Đối Thoại          Website: Doi-Thoai.com         Email: toasoandoithoai@yahoo.com


TÌNH TRẠNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM

Giáo sư Yoshiharu Tsuboi, viện đại học Waseda, Nhật Bản.

Tường Vân(VN) chuyển ngữ (kỳ 1)

Ðối Thoại :

Ðối Thoại kính giới thiệu đến độc giả bài chuyển dịch “Tình Trạng Tham Nhũng ở VN”( Corruption in VietNam   cuả Yoshiharu Tsuboi (Waseda University)) Bản chuyển ngữ  do Tường Vân (VN) dành cho độc giả Ðối Thoại và sẽ được chia thành nhiều kỳ để độc giả  tiện theo dõi. Ðối Thoại xin cám ơn độc giả Tường Vân

 

Lời Giới Thiệu

Vào tháng 12 năm 1986, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã quyết định đổi hướng mạnh khi đưa ra  chính sách “Đổi Mới”,  vào phiên bế mạc kỳ họp lịch sử “Đại Hội Đảng lần thứ VI”. Đảng  quyết rằng nếu không có công cuộc phát triển kinh tế thì cũng không thể duy trì nổi chế độ cai trị độc đảng của Đảng Cộng Sản. Nói một cách cô đọng, thì nghị quyết Đảng khi đó ra 4 điểm sau đây:

1)     Tư duy cho rằng “thời kỳ quá độ đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội là một quá trình lịch sử lâu dài” đã được nêu rõ trong Đại Hội, như vậy đã phủ nhận hòan tòan đường lối chính trị của việc tái cấu trúc triệt để, cho một xã hội xã hội chủ nghĩa

 2)Xem xét lại việc ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. Tập trung dành 60% trong tổng vốn đầu tư cho các kế hoạch  ưu tiên sản xuất nhiều lương thực thực phẩm hơn nữa (phát triển nông nghiệp), cho hàng tiêu dùng và hàng xuất cảng

3)Có sự công khai thừa nhận rằng tư bản tư nhân và tư doanh, ngòai các công ty nhà nước hay công ty quốc doanh, đều là thành phần kinh tế cần có cho kinh tế quốc gia và được họat động hợp pháp.

4)Có tầm nhìn hướng đến việc tham gia tích cực vào hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kinh tế và lao động, cũng được đưa ra.

Nói tóm lại, đó là một bước ngoặc. Từ đường lối chính trị chung chung không có gì mới ai cũng biết cho đến chính thức công khai một cách tích cực khi đưa ra khái niệm “kinh tế thị trường” , đồng thời mở cửa cho quốc tế vào họat động kinh tế trong mọi lãnh vực.

Tuy nhiên, đường lối mới này vẫn không tách rời cái tín điều “con đường đã xác định là Chủ Nghĩa Xã Hội”, nói cách khác là, không tách rời đường lối cai trị độc đảng của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Phải mất 3 năm, bước ngoặc quan trọng này từ Đại Hội VI mới phát huy hiệu quả trong đời thường của người dân.

Suốt trong những năm 1989 đến 1990 khi khái niệm “kinh tế thị trường” thật sự mới chuyển mình, vì có nhiều lý do. Trước hết, ngừời dân không mấy tin tưởng khi thấy liệu sự thay đổi đường lối chính trị này lại từ  nghị quyết ĐH Đảng CS, được chăng.

Lại còn mất tới từng ấy năm dân mới dám tin rằng thực sự đổi mới đang đến.  Mất thời gian còn do có những vấn đề về mặt kỹ thuật nữa. Như việc quá độ. Chuyển đổi từ một nền kinh tế kế họach theo kiểu xã hội chủ nghĩa sang nền kinh tế thị trường nhất định sẽ không thể tránh được tình trạng lạm phát. Mất hơn 2 năm như thế trong sự hợp tác của WB-Ngân Hàng Thế Giới, và IMF-Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế.

Ngay khi hết lạm phát và đồng tiền bắt đầu lưu thông, công chúng mới nhận thấy thực sự  Đảng CS đã thay đổi chính sách với quyết tâm sắt đá không quay đầu lại đường cũ. Cũng còn do tình hình chính trị quốc tế  thời ấy tác động, vào năm 1989, cùng với sự kiện kết thúc Chiến Tranh Lạnh, người ta khẳng định rằng sự  đổi mới của Đảng CS VN phù hợp với xu hướng thời đại. Người dân Việt Nam (chỉ tính người sống ở thành thị hay giới trí thức), những người có ý thức kịp theo trào lưu thời đại lúc bấy giờ đã khẳng định rằng chính sách Đổi Mới là không thể đảo ngược được.

