Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Nguyễn Kiến Giang Suy tư 90 - Khủng hoảng và lối ra |
Chào mừng đại hội « Ðịa Tặc » 18.4.2006 |
Nguyễn Kiến Giang
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=6970&rb=0401
Bài này viết đầu năm 1991, theo yêu cầu của một nhóm lão thành cách mạng, trước Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các cụ rất tán thành những nội dung nêu ra. Nhưng vì những lý do nào đó, các cụ (trừ cụ Lê Giản) không muốn ký tên vào bản kiến nghị này. Tôi đành phi xin phép các cụ để tôi ký tên một mình và gửi đến những địa chỉ cần thiết.
Đặt vấn đề
1. Tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng và kéo dài là hiện thực cơ bản,
bao trùm toàn bộ đời sống xã hội nước ta, không ai không thừa nhận. Đất nước
giống như một người ốm nặng, chưa gượng dậy nổi. Hơn thế nữa, căn bệnh lại có
phần nguy kịch hơn và ngấm vào bên trong. Nhiệm vụ cấp bách nhất hiện nay là
phải vượt qua tình trạng khủng hoảng càng sớm càng tốt. Chưa giải quyết được
nhiệm vụ này, thì chưa thể nói tới bất cứ nhiệm vụ nào khác, càng chưa thể nói
tới những triển vọng phát triển lâu dài của đất nước một cách cụ thể.
Nhưng trong nhận thức cũng như trong thực tiễn, nhiều vấn đề có liên quan với
khủng hoảng vẫn chưa có một sự thống nhất: khủng hoảng này là khủng hoảng gì?
Thực chất của nó là thế nào? Nguyên nhân chủ yếu của nó? Có khả năng ra khỏi
khủng hoảng không? Thoát ra bằng lối nào?
Đề cương này góp phần phân tích và lý giải những câu hỏi đang làm day dứt tất cả
những ai lo lắng tới vận mệnh đất nước lúc này. Trong đề cương, chỉ xin bàn tới
những điểm chính, coi như những gợi ý để cùng nhau suy nghĩ và giải quyết.
Khủng hoảng
2. Khủng hoảng gì?
Trong các văn kiện chính thức, khi nói tới khủng hoảng, thường dùng mấy chữ
“khủng hoảng kinh tế - xã hội”. Thật ra, đó là khủng hoảng toàn diện, khủng
hoảng tổng thể của xã hội, khủng hoảng trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã
hội: kinh tế và xã hội, tinh thần và đạo đức, tư tưởng và chính trị. Khủng hoảng
ở mỗi lĩnh vực vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của khủng hoảng ở các lĩnh vực
khác.
Khủng hoảng trong lĩnh vực kinh tế biểu hiện chủ yếu ở tình trạng lạc hậu
kinh tế và kỹ thuật của đất nước. Trong khi nhiều nước trên thế giới đang bước
qua giai đoạn văn minh hậu công nghiệp (điện tử - tin học), thì nước ta vẫn chưa
ra khỏi giai đoạn văn minh tiền công nghiệp (văn minh nông nghiệp); sản xuất
không đủ ăn (1.932 kilôcalo mỗi người mỗi ngày so với yêu cầu 2.300 kilocalo);
không tạo được nguồn tích luỹ bên trong đáng kể, chưa đủ bảo đảm tái sản xuất
giản đơn, chưa nói tới tái sản xuất mở rộng, trong khi sức ép dân số và thoái
hóa môi trường sinh thái ngày càng tăng; lạm phát vẫn ở mức nghiêm trọng; mức
tăng giá cả khá cao; tài sản quốc gia ngày càng giảm sút, không ít xí nghiệp
đứng trước nguy cả bị mất dần tài sản, kể cả tài sản cố định; ngân sách thiếu
hụt nghiêm trọng, dù mức chi ngân sách cho các hoạt động kinh tế và văn hóa rất
thấp; nạn buôn lậu hoành hành, thị trường hỗn loạn...
Các quan hệ sở hữu ở nước ta hiện nay không phù hợp với trình độ phát triển kinh
tế, do đó vẫn tiếp tục kìm hãm và phá hoại những năng lực sản xuất xã hội. Rõ
nhất là ở khu vực sở hữu nhà nước, khu vực này đang biến thành ổ chứa những tật
bệnh hiểm nghèo đối với cơ thể toàn xã hội: tham nhũng, buôn lậu và lãng phí vô
tội vạ. Trong khu vực sở hữu tập thể, tuy đã thực hiện “khoán 10”, nhưng người
nông dân vẫn chưa thật sự làm chủ mảnh đất của mình một cách đầy đủ, tính tích
cực của họ vẫn bị hạn chế. Và cả trong khu vực sở hữu tư nhân, vẫn chưa có luật
pháp bảo đảm rõ ràng để mỗi công dân yên tâm làm ăn và đầu tư lâu dài.
