Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
TÌNH TRẠNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM |
Giáo sư Yoshiharu Tsuboi, viện đại học Waseda, Nhật Bản.
Tường Vân(VN) chuyển ngữ (kỳ 2)
Ðối Thoại :Ðối Thoại kính giới thiệu đến độc giả bài chuyển dịch “Tình Trạng Tham Nhũng ở VN”( Corruption in VietNam cuả Yoshiharu Tsuboi (Waseda University)) Bản chuyển ngữ do Tường Vân (VN) dành cho độc giả Ðối Thoại và sẽ được chia thành nhiều kỳ để độc giả tiện theo dõi. Ðối Thoại xin cám ơn độc giả Tường Vân |
22.04.2006- TÌNH TRẠNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM(Kỳ 1)
2.Những nổ lực cải cách
Do có những áp lực trong và ngòai nước như kể trên mà sau khi đưa ra Kinh tế thị trường, nhiều hình thái cải cách khác nhau được đề xuất và đã được thực hiện ở VN. Những cải cách ban đầu (những năm 1986 đến 1990) diễnra trong lãnh vực kinh tế, trong hệ thống tài chính là hệ thống cần thiết cho quá trình chuyển đổi từ kinh tế kế họach sang kinh tế thị ttrường. Sau “thành công” về cải cách tài chính đồng thời có kiểm sóat lạm phát, thì cải cách chính trị và xã hội cũng được thực hiện.Chế độ bầu cử được cải thiện, tạo điều kiện rộng rãi hơn cho các tầng lớp dân chúng kiếm ghế trong quốc hội và bầu trực tiếp chủ tịch xã ở cấp làng xã.Luật quốc Hội cũng được cải cách sao cho quốc hội có thể có chức năng nhiều hơn, là một cơ quan lập pháp, lớn lên từ cái gọi là “đại hội đại biểu nhân dân” như trước đây. kiểu quốc hội không làm gì ngòai việc tuân theo chế độ răm rắp. Vì mục đích như vậy mà người ta đã quyết định rằng
phải có thêm người có năng lực vào quốc hội và những phiên thảo luận sinh động tích cực ở ủy ban thường vụ hay đại hội đồng đã được truyền hình trực tiếp.
Điều đặc biệt là những cải cách hành chính nhằm cải thiện tính minh bạch và tính hiệu quả của Chính phủ đã được thực hiện
ở nhiều lĩnh vực cũng như bởi nhiều cơ quan, tổ chức.Vào năm 1993, Chính phủ lập ra “Uy ban thực thi Cải cách hành chính” như là một tổ chức báo cáo trực tiếp cho Thủ tướng nhằm bảo đảm đường lối quản lý “hội nhập” của công cuộc cải cách hành chính. Đặc biệt, một công cuộc cải cách hành chính được đưa ra, nhằm cải thiện tính minh bạch và tính hiệu quả trong quản lý nhà nước, đã được đưa vào áp dụng ở nhiều lãnh vực nhiều cơ quan. Năm 1993, chính phủ VN lập một