Với hướng đi tới đó, chính sách Đổi Mới đã khởi động trên con đường của nó trong thập niên 1990 kế đó. Đã có một toan tính dùng dằng, không dứt khóat, nhưng dù vậy là một bước cả quyết hướng đến cái gọi là “nền kinh tế thị trường có yếu tố xã hội chủ nghĩa” (“kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”). Một khái niệm nước đôi.Tuy nhiên, cải cách chính trị khi đó đã không tiến hành đồng thời với cải cách kinh tế , do chính sách Đổi Mới đề ra là chỉ tập trung cho cải cách “kinh tế” mà thôi. Nói cách khác, những hình thái cải cách như đưa ra khái niệm “chế độ đa đảng” mà chế độ như vậy có thể tích cực làm suy yếu quyền cai trị độc đảng của Đảng CS. Hoặc hình thái cải cách tách nhà nước và đảng ra khỏi nhau, khi đó đã không được bàn đến.

1.Những áp lực từ trong nước cũng như  ngòai nước

Khi tham gia vào “Kinh tế Thị Trường”, có những điều kiện để họat động thị trường được trơn tru như  đưa thông tin sản phẩm rõ ràng và chính xác; lập mạng lưới cung ứng sản phẩm để đáp ứng đủ các nhu cầu; cải tiến hệ thống phân phối để bảo đảm giao hàng đúng hẹn; thanh tóan chuyên nghiệp, chính xác…tất cả trở nên cần thiết.

Thêm nữa, đại bộ phận dân Việt nam muốn kiếm thêm dù một chút thu nhập nữa, nên họ ráng luồn lách nhiều cách để mở được một quán cà phê nhỏ, tiệm tạp hóa, quán hàng lặt vặt hay tiệm hớt tóc với chút vốn ít ỏi.  Như vậy, khi chính sách Đổi Mới đang làm đúng việc, thì có nhiều đòi hỏi ngòai vấn đề kinh tế đã bắt đầu nổ ra từ các tầng lớp xã hội cấp dưới. Đặc biệt, sức ép lớn nhất là làm sao giải quyết mối bất bình của nông dân Việt nam vốn đang chiếm tới 80% dân số. Vì là Kinh Tế Thị Trường, chứ không phải là Kinh Tế Kế Họach XHCN như trước, tự do kinh tế đã bùng lên nhanh, cố nhiên là đã tạo ra khỏang cách giàu nghèo ngày càng lớn. Cụ thể là, trong khi có người làm ngọai thương ở đô thị hưởng lợi nhiều từ Kinh Tế Thị Trường, thì nông dân trong các làng quê hưởng lợi được rất ít. Như vụ nông dân nổi dậy năm 1997 ở tỉnh Thái Bình hay vụ chống đối của nhóm dân tộc thiểu số ở miền Trung VN từ tháng Hai đến tháng Ba, năm 2000. Dù nhà  nước VN cố đấu lại để cấm và kiểm duyệt tin tức, vẫn có thêm nhiều tiếng kêu bất bình của nông dân, những người nay không còn có thể im lặng được nữa.

Hậu quả là, Chính phủ và Đảng đã bị buộc phải đáp ứng những đòi hỏi từ tầng lớp tận cùng của xả hội.

Mặt khác, khi mà VN ngày càng tham gia nhiều hơn vào hệ thống kinh tế quốc tế thì càng có nhiều áp lực mạnh hơn buộc VN phải tuân thủ nhiều luật lệ đã thông qua trong quan hệ kinh tế quốc tế (tuân thủ các hợp đồng, theo dõi chặt chẽ hạn nợ) Đặc biệt ở VN nơi lúc nào cũng thiếu vốn tư bản, và không có quỹ nhà nước như quỹ ODA (Official Development Assistance- Quỹ hỗ trợ phát triển chính thức) từ các chính phủ nước ngòai, và những tổ chức tài chính quốc tế không thể thiếu được như WB, IMF và ADB (Asia Development Bank-Ngân hàng Phát triển Châu Á) Do đó, chính phủ VN thành ra biết ơn các tổ chức này, làm theo đúng những vụ đầu tư hay theo đủ những điều kiện ràng buộc về tài chính áp đặt trên VN (như  tính thực thi hợp lý của các chính sách, tính minh bạch trong những quyết định chính trị, đánh giá khách quan những kết quả đạt được). Ngòai việc thiếu vốn, thiếu các quỹ như đã kể, VN cũng không có mấy thông tin về hiều biết làm sao giúp đưa những cải cách của mình thành công, không có mấy cách tìm kiếm sự hợp tác từ các tổ chức quốc tế như UNDP (United Nations Development Program-Chương trình Phát triển của Liên hiệp Quốc) cũng như hợp tác từ các quốc gia Tây phương tiên tiến như Nhật, những thông tin  rất cần để thực thi công cuộc cải cách về nhiều mặt.

