàn thiện”, “có bộ mặt dân chủ và nhân đạo”,
v.v... Và do đó, cũng không thể gọi là xã hội cộng sản chủ nghĩa. Những khái
niệm “chủ nghĩa xã hội”, “chủ nghĩa cộng sản” đã xuất hiện từ nhận thức và hiện
thực trong quá khứ, như đã nói trên đây.
Trong bối cảnh thế giới hiện đại, khi loài người tiến bước vào nền văn minh mới
với triển vọng mở ra một hình thái xã hội mới, thì những khái niệm “chủ nghĩa xã
hội”, “chủ nghĩa cộng sản” trở nên không thích hợp nữa. Trong đời sống hiện
thực, những khái niệm ấy chưa mất hết giá trị của chúng, nhưng đứng về mặt
triển vọng lịch sử mà xét, chúng đã bị vượt qua. Đây chắc chắn là điểm gây
“choáng” mạnh nhất đối với những ai đã từng coi chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa
cộng sản là lý tưởng của mình (trong đó có cả bản thân người viết những dòng
này). Nhưng hãy thật tỉnh táo về nhận thức lý luận, đừng để cho bất cứ một khái
niệm lịch sử nào đông cứng lại và không thể bị thay thế bằng những khái niệm
khác, một khi đời sống hiện thực đòi hỏi phải làm như thế, dù rằng điều đó có
gây ra những xúc cảm đau đớn như thế nào chăng nữa.
Sở dĩ không gọi hình thái xã hội mới trong tương lai có thể nhìn thấy của loài
người (vào giữa thế kỷ XXI, chẳng hạn) là “chủ nghĩa xã hội” coi như một giai
đoạn cần thiết để tiến lên “xã hội cộng sản”, là vì những khái niệm ấy không đủ
sức chứa đựng những nội dung cơ bản của hình thái xã hội mới. Một số điểm nội
dung của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, chủ yếu những nội dung mang
tính lý tưởng của chúng, vẫn có thể tồn tại trong khái niệm hình thái xã hội
mới, nhưng nhiều điểm nội dung của chúng không còn thích hợp với khái niệm này
nữa.
Trong một số
trường hợp, việc tiếp tục sử dụng khái niệm “chủ nghĩa xã hội” và “chủ nghĩa
cộng sản” là có thể hiểu được trong một thời gian nhất định (sẽ nói trong một
đoạn sau), nhưng thật ra những khái niệm này, nhất là khái niệm “chủ nghĩa xã
hội”, trong những trường hợp ấy cũng đang dần dần mất đi nội hàm ban đầu của
chúng, mà chủ yếu chỉ còn có ý nghĩa tâm lý - xã hội.
Ngay hiện nay, ở một số nước Đông Âu, khái niệm “chủ nghĩa xã hội” đã bị loại ra
khỏi tên quốc gia, khỏi hiến pháp. Điều đó có thể cắt nghĩa một phần bằng thái
độ phủ nhận chủ nghĩa xã hội trong các tầng lớp quần chúng nhân dân đông đảo (kể
cả trong những tầng lớp lao động) do những thực tế đáng buồn của “chủ nghĩa xã
hội hiện thực” đem lại cho họ trong hơn bốn mươi năm vừa qua. Nhưng không phải
chỉ có thế. Điều đó cũng có thể được cắt nghĩa bằng sự phủ nhận khái niệm “chủ
nghĩa xã hội” ở một bộ phận xã hội, chủ yếu là những nhà trí thức có tầm nhìn
rộng lớn, như trường hợp viện sĩ Sakharôv dự thảo hiến pháp mới của Liên Xô
trước khi ông mất, do nhận thấy khái niệm ấy không có triển vọng về mặt khoa
học.
15.
Hình thái xã hội mới, phù hợp với trình độ văn minh mới của loài người, chưa
xuất hiện dưới dạng hoàn chỉnh, thậm chí cũng chưa hình thành thật rõ nét ở bất
cứ đâu. Nhưng những yếu tố này hay những yếu tố khác của nó thì đã hình thành từ
trong các chế độ xã hội hiện có - tư bản chủ nghĩa cũng như xã hội chủ nghĩa.