Mấy năm vừa qua, kinh tế thị trường được khôi phục và phát triển khá, góp phần
đáng kể vào việc giảm bớt những khó khăn về mua và bán, thúc đẩy phần nào các
quá trình sản xuất và lưu thông. Đó là một phương hướng tốt, nhưng trong nền
kinh tế thị trường của ta đang có nhiều yếu tố bệnh hoạn khiến cho các cơ chế
thị trường lành mạnh (cạnh tranh và điều tiết) không hoạt động bình thường được,
tạo diều kiện cho những thế lực đen tối lũng đoạn và phá hoại. Kết quả là sản
xuất khó khăn và đình đốn, thậm chí có khi bế tắc, mức sống của người lao đông
vốn rất thấp lại càng thấp hơn (nói riêng tiền lương, giá trị thực tế chỉ còn
bằng 1/3 so với tháng Chín 1985), sức mua xã hội giảm sút nghiêm trọng, đời sống
kinh tế chung của xã hội ngày càng khốn quẫn.
3. Nhưng trong khi đa số nhân dân, trước hết là những người lao động
lương thiện, lâm vào cảnh nghèo khổ chưa tìm thấy lối thoát, trì trớ trêu thay,
một tầng lớp xã hội nhỏ bé lại chiếm đoạt của cải của đất nước một cách
ngang nhiên. Tất nhiên, ở đây không nói tới những người do sức lực và trí tuệ
của mình mà trở nên giàu có một cách chính đáng (đối với những người này, cần
tạo thêm điều kiện thuận lợi hơn để họ có thể giàu có hơn, điều đó chỉ có lợi
chung cho đất nước). ở đây chỉ muốn nói tới những phần tử lợi dụng chức vụ và
thế lực trong bộ máy nhà nước để hưởng đặc quyền đặc lợi, để kiếm bổng lộc, để
tham nhũng, và những phần tử buôn gian bán lận, đầu cơ tích trữ, chiếm đoạt tài
sản của nhà nước và nhân dân. Trong xã hội đã hình thành khá rõ một tầng lớp “tư
sản không văn minh” mang tính chất lưu manh, về thực chất cả bọn này lẫn bọn kia
đều ăn cắp của nhà nước và nhân dân (trong khi xã hội đang cần có một tầng lớp
“tư sản văn minh” để có thể vượt qua tình trạng lạc hậu về kinh tế và kỹ thuật
nhanh hơn). Điều không tránh khỏi đã xẩy ra: những phần tử thoái hóa biến chất
trong bộ máy nhà nước móc ngoặc với những phần tử tư sản lưu manh trong xã hội,
kết thành những mafia có thế lực khá lớn. Chế độ ta lâm vào thế hiểm
nghèo vì sự phá hoại và lũng đoạn của chúng.
Sự phân hóa xã hội không lành mạnh đang diễn ra. Một số người ăn tiêu xả láng,
phè phỡn trên những đống của kiếm được bằng ăn cắp. Còn đại đa số dân ta, những
người lao động lương thiện, ngày càng khốn khổ. Tiền lương thực tế không đủ nuôi
bản thân. Hàng chục vạn vạn người “dư dôi”, thực chất là thất nghiệp. Nông dân
đã kiệt quệ trong những năm “hợp tác” trước đây, tuy có khá hơn sau khi thực
hiện “khoán 10”, vẫn sống nheo nhóc vì bị ăn chặn ở các khâu bán ra, mua vào (cả
tư thương lẫn quốc doanh) và vì đóng góp quá sức. Trí thức không sống được bằng
“chất xám”, bằng năng lực và tài năng, phải kiếm ăn bằng “tay trái”, phải “xuất
khẩu lao động” để tự cứu.
Khủng hoảng ở nước ta hiện nay mang tính chất xã hội rõ rệt với những mâu thuẫn
xã hội ngày càng sâu sắc. Nghèo khổ lạc hậu cộng với bất công xã hội làm
cho tình hình xã hội rất ngột ngạt, căng thẳng.
4. Trong hoàn cảnh đó, khủng hoảng về tinh thần và tư tưởng là
không thể tránh khỏi. Số đông nhân dân - nhất là lớp trẻ - mất niềm tin vào
những lý tưởng ban đầu của cách mạng và chế độ. Chưa bao giờ con người sống
chông chênh và lo lắng như bây giờ. Chưa bao giờ đạo đức xã hội bị xói mòn và
băng hoại như bây giờ. Tội ác xẩy ra ngày càng tăng, mang những hình thức nghiêm
trọng hiếm thấy. Nạn mãi dâm lan tràn hơn cả dưới chế độ cũ. Trộm cướp, trấn
lột, giết người, lừa đảo... là những hiện tượng phổ biến. Các giá trị tinh thần
của xã hội bị lật ngược: người ngay sợ kẻ gian, người lương thiện có năng lực
sống khổ cực hơn kẻ cơ hội; xu nịnh trở thành “mốt” phổ biến. Tiếng nói của
người dân không được nghe, những nỗi oan của người “thấp cổ bé miệng” không được
giải, mọi ý kiến xây dựng chân thành bị coi là “xấu” chỉ vì khác ý kiến chính
thống. Năng lực sáng tạo về khoa học và nghệ thuật vẫn bị kìm hãm nặng nề. Chán
nản và dửng dưng với tình hình đất nước là nét chủ yếu của tâm lý xã hội hiện
nay. Sức chống cự đối với những “tiêu cực xã hội” ngày càng suy giảm.