Điều này có thể hiểu khi mà còn  tính “nước đôi” dính trong chính sách Đổi Mới. Nói cách khác, Đảng CS VN ráng đương cự lại làn sóng tòan cầu hóa, chấp nhận chính sách Đổi MớI (tức việc tái cấu trúc) trong một cử chỉ đi trước thời thế.  Điều này có ý nghĩa trong việc nối kết nền kinh tế của VN với kinh tế thế giới cũng như trong việc tác động tới chính sách của VN tới Kinh tế Thị trường, yếu tố thúc đẩy ra tự do kinh tế. Sau cùng  là có một hậu quả lô gíc không chỉ trong kinh tế mà còn trong lãnh vực chính trị và xã hộI đòi hỏi tự do và dân chủ hóa đã nổ ra.

Vậy mà giờ đây Chính phủ thấy ra cái thế  mâu thuẫn và trớ trêu của mình. Trớ trêu là họ phải kiểm sóat khuynh hướng “tự do” và “dân chủ hóa” với cái kiểu người ta ai cũng biết, là “duy trì đường lối cai trị độc đảng của Đảng CS”

Thêm nữa, còn những vấn đề chỉ riêng Chính phủ VN và Đảng CS VN mới có, đó là hết sức ngờ vực và lúc nào cũng có cảm giác sợ và âu lo về chính quyền Hoa Kỳ Các lãnh đạo Đảng, những người từng đánh bại nước Mỹ trong chiến tranh cứu nước chống lại HK, cái gọi là “Cuộc chiến VN” họ không thích thú gì chiến thắng; trái lại, tin chắc rằng, gần như ở mức độ của bệnh hoang tưởng, rằng nước Mỹ siêu cường còn mang mối thù dai đối với VN, một nước nhỏ xíu đã đánh bại mình một ngày kia thể nào cũng trả thù không cách này cũng cách khác. Đặc biệt là việc họ đạt được việc bình thường hóa trong quan hệ ngọai giao giữa hai nước vào năm 1995. Có nghĩa là VN giờ đây chính thức được công nhận như là một thành viên của cộng đồng quốc tế. Và trong nhiều năm qua, VN từng mong  muốn có sự khích lệ phát triển kinh tế từ đầu tư của các công ty Mỹ. Tuy nhiên, cùng thời gian này, Chính phủ VN trở nên lo ngại hơn sợ rằng nước Mỹ lợi dụng người Việt chống cộng, những người ngã sang Mỹ, kiếm được quốc tịch Mỹ, có toan tính lật đổ sự cai trị của Đảng CS VN trong một diễn biến hòa bình.

Do đó, các lãnh đạo Đảng, với cảm giác bất an đó, đã nhìn những đề xuất cải cách từ những tổ chức tài chính quốc tế mà Mỹ có ảnh hưởng lớn như WB hay IMF như thể “âm mưu của chính phủ Mỹ chống chúng ta với ý đồ lật đổ ta ngụy trang trong những cử chỉ thân thiện”. Cũng cùng thái độ tương tự, Chính phủ VN cũng có cái nhìn đối với bất kỳ áp lực nào bên ngòai, nhấn mạnh vị thế của họ phải giới hạn những “cải cách” với chính phủ các nước hoặc các tổ chức quốc tế  trong những trợ giúp về Kỹ thuật chỉ nhiều tới cở  chấp nhận được, và cố kiểm sóat các tổ chức này để họ không thể tác động trở lại quyền cai trị độc đảng của Đảng CS VN. Trong thực tế thì một vị thế độc đảng như vậy đã lợi dụng như một cái cớ đưa ra  với người dân Việt Nam để khỏi thực hiện cải cách nghiêm túc.