Nói cách khác, các chế độ hiện có, ở những mức độ khác nhau, đang chứa đựng
những khả năng chuyển sang hình thái xã hội mới. Và sự chuyển biến này đối với
những nước có trình độ phát triển kinh tế cao - hiểu theo nghĩa đã trở thành
những nước công nghiệp - là có tính chất trực tiếp. Các nước tư bản chủ nghĩa
phát triển phương Tây không cần phải chuyển thành xã hội chủ nghĩa để tiến tới
hình thái xã hội mới. Cũng vậy, các nước xã hội chủ nghĩa không cần phải quay
trở lại chủ nghĩa tư bản để tiến tới hình thái đó. Những trường hợp khác, chủ
yếu là các nước đang phát triển, chưa đạt tới trình độ một nước công nghiệp,
tình hình có thể khác. Ở đây, còn phải trải qua nhiều bước chuẩn bị cho bước
chuyển căn bản đó, nhưng thời gian của những bước chuyển ấy không nhất thiết
phải là hàng thế kỷ như sự vận động lịch sử trước đây, mà sẽ chịu tác động của
“lực gia tốc” trong thời đại mới.
Trên kia có nói tới sự vận động theo phương trình biện chứng của lịch sử: chủ
nghĩa tư bản (khẳng định) - chủ nghĩa xã hội (phủ định) - hình thái xã hội mới
(phủ định của phủ định). Thật ra, cách nói ấy cũng không chính xác. Sự vận động
biện chứng ấy sẽ không diễn ra bằng những “lát cắt lịch sử” rành rọt và kế tiếp
nhau như vậy, hết “lát cắt” này dến “lát cắt” khác. Sự vận động biện chứng ấy
cần được hiểu theo một cách khác. Những yếu tố phủ định nằm ngay trong hình thái
khẳng định, để rồi trải qua phủ định của phủ định và chuyển thành hình thái
khác, cao hơn. Chế độ xã hội chủ nghĩa, do đó, không phải được hiểu là sự phủ
định chế độ tư bản chủ nghĩa với điều kiện bắt buộc phải trở thành một hình thái
riêng, sau đó lại bị phủ định để trở thành hình thái xã hội mới. Ngược lại, chế
độ xã hội chủ nghĩa cũng không phải bị hình thái tư bản chủ nghĩa phủ định, để
sau đó lại bị hình thái xã hội mới phủ định. Sự vận động biện chứng diễn ra đối
với cả hai chế độ hiện có, tư bản chủ nghĩa cũng như xã hội chủ nghĩa. Nghĩa là,
ngay trong lòng mỗi chế độ ấy (ở một trình độ phát triển nhất định) đều có những
yếu tố phủ định để rồi bị phủ định một lần nữa bởi hình thái xã hội mới.
Từ quan niệm đó, hãy xét xem sự chuyển biến căn bản của mỗi hình thái xã hội
hiện có sang hình thái xã hội mới sẽ có thể diễn ra như thế nào (tất nhiên, đây
chỉ là những dự cảm trên những nét lớn).
16.
Trước hết, chế độ tư bản chủ nghĩa. Nói cụ thể và chính xác hơn, các nước tư bản
chủ nghĩa phát triển đang bước vào nền văn minh mới của loài người.
Ở đây đã có một số tiền đề vật chất, kinh tế, xã hội, chính trị và tư tưởng cho
sự chuyển biến ấy. (Trong đề cương này, không phân tích quá trình tiến hóa của
chủ nghĩa tư bản từ cổ điển lên hiện đại, mà coi chủ nghĩa tư bản hiện đại là
căn cứ xuất phát).
Tất cả những
tiền đề ấy tạo ra mảnh đất thuận lợi để các nước tư bản chủ nghĩa chuyển sang
hình thái xã hội mới. Nói cách khác, những yếu tố khác nhau của hình thái xã hội
mới đã có sẵn ngay trong lòng chủ nghĩa tư bản hiện đại. (Nhớ lại một
luận điểm của Stalin: trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa không có những yếu tố
có sẵn cho chủ nghĩa xã hội. Một luận điểm rất siêu hình!).