5. Khủng hoảng có khía cạnh quốc tế của nó. Thế giới đang chuyển
mình mạnh mẽ trên con đường văn minh ngày càng cao của loài người. Quốc tế hóa
sản xuất và đời sống tăng lên nhanh chóng. Một loạt nước vốn lạc hậu đang vưn
lên trình độ những “nước công nghiệp mới” (NICs). Xu thế dân chủ hóa phát triển
rộng rãi và mạnh mẽ. Trong khi đó, nước ta vẫn sống trong thế cô lập với thế
giới bên ngoài. Khoảng cách giữa nước ta và các nước khác (kể cả các nước
trong khu vực) tăng thêm một cách đáng lo ngại. Chưa có những biện pháp mạnh
bạo, có hiệu quả để đưa nước ta hòa nhập với cộng đồng thế giới, nhất là về kinh
tế và khoa học - kỹ thuật. Tính chất lạc hậu và, nói như một nhà nghiên cứu,
tính chất lạc điệu của nước ta càng nổi bật lên, tạo thành một sức ép tinh thần
lớn đối với nhân dân, nhất là lớp trẻ và giới trí thức. Nỗi nhục đất nước lạc
hậu cũng nặng nề như nỗi nhục mất nước trước đây. Những biến động ở một loạt
nước trong “hệ thống xã hội chủ nghĩa” trước đây đặt ra những câu hỏi không dễ
dàng giải đáp về triển vọng phát triển của chủ nghĩa xã hội. Nhưng những phản
ứng giản đơn hóa, theo tư duy cũ kỹ, đối với những quá trình mới mẻ ấy càng làm
cho nước ta lạc điệu hơn, tự tách mình khỏi các quá trình chung của thế giới và,
cuối cùng, làm cho nhiều người trong nước mất phương hướng trong công cuộc đổi
mới hiện nay.
6. Những mặt khủng hoảng nói trên tạo thành một cục rối khó gỡ, vì rất
khó tìm thấy đầu mối. Nhưng ở một nước mà tất cả các mặt đời sống xã hội và cá
nhân đều do một bộ máy lãnh đạo và quản lý chung chi phối như ở nước ta, thì tất
cả các mặt khủng hoảng của xã hội đều được phản ảnh, kết tụ ở mặt chính trị.
Khủng hoảng ở nước ta hiện nay tập trung nhất ở khủng hoảng chính trị.
Khi mọi mặt đời sống xã hội và cá nhân đều phục tùng một trung tâm là bộ máy
“Đảng - Nhà nước”, thì rõ ràng bộ máy đó phải chịu trách nhiệm trước tiên và
toàn bộ về tình trạng khủng hoảng (cũng như trước đây Đảng và nhà nước được dân
chúng tôn làm người lãnh đạo tuyệt đối trong chiến đấu chống ngoại xâm).
Đảng duy trì địa vị độc tôn quá lâu, biến sự lãnh đạo của mình là một tất yếu
khách quan trong đấu tranh giải phóng dân tộc thành chế độ Đảng trị là một áp
đặt chủ quan. Chủ trương hòa hợp dân tộc và thực hiện các quyền dân chủ của nhân
dân, như đã hứa hẹn trong những năm chiến đấu chống xâm lược, đã không được thực
hiện, làm triệt tiêu sớm sự phấn khởi của nhân dân sau khi vừa giành được thắng
lợi. Những thái độ biệt phái, độc tôn, kèm theo những biện pháp “chuyên chính”
tràn lan, kể cả với những bạn đồng hành cũ cũng như với những người trong đội
ngũ, đã biến sự lãnh đạo của Đảng thành một sự áp đặt độc đoán lên toàn xã hội.
Tệ quan liêu, chuyên quyền có điều kiện lộng hành. Cộng thêm vào đó là trình độ
thấp kém của không ít người lãnh đạo các cấp của Đảng, sự thoái hóa biến chất
nhanh chóng của nhiều người trong bộ máy quản lý và lãnh đạo càng làm cho Đảng
mất uy tín vốn có. Trong khi đó, những nhân tố lành mạnh trong bộ máy và trong
đội ngũ Đảng bị gạt bỏ hoặc bị vô hiệu hóa. Dân chủ trong Đảng và trong xã hội
chỉ còn là thuần túy hình thức. Tóm lại, từ chỗ Đảng là lãnh tụ được nhân dân
thừa nhận, Đảng đã làm suy yếu vai trò đó trong thực tế. Đảng đứng lên trên nhân
dân và không hề chịu sự kiểm soát của nhân dân. Mất dân chủ trong Đảng và
trong xã hội là nguồn gốc chủ yếu dẫn tới chỗ làm yếu sức mạnh của Đảng, làm
khủng hoảng trở nên trầm trọng hơn, càng khó tìm thấy lối thoát hơn (đặc biệt
đối với số đông nhân dân vốn quen chờ đợi thụ động những quyết định của lãnh
đạo).
Trong những điều kiện đó, không thể nói tới một nhà nước pháp quyền vì luật pháp
được vận dụng một cách tùy tiện và các công dân không được bảo đảm bình đẳng
trước pháp luật. Chưa nói tới luật pháp vừa thiếu, vừa không phù hợp với những
chuẩn mực luật pháp quốc tế (đặc biệt về các quyền con người trong Hiến chương
Liên hợp quốc về các quyền con người mà nước ta đã ký). Xã hội gần như sống
trong trạng thái không có luật pháp. Chỉ cần nhắc tới một sự thật cũng đủ thấy:
cho tới nay đã phát hiện hơn 10.000 vụ tham nhũng, nhưng chỉ mới đưa ra xét xử
vài chục vụ và cũng không xét xử đến nơi đến chốn. Chính đó là một yếu tố tăng
thêm tình trạng khủng hoảng của xã hội.
7. Xem xét một cách khách quan, từ sau Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt
Nam, trong xã hội đã xuất hiện một số thay đổi theo chiều hướng tích cực. Lạm
phát bị đẩy lùi, thị trường có nhiều hàng hóa, kinh tế thị trường bắt đầu phát
huy những tác dụng có lợi cho sự ổn định và phát triển kinh tế, các thành phần
kinh tế khác nhau bắt đầu được khuyến khích, việc mở cửa hợp tác với nước ngoài
được chú trọng hơn. Không khí xã hội bắt đầu cởi mở hơn. Trong nhân dân bắt đầu
nhen lên những hy vọng mới.
Nhưng những hy vọng vừa nhen nhóm ấy bị nguội lạnh dần vì lại xuất hiện những
khó khăn mới trong đời sống kinh tế và xã hội và vì những chủ trương hạn chế dân
chủ trở lại. Tình trạng khủng hoảng, do đó, càng trở nên trầm trọng hơn, nan
giải hơn. Có thể nói khủng hoảng chỉ dịu bớt ở một vài biểu hiện của nó (lạm
phát, thiếu hụt hàng hóa...), nhưng những biểu hiện chủ yếu của nó trên tất
cả các lĩnh vực đời sống xã hội đã nói ở trên vẫn nặng nề, thậm chí có chiều
hướng tăng lên.
8. Nguyên nhân của khủng hoảng là gì?
Trong các văn bản chính thức, có nói nguyên nhân của khủng hoảng là do: “nguồn
gốc lịch sử sâu xa để lại và hậu quả của nhiều năm chiến tranh, song nguyên nhân
chủ yếu là do chúng ta đã xây dựng chủ nghĩa xã hội theo một mô hình mang nặng
tính giáo điều, rập khuôn và chủ quan duy ý chí” (Dự thảo chiến lược ổn
định và phát triển kinh tế - xã hội của nước ta đến năm 2000). Nói như vậy, đúng
nhưng chưa đủ, chưa thật rõ.
Vấn đề không phải là đã xây dựng chủ nghĩa xã hội theo một mô hình không đúng,
mà đã phạm sai lầm cả khi đặt ra nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
nước ta sau năm 1954, khi vừa giải phóng miền Bắc, và sau đó mở rộng nhiệm vụ ấy
ra cả nước sau chiến thắng 1975 giải phóng cả nước, với chiến lược chung là cả
nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đây là một ngộ nhận lịch sử: một đất nước vừa
trải qua hàng chục năm chiến tranh giải phóng dân tộc, chưa kịp bình thường hóa
đời sống nhân dân, chưa thực hiện được bao nhiêu những nhiệm vụ cách mạng dân
chủ, cũng chưa có những tiền đề cần thiết về vật chất và xã hội để xây dựng chủ
nghĩa xã hội; ở một đất nước như vậy mà chúng ta lại vội vàng đặt ra nhiệm vụ
chiến lược “cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Nói cách khác, khi đặt ra nhiệm
vụ này, đã xuất phát từ một sơ đồ lý luận trừu tượng (làm xong cách mạng
dân tộc dân chủ, chuyển ngay sang cách mạng xã hội chủ nghĩa theo lý luận “cách
mạng không ngừng”), mà không xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể lịch sử của nước
ta lúc đó. Đã thế, khi xây dựng chủ nghĩa xã hội, lại theo một mô hình mà
ngày nay chúng ta gọi là “chủ nghĩa xã hội nhà nước”, “chủ nghĩa xã hội tập
trung quan liêu”, trong thực tế không dính dáng gì tới chủ nghĩa xã hội cả, mà
là nhà nước hóa tất cả theo một kế hoạch và một sự lãnh đạo tập trung quan liêu.