Nhưng sự chuyển biến của chủ nghĩa tư bản hiện đại sang hình thái xã hội mới
chắc chắn sẽ phải diễn ra dưới trạng thái cách mạng. Cách mạng ở đây không phải
được hiểu như một hay nhiều hành vi bạo lực, dù rằng không thể loại bỏ khả năng
này một cách tuyệt đối, mà như những bước nhảy về chất trong các lĩnh vực đời
sống xã hội, chủ yếu trong lĩnh vực quan hệ sở hữu kinh tế và quyền lực chính
trị. Các tập đoàn tư bản lớn, các thế lực chính trị tư bản chủ nghĩa (và cả các
mafia) không rời bỏ vị trí của chúng một cách êm thấm. Ý thức sùng bái tư hữu
tuyệt đối và phổ biến cũng như chủ nghĩa cá nhân con đẻ của nó (đặc biệt là chủ
nghĩa cá nhân cực đoan) không tự kết thúc một cách dễ dàng. Những cuộc đấu tranh
xã hội sẽ diễn ra với những cường độ khác nhau, kể cả những hình thức quyết liệt
của quần chúng đông đảo. Những phong trào xã hội (chống bóc lột kinh tế, chống
hủy hoại môi trường sinh thái, chống bất bình đẳng nam nữ, chống phân biệt chủng
tộc, dân tộc, tôn giáo, v.v...) sẽ phát triển mạnh mẽ, bao gồm các tầng lớp nhân
dân rộng rãi, trong đó trí thức đóng vai trò chủ đạo.
Không thể dự kiến sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản sẽ kéo dài đến bao giờ, nhưng
sự kết thúc của nó để nhường chỗ cho hình thái xã hội mới là chắc chắn và, trong
một số trường hợp, là có thể nhìn thấy về mặt lịch sử. Một số nước phát triển ở
phương Tây hiện nay cũng đã báo trước điều đó (Thụy Điển là một ví dụ).
Cũng không thể khẳng định sự chuyển biến của chủ nghĩa tư bản hiện đại sang hình
thái xã hội mới là một con đường thẳng, không có những khúc quanh và những bước
giật lùi. Có thể xẩy ra những “thời kỳ phản động” ở nước này hay nước khác,
nhưng những thời kỳ như vậy sẽ không kéo dài nhiều thập kỷ như trước đây. Nói
chung, chủ nghĩa tư bản hiện đại sẽ chuyển sang hình thái xã hội mới qua các
cuộc đấu tranh ngay trong bản thân nó giữa các lực lượng xã hội khác nhau, đối
lập nhau, theo hướng dân chủ hóa và nhân đạo hóa.
17.
Vấn đề chuyển sang hình thái xã hội mới ở các nước xã hội chủ nghĩa hiện có là
vấn đề phức tạp hơn nhiều. Đối với các nước này, đó là một con đường vòng, tốn
nhiều thời gian và phải trả nhiều phí tổn hơn. Bởi vì, như trên đã nói, với hình
thức “chủ nghĩa xã hội Nhà nước”, các nước này đã tách khỏi “con đường lớn” của
nền văn minh loài người trong một thời gian khá dài, do đó, phải mất một thời
gian cũng khá dài nữa để trở lại với những thành tựu mà văn minh loài người
đã đạt được (kinh tế thị trường, chế độ dân chủ, những giá trị tinh thần
toàn nhân loại...). Quá trình này không thể không kết hợp với một quá trình khác
cũng đòi hỏi không ít thời gian để chuyển sang nền văn minh mới của loài
người mà các nước phát triển phương Tây đang bước vào. Hai quá trình này phải
nhập chung lại làm một, được tiến hành đồng thời. Ở đây, một yêu cầu tất yếu
được đặt ra: tiến bước theo những nhịp độ gia tốc. Nhưng dù có đạt được
những nhịp độ ấy, cũng không thể quan niệm thời gian chuyển biến ấy sẽ ngắn. Sự
chuyển biến sang hình thái xã hội mới ở đây phải tính bằng nhiều thập kỷ.
Vấn đề tuyệt nhiên không phải là quay trở lại quá trình phát triển tư bản chủ
nghĩa. Bởi vì, không những chủ nghĩa tư bản dưới mọi hình thức của nó, kể cả
hình thức hiện đại, đã lỗi thời về mặt lịch sử, mà vì ngay trong bản thân các
nước xã hội chủ nghĩa cũng có một số tiền đề nhất dịnh cho sự chuyển biến này.