Sau ngày giải phóng đất nước, nếu xuất phát từ tình hình thực tế lúc đó, đáng lẽ
phải làm cho bằng được mấy nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, bình thường hóa đời sống nhân dân và đời sống xã hội sau hàng
chục năm chiến tranh. Sức dân đã cạn kiệt, phải khôi phục một cuộc sống bình
thường cho nhân dân, bù đắp những hy sinh và thiệt hại của nhân dân trong chiến
tranh và nâng mức sống vật chất và tinh thần của nhân dân lên một trình độ cần
thiết. Điều đó đã không được thực hiện. Cả di chúc của Hồ Chí Minh về mặt này
cũng không được coi trọng. Nhân dân bị tiếp tục động viên quá căng thẳng vào
những kế hoạch xây dựng mới, qui mô quá lớn và mang tính chất phiêu lưu. Xin nhớ
rằng ngay hiện nay, gần 16 năm sau chiến tranh, những nơi bị chiến tranh tàn phá
vẫn chưa được xây dựng lại bao nhiêu, có nơi các bà mẹ liệt sĩ vẫn chui ra chui
vào những túp lều tạm bợ. Sức dân sau chiến tranh chưa được bồi dưỡng. Những
thương tích chiến tranh trên cơ thể và tâm hồn người dân chưa lành lặn. Những
nghiên cứu gần đây cho thấy tình trạng suy thoái giống nòi thật đáng lo ngại:
khoảng một nửa dân số, nhất là trẻ em, bị suy dinh dưỡng, khoảng 10% dân số mắc
các chứng tâm thần, trọng lượng trẻ sơ sinh dưới mức trung bình, năng lực trí
tuệ của trẻ em giảm sút. Tất cả những vấn đề đó chưa được nêu lên và giải quyết
tận gốc.
Thứ hai, phải xây dựng một xã hội công dân đúng theo nghĩa của nó. Xã hội
Việt Nam, trong những chế độ phong kiến và thực dân trước đây là một xã hội
“thần dân”, trong đó mọi người dân không có quyền gì, chỉ phục tùng bộ máy thống
trị, phục tùng nhà nước phong kiến và thực dân. Nhân dân làm cách mạng và tiến
hành kháng chiến lâu dài không chỉ để giành độc lập cho tổ quốc, mà còn giành
dân chủ và tự do cho chính mình. Trong kháng chiến, người dân nén lại những yêu
cầu về dân chủ, tự do lại, tập trung mọi lực lượng giải quyết nhiệm vụ giành độc
lập dân tộc. Lẽ ra, sau khi kháng chiến thành công, phải chuyển một cách nhanh
chóng sang xã hội công dân, trong đó mỗi người dân là người chủ thật sự của đất
nước, mọi quyền lực là của nhân dân. Nhưng 45 năm sau cách mạng, quyền lực chỉ
thuộc về nhân dân trên danh nghĩa, trong thực tế là thuộc bộ máy Đảng - Nhà
nước. Xã hội chịu sự chi phối của một bộ máy cầm quyền vốn từ nhân dân mà ra,
nhưng dần dần biến thành một bộ máy quan liêu, đứng lên trên nhân dân.
Nói cách khác, nguyên nhân sâu xa nhất của tình trạng khủng hoảng là sau khi
giành được độc lập, nhân dân chưa có hạnh phúc và tự do, đúng như những tiêu ngữ
ban đầu được đề ra trong Cách mạng tháng Tám 1945: Độc lập - Tự do - Hạnh
phúc. Năm xưa, khi cách mạng mới thành công, Hồ Chí Minh đã dự cảm rất sâu
sắc: “Nước độc lập mà dân không có tự do, hạnh phúc, thì độc lập không có ý
nghĩa gì”. Khủng hoảng bắt nguồn chính ở điểm này: những lý tưởng của cuộc cách
mạng đã bị thực tiễn đi ngược lại, phản lại. Chiều sâu của khủng hoảng trước hết
là ở sự hẫng hụt trong nhân dân, người làm nên thắng lợi của cách mạng và kháng
chiến, đối với các mục tiêu tự do, hạnh phúc, dân chủ lẽ ra họ được hưởng, dù
chỉ một phần.
9. Trong bối cảnh lịch sử thế giới, có thể xem xét nguyên nhân khủng
hoảng hiện nay ở nước ta cả ở những nguyên lý của chủ nghĩa xã hội đã được thực
hiện như đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản, chế độ sở hữu xã hội dưới hình
thức nhà nước hóa, v.v... Khủng hoảng ở nước ta gắn với chính bản thân chủ nghĩa
xã hội, và ở một mức độ nào đó, là một bộ phận của sự khủng hoảng đó. Vấn đề
không phải ở những lý tưởng giải phóng lao động, giải phóng con người của chủ
nghĩa xã hội, mà là ở những con đường, những phương tiện, những biện pháp đạt
tới những lý tưởng đó. Khó có thể vượt qua khủng hoảng ở nước ta nếu vẫn giữ
nguyên cách hiểu về chủ nghĩa xã hội như đã có cho đến nay. (Đây là một vấn đề
vô cùng trọng yếu về lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội, có ý nghĩa quyết
định vận mệnh lịch sử của nó, xin bàn ở một dịp khác).
10. Tóm lại, khủng hoảng ở nước ta hiện nay là khủng hoảng toàn diện,
tổng thể của chế độ xã hội chúng ta, ở ngay những nền tảng của nó. Đó là
điểm xuất phát chủ yếu để tìm lối ra.
Lối ra
11. Cuộc khủng hoảng này có lối ra không?
Xin trả lời: có. Vấn đề chỉ là sớm hay muộn, phải trả giá ít hay nhiều. Trong
những điều kiện của nước ta hiện nay, chỉ cần Đảng và nhân dân cùng nhau
tìm kiếm một lối ra thích hợp, với tinh thần chủ động, có thể sớm thoát
khỏi khủng hoảng và xã hội khỏi phải trả giá nặng nề.
Nếu không làm được như vậy, cuối cùng sẽ phải trả giá đau đớn đối với nhân dân
cũng như đối với chính bản thân Đảng. Trong triển vọng này, sẽ xẩy ra mấy khả
năng:
Cần khẳng định: trong hoàn cảnh thế giới và đất nước hiện nay, chúng ta có đủ những tiền đề và điều kiện cần thiết để thoát khỏi khủng hoảng.
12. Có hai điểm cần làm rõ:
13.
Khắc phục khủng hoảng là nhiệm vụ cấp bách nhất, đồng thời cũng là chuẩn bị
mảnh đất tốt cho sự phát triển lâu dài của đất nước. Chủ nghĩa xã hội được
coi là định hướng phát triển của xã hội nước ta nhằm đi tới một xã hội bảo đảm
công bằng xã hội, bảo đảm sự phát triển tự do và toàn diện của toàn xã hội.
Nhưng chừng nào chưa xây dựng được những quan niệm rõ ràng và chính xác về nội
dung của chủ nghĩa xã hội, về những yếu tố cấu thành của nó, về những con đường
và biện pháp có hiệu quả để đi tới chủ nghĩa xã hội (sau khi mô hình “chủ nghĩa
xã hội nhà nước” đã phá sản), thì chừng đó chưa nên đặt xây dựng chủ nghĩa xã
hội thành nhiệm vụ trực tiếp, cũng chưa nên nói tới một thời kỳ quá độ tiến lên
chủ nghĩa xã hội nếu không muốn tự mình trói tay mình.
Phải chăng như thế là bỏ mất phương hướng triển vọng? Không. Bản thân quá trình
khắc phục khủng hoảng đã chứa đựng những yếu tố có ý nghĩa cơ bản đối với sự
phát triển lâu dài của đất nước theo hướng chủ nghĩa xã hội. Bởi vì, chủ nghĩa
xã hội chỉ có thể nảy sinh và được xây dựng trên nền tảng một xã hội phát triển
bình thường và lành mạnh, trên nền tảng những giá trị văn minh
chung của loài người đã được lịch sử kho nghiệm: xã hội công dân, kinh tế thị
trường, nhà nước pháp quyền, dân chủ v.v...
14. Một chương trình khắc phục khủng hoảng có hiệu quả phải là một
chương trình toàn diện, tổng thể, đồng bộ. Không thể khắc phục khủng hoảng
một cách riêng rẽ ở lĩnh vực nào. Có người quan niệm quá đơn giản rằng chỉ cần
khắc phục khủng hoảng trong lĩnh vực kinh tế là có thể khắc phục được khủng
hoảng nói chung. Không ai xem nhẹ lĩnh vực kinh tế, đó là lĩnh vực quyết định
toàn bộ đời sống xã hội, xét đến cùng. Nhưng hiện nay, các lĩnh vực đời sống xã
hội tác động trực tiếp lẫn nhau đến mức khó tách riêng ra. Hơn nữa, có khi phải
giải quyết ở một khâu khác mới có thể giải quyết được ở khâu kinh tế (chẳng hạn,
phải tách Đảng ra khỏi các chức năng nhà nước, phải tách nhà nước ra khỏi các
chức năng quản lý và điều hành kinh tế, mới có thể có một sự vận hành có hiệu
quả của guồng máy kinh tế xã hội).
15. Chương trình khắc phục khủng hoảng có những mục tiêu rõ ràng
của nó. Có thể hình dung những mục tiêu đó như sau:
Tóm lại, đó
là một trạng thái bình thường và lành mạnh của đời sống xã hội mà chúng
ta cùng nhau cố gắng đạt tới vào giữa những năm 90 này.
16. Một chương trình như vậy phải là kết quả công sức, là kết tinh trí
tuệ của mọi người, trước hết của những chuyên gia giỏi trog các lĩnh vực khác
nhau mà ta không thiếu. Có những bài toán thật hóc hiểm (vốn, hòa nhập thị
trường thế giới, ngăn chặn sự xuống cấp về y tế, giáo dục...) nhưng nếu biết
tập hợp và tôn trọng đầy đủ những “bộ óc” lớn của dân tộc, ta sẽ có một
chương trình khắc phục khủng hoảng với những biện pháp tối ưu. Có thể coi đó là
một trong những bước đi quan trọng nhất của quá trình dân chủ hóa. Không ai một
mình (một cá nhân hay một tập thể nhỏ) thay thế được trí tuệ chung của dân tộc.
ở đây chỉ xin gợi ý một số điểm về kinh tế, xã hội, tinh thần và tư tưởng, quan
hệ quốc tế và chính trị.