Những tiền đề ấy không nhiều và không cao như ở các nước tư bản chủ nghĩa phát
triển, nhưng không phải không có.
Về cơ sở vật chất, nói chung các nước xã hội chủ nghĩa vẫn còn nằm trong trạng
thái văn minh công nghiệp, nhưng cũng đã có những chuẩn bị nhất định về tri thức
khoa học và phương tiện vật chất cho văn minh hậu công nghiệp, tin học.
Về mặt xã hội, cũng đã hình thành một số yếu tố cho sự chuyển biến này: một đội
ngũ trí thức đông đảo, trong đó có không ít những người đạt tới tầm cỡ thế giới;
một số cơ chế phúc lợi xã hội nhằm bảo đảm công bằng xã hội và bảo hiểm xã hội
đã được thiết lập khá vững chắc, dù vẫn còn có những bất hợp lý và biến dạng...
Về mặt chính trị, tình trạng mất dân chủ của “chủ nghĩa xã hội Nhà nước” đã loại
bỏ sự tham gia của quần chúng vào đời sống chính trị, làm cho các cá nhân công
dân bị tách khỏi các quá trình quản lý Nhà nước và xã hội một cách phổ biến,
nhưng chính nó, khi bị khủng hoảng sâu sắc và gay gắt, lại tạo thành mặt đối lập
của nó: từ “phải chính trị hóa”, các công dân nói chung chuyển sang “chính trị
hóa”. Như vậy, những tiền đề chính trị của hình thái xã hội mới, trong đó các cá
nhân công dân tham gia đời sống chính trị một cách trực tiếp lại được tạo ra ở
một trình độ khá cao.
Về mặt tinh thần và tư tưởng, có thể nói chủ nghĩa xã hội, bất chấp những biến
dạng và biến chất của nó, đã và đang nuôi dưỡng những giá trị công bằng xã hội ở
một chiều sâu không thể lay chuyển được. Chính những lý tưởng xã hội chủ nghĩa -
những giá trị tinh thần cao nhất của chủ nghĩa xã hội đã ăn sâu vào ý thức của
quần chúng nói chung, của các cá nhân nói riêng - có thể chuyển thành một sức
mạnh xã hội, “sức mạnh vật chất” như Mác nói. Và có thể coi đó là tiền đề quan
trọng nhất để chuyển sang hình thái xã hội mới. Tất nhiên, về mặt này, cũng phải
làm những sự “thanh lọc” hết sức khó khăn để loại bỏ thứ “chủ nghĩa tập thể thô
thiển”, “chủ nghĩa bình quân”... khỏi ý thức xã hội.
Nếu đem so sánh với những tiền đề chuyển sang hình thái xã hội mới ở các nước tư
bản chủ nghĩa phát triển, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa những tiền đề ấy có
yếu hơn - và yếu hơn nhiều - về cơ sở vật chất, kinh tế và về các thể chế dân
chủ, nhưng lại có thể mạnh hơn về ý thức chính trị và xã hội của quần chúng, với
tư cách tập hợp các cá nhân công dân. Và trong lịch sử vẫn thường xẩy ra những
trường hợp các nước đi sau về trình độ phát triển ở những mặt nào đó lại có thể
vượt lên nhanh chóng bằng những biến đổi cách mạng, trong khi các nước có trình
độ phát triển cao hơn vẫn còn chịu tác động của “lực ỳ”. Tình trạng kém phát
triển hơn không phải là một định mệnh.