17. Về kinh tế, tiếp tục xây dựng một nền kinh tế thị trường theo
đúng nghĩa của nó. Có hai vấn đề cần giải quyết sớm để cho kinh tế thị trường
hoạt động bình thường và lành mạnh:
Lấy đâu ra
tiền để làm những việc này? Theo tính toán của một số chuyên gia, chỉ cần sắp
xếp lao động hợp lý, loại bỏ các khoản “tiêu cực phí” (tiếp khách, quà cáp, phết
phẩy...), loại bỏ tham nhũng và lãng phí, cộng thêm với sự hỗ trợ tín dụng của
ngân hàng ban đầu, là có thể căn bản giải quyết được vấn đề. Kéo dài chế độ tiền
lương như hiện nay, không thể nào bảo đảm hiệu quả kinh tế, không thể nào củng
cố được kỷ luật và kỷ cương lao động, xã hội vẫn phi gánh chịu một khoản “trợ
cấp xã hội” khổng lồ.
18. Về mặt xã hội, mấy điểm quan trọng nhất là:
19.
Trong lĩnh vực tinh thần và tư tưởng, điều quan trọng nhất là bảo vệ và
phát huy năng lực trí tuệ của giới trí thức. Tuyển chọn và bồi dưỡng nhân tài
phải là quốc sách hàng đầu. Bảo đảm quyền sở hữu về trí tuệ (công trình khoa
học, tác phẩm nghệ thuật, phát minh sáng chế). Tôn trọng tự do tư tưởng và tự do
sáng tác. Đặc biệt, phải tôn trọng tự do báo chí. Báo chí có quyền thông tin,
bàn luận về tất cả các vấn đề của đời sống quốc tế và trong nước, trừ những điều
bị luật pháp cấm (bí mật quốc gia thật sự). Bảo đảm tính độc lập của báo chí.
Cho phép xuất bản những tờ báo do các tập thể côg dân chủ trương. Một không khí
tự do tư tưởng lành mạnh sẽ là một lực thúc đẩy sự phát triển có hiệu
quả, một bảo đảm vững chắc để xây dựng xã hội công dân.
20. Trong lĩnh vực quan hệ quốc tế, trước hết phải bằng mọi
cách phá thế cô lập của nước ta trong khu vực cũng như trên thế giới. Chính
sách đối ngoại xuất phát từ những lợi ích quốc gia và lợi ích an ninh trong vùng
và trên thế giới, không xuất phát từ những quan niệm thuộc hệ tư tưởng, nhất là
quan niệm “hai phe” theo kiểu đấu tranh giai cấp “ai thắng ai” (những quan niệm
về hệ tư tưởng là của các cá nhân, các tổ chức chính trị và xã hội, mà không
thuộc quốc gia), không để những bất đồng về hệ tư tưởng biến thành những trở
ngại về quan hệ quốc tế của nước ta. Thực hiện chính sách đối ngoại hòa hiếu với
tất cả các nước trên cơ sở cùng có lợi, đồng thời giữ vẹn tình nghĩa đối với
nhân dân các nước đã từng giúp ta trong đấu tranh giải phóng và xây dựng đát
nước. Không để ai can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta, cũng không can
thiệp vào công việc nội bộ của nước ngoài, kể cả Lào và Campuchia.
Chủ động tạo ra những tiền đề và điều kiện hòa nhập vào nền kinh tế khu vực châu
Á - Thái Bình Dương và thế giới, thu hút các nguồn đầu tư và công nghệ hiện đại
từ nước ngoài bằng nhiều hình thức: lập các “khu kinh tế tự do” (chẳng hạn, Hải
Phòng, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh), đầu tư vốn, liên doanh, v.v... Nhưng cần
nhớ rằng đầu tư nước ngoài phải có thời gian khá dài mới có hiệu quả và kèm theo
đó là những khoản đầu tư đối ứng của ta về cô cấu hạ tầng, do đó, vấn đề không
phải là thu hút đầu tư nước ngoài càng nhiều càng tốt, mà là thu hút như thế nào
cho hợp lý. (Nhân đây, xin nhắc lại kinh nghiệm đau xót là trong mười mấy năm
qua, đã sử dụng không có hiệu quả những khoản đầu tư và tín dụng nước ngoài, kết
quả là gánh những món nợ to lớn, không dễ gì trang trải).
21. Trong lĩnh vực chính trị, thực hiện bằng được hai yêu cầu sống còn
đối với đất nước lúc này: hòa hợp dân tộc, đoàn kết toàn dân để phát huy sức
mạnh mọi mặt của nhân dân, trước hết là sức mạnh trí tuệ và thực hiện đầy đủ
quyền lực của nhân dân.
Những biện pháp cần làm ngay trước mắt là:
22.
Dân tộc ta không hèn kém gì, năng lực trí tuệ và tiềm năng của cải rất dồi dào.
Nếu xây dựng được một khối hòa hợp dân tộc thật sự, thì đất nước sẽ ra
khỏi khó khăn hiện nay và vươn kịp trình độ văn minh chung của loài người. Con
đường chủ yếu đưa tới đó là, và chỉ có thể là, tiến hành đối thoại bình đẳng,
dân chủ giữa những quan điểm và ý kiến khác nhau để cùng nhau tìm kiếm những
thỏa thuận tối ưu về lối ra khỏi khủng hoảng và về sự phát triển lâu dài của đất
nước. Tình hình đất nước và thế giới đòi hỏi những hiểu biết hoàn toàn mới mẻ để
có thể thích nghi và hành động có hiệu quả. Mỗi người có chỗ mạnh chỗ yếu của
mình. Không một ai, dù tài giỏi đến đâu, có thể tự mình nắm được những chân lý
cuối cùng. Xóa bỏ độc quyền chân lý là một yêu cầu bức bách về chính trị.