Điều này không có nghĩa là các nước xã hội chủ nghĩa có thể chuyển sang hình
thái xã hội mới một cách dễ dàng. Không, sự chuyển biến này diễn ra, như thực tế
đang chứng tỏ, một cách đau đớn và quyết liệt. Nếu ở các nước tư bản phát triển,
sự chuyển sang hình thái xã hội mới vấp phải sức chống đối của những thế lực
thống trị phản động, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa, tình hình cũng như thế,
nếu không muốn nói là khó khăn hơn. Những thế lực thống trị cũ trong xã hội theo
“chủ nghĩa xã hội Nhà nước” - có thể gọi chung đó là một tầng lớp quan liêu,
thậm chí một giai cấp quan liêu, mang tính độc tôn, do đó cũng mang ý thức độc
tôn, chỉ có thể so sánh với đẳng cấp quí tộc trước kia - sẽ chống phá quá trình
chuyển sang hình thái xã hội mới với đủ thứ vũ khí trong tay, từ những tổ chức
cảnh sát và quân đội còn nắm được để đe dọa tinh thần quần chúng, sự lũng đoạn
tư tưởng đối với những bộ phận khá lớn trong xã hội, và bản thân những bộ phận
quần chúng ấy, do ngập sâu vào sự tha hóa mà “chủ nghĩa xã hội Nhà nước” tạo ra
bằng các hình thức bao cấp, cũng trở thành “cơ sở xã hội” cho thế lực thống trị
quan liêu cũ. Dù bắt đầu bằng cách nào, sự chuyển biến này chỉ có thể thực hiện
được bằng sức mạnh của đông đảo quần chúng trong xã hội, một sức mạnh phải đạt
tới trình độ áp đo và tự giác cao.
18.
Ở các nước xã hội chủ nghĩa, sự chuyển tiếp sang hình thái xã hội mới phải trải
qua một “giai đoạn quá độ”, nếu có thể gọi như vậy. Trong giai đoạn này, những
vận động “đổi mới chủ nghĩa xã hội” được tiến hành dưới những hình thức khác
nhau (đổi mới, cải tổ, cải cách). Mục tiêu của những vận động này thường được
nêu lên như để đem lại “bộ mặt mới” cho chủ nghĩa xã hội; những từ ngữ thường
dùng là “chủ nghĩa xã hội nhân đạo và dân chủ”... Và thuật ngữ được chấp nhận
một cách khá phổ biến là “chủ nghĩa xã hội dân chủ” để đối lập với “chủ nghĩa xã
hội Nhà nước, quan liêu, toàn trị ”. Thuật ngữ “chủ nghĩa xã hội dân chủ” cũng
được chính thức đưa ra trong tuyên ngôn mới đây của Quốc tế xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, có thể coi “giai đoạn quá độ” này là giai đoạn “chủ nghĩa xã hội dân
chủ”.
“Chủ nghĩa xã hội dân chủ” vẫn tự coi là đi theo chủ nghĩa xã hội, được thực
hiện trong khuôn khổ chủ nghĩa xã hội. Nghĩa là khái niệm “chủ nghĩa xã hội” vẫn
là khái niệm gốc. Điều đó có thể cắt nghĩa bằng hai lý do.
Thứ nhất, đối với không ít người mác-xít, tư duy triết học xã hội vẫn còn dừng
lại ở học thuyết “chủ nghĩa xã hội khoa học” được đề ra từ giữa thế kỷ trước
(thế kỷ XIX), tuy có những “điều chỉnh”, “bổ sung” nhất định cho phù hợp với
hiện thực mới. Những tiếng nói mang xu hướng xem xét lại một cách triệt để và từ
bỏ học thuyết “chủ nghĩa xã hội khoa học” mới chỉ là những tiếng nói lẻ tẻ, đơn
độc trong những người mác-xít. (ngay trong khi viết những dòng này, tôi vừa đọc
một bài viết ngắn rất thú vị của một nhà xã hội học theo xu hướng mới này: Vadim
Bielotserkovski ở Munich, trong Nouvelles de Moscou số 52, 1989). Phải
mất một thời gian không phải là ít xu hướng này mới có thể phát triển thành một
trào lưu mới (hoặc bị cuộc sống bác bỏ, ai biết được!).
Thứ hai, từ gần hai thế kỷ nay, chủ nghĩa xã hội đã trở thành một di sản tinh
thần thấm sâu vào ý thức của các tầng lớp lao động nghèo khổ, hơn nữa, một bộ
phận những người trí thức tiến bộ cũng coi nó là một giá trị tinh thần của tiến
bộ xã hội, thậm chí là giá trị tinh thần cao nhất. Vì thế, nó mang một sức mạnh
tâm lý - đạo đức rất lớn. Đặc biệt, ở các nước xã hội chủ nghĩa, nó trở thành lý
tưởng và lẽ sống của số đông. Trừ bỏ giá trị tinh thần, giá trị tâm lý - đạo đức
ấy không phải là một quá trình chóng vánh. ở đây quá trình ấy thường trải qua
những bước kế tiếp nhau, theo lôgic của sự tự thể nghiệm. Lúc đầu coi những tật
xấu dưới chủ nghĩa xã hội như là tàn dư của các chế độ xã hội cũ. Sau đó, như là
hậu quả của những hư hỏng cá nhân của một số nhân vật lãnh đạo (“tệ sùng bái cá
nhân”). Sau đó nữa coi đó là sự phá sản của một mô hình sai lầm của chủ nghĩa xã
hội (“chủ nghiã xã hội Nhà nước”). Cuối cùng, từ bỏ “chủ nghĩa xã hội khoa học”
nói riêng và chủ nghĩa xã hội nói chung, ngay ở những cơ sở lý thuyết của nó,
nhưng đó là bước gay go nhất về mặt ý thức xã hội.
Vì hai lý do ấy, có thể chấp nhận “chủ nghĩa xã hội dân chủ” như một khái niệm
cần thiết, nói đúng hơn, như một khái niệm chuẩn bị cho sự từ bỏ khái niêm “chủ
nghĩa xã hội” khi “chủ nghĩa xã hội dân chủ” chuyển sang hình thái xã hội mới.
Nhưng đứng về mặt lý luận có thể coi “chủ nghĩa xã hội dân chủ” chính là giai
đoạn tự phủ định của chủ nghĩa xã hội. Vì với nội dung nhân đạo, dân chủ, tự
phát triển, tự hoàn thiện, nhất là với nội dung đa nguyên trong mọi lĩnh vực đời
sống xã hội, thì đó không còn là “chủ nghĩa xã hội” theo nguyên nghĩa. Không
nhận rõ điểm này, thì những vận động “đổi mới”, “cải tổ”, “cải cách” đang được
tiến hành ở các nước xã hội chủ nghĩa lại vẫn chỉ là quay về với điểm xuất phát
trừu tượng và lại lâm vào ngõ cụt.
Ở các nước xã hội chủ nghĩa hiện nay, cũng đã có một số người bắt đầu nhìn ra
điều này và đã bắt đầu phát biểu công khai quan diểm của mình dưới những hình
thức khác nhau. Không thể coi những tiếng nói ấy là “chống chủ nghĩa xã hội”
theo cách nhìn quen thuộc. Nhưng rõ ràng những ý kiến ấy cũng chưa đủ sức thuyết
phục vì “độ mỏng” về lý luận của nó.
19.
Trong đề cương này, khi nói tới “hình thái xã hội mới” trong giai đoạn văn minh
mới của loài người, hình thái đó chưa được đặt tên. Và cũng không nên đặt tên
trước cho nó để tránh tình trạng trói nó vào những “nguyên tắc” nào đó, khiến nó
chóng xơ cứng và lại rơi vào số phận của chủ nghĩa xã hội như lịch sử cho thấy.
(Có lẽ trong các chế độ xã hội của loài người đã tồn tại cho đến nay, chỉ có một
chế độ xã hội được đặt tên trước: chế độ xã hội chủ nghĩa).
Một lý do nữa không kém phần quan trọng: không nên hiểu hình thái xã hội mới như
một hình thái đơn nhất. Phải hiểu đó là nhiều hình thái khác nhau, có một
số đặc trưng giống nhau nhưng lại có nhiều phương thức tồn tại và phát triển
khác nhau. Xã hội loài người tương lai là một cộng đồng đa nguyên của các
hình thái xã hội khác nhau.
Viết từ ngày 1 đến ngày 15 tháng Giêng 1990
Nguồn: Những bài viết của Nguyễn Kiến Giang trong thập niên 90 được đăng rải rác trên báo chí trong ngoài nước, được chuyền tay hoặc chưa công bố, nay được tập hợp thành loạt bài “Suy tư 90” cho bản đăng chính thức trên talawas, với sự hiệu đính cuối cùng của tác giả.