Cần tạo ra những điều kiện dân chủ, bình đẳng và công khai cho việc thảo luận,
tranh luận những vấn đề thuộc quốc kế dân sinh, để người dân tự mình phân biệt
cái đúng và cái sai, lựa chọn cái đúng. Như vậy, sẽ tập hợp được những nhân tố
chính trị lành mạnh trong đời sống xã hội. Không một ý kiến nào bị bỏ quên cả -
đó là mệnh lệnh của đất nước lúc này.
23. Then chốt của việc khắc phục tình trạng khủng hoảng hiện nay là giải
quyết đúng đắn vị trí của Đảng trong xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam có công lớn
trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, công lao đó được mọi người thừa
nhận. Nhưng điều tai hại cho Đảng cũng như cho cả dân tộc là do những hoàn cảnh
lịch sử khách quan và do những quan niệm không đúng, Đảng tự đồng nhất với quyền
lực nhà nước. Sự lãnh đạo của Đảng biến thành chế độ đảng trị.
Cần chuyển giao quyền lực chính trị từ các cơ quan lãnh đạo của Đảng sang các cơ
quan đại diện quyền lực nhân dân. Quá trình này được thực hiện từng bước, tránh
rơi vào “khoảng trống quyền lực” cũng vô cùng tai hại. Để thực hiện điều này,
nên tuyên bố xóa bỏ điều 4 trong Hiến pháp qui định về mặt pháp lý vai trò của
Đảng là “lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội”. Sự lãnh đạo của
Đảng đối với xã hội chỉ được thực hiện bằng phương pháp thuyết phục.
24. Mặt trận Tổ quốc đứng ra triệu tập một Đại hội quốc dân mới
(theo kinh nghiệm Đại hội quốc dân ở Tân Trào truớc Tổng khởi nghĩa tháng Tám
1945) bao gồm đại biểu của các tầng lớp nhân dân, những xu hướng khác nhau trên
cơ sở yêu nước, cùng nhau bàn bạc, tìm kiếm một lối thoát tối ưu ra khỏi khủng
hoảng. Một chương trình khắc phục khủng hoảng được vạch ra và thông qua
tại Đại hội này, coi như cương lĩnh chung khẩn cấp của toàn dân. Đại hội này nên
mời những đại biểu các giới Việt kiều ở nước ngoài tham dự.
Quốc hội thảo luận và phê chuẩn Chương trình khắc phục khủng hoảng để văn kiện
này có hiệu lực pháp lý đầy đủ. Căn cứ vào những đề nghị của Đại hội quốc dân,
Quốc hội thành lập Chính phủ liên hiệp quốc dân bao gồm những người đủ
năng lực và tín nhiệm để điều hành thực hiện chương trình. Thành viên chính phủ
gồm cả đảng viên và những người không phải đảng viên.
Chuẩn bị và tiến hành bầu cử Quốc hội mới theo tinh thần hòa hợp dân tộc, đoàn
kết toàn dân. Trong Quốc hội mới, Đảng chỉ cần bảo đảm cho mình một nửa số đại
biểu, hoặc một đa số tương đối, để thể hiện đầy đủ tinh thần hòa hợp dân tộc.
Chính phủ liên hiệp và Quốc hội liên hiệp thật sự là trung tâm tập hợp mọi
lực lượng yêu nước để khắc phục khủng hoảng và tiến tới xây dựng một nước
Việt Nam với những lý tưởng ban đầu của cuộc cách mạng nhân dân là Độc lập - Tự
do - Hạnh phúc. Trong lịch sử, khi vận nước gặp hiểm nghèo ngay sau Cách mạng
tháng Tám 1945, Đảng cũng đã từng thực hiện chủ trương liên hiệp rộng rãi như
vậy và đã thành công tốt đẹp. Bài học quí báu đó của chính cách mạng Việt Nam
ngày nay có ý nghĩa thực tiễn hơn bao giờ hết.
Tình hình hiện nay đòi hỏi Đảng, trước hết là ban lãnh đạo của Đảng, có một sự
lựa chọn táo bạo và không phải không đau đớn, chủ động thực hiện những thay đổi
căn bản của chính bản thân Đảng để cùng với nhân dân thoát khỏi khủng hoảng.
Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ Đảng từng có một bản lĩnh như vậy.
*
Khủng hoảng đã kéo quá dài. Tình hình đất nước không cho phép kéo dài thêm.
Trong vòng 5 năm tới, nếu không ra khỏi khủng hoảng, một sự sụp đổ là không thể
tránh khỏi. Ngược lại, nếu thoát ra được, thì sẽ có một đà tiến mới để phát
triển mạnh mẽ, đưa đất nước tới những triển vọng tốt lành.
Tháng Giêng - tháng Ba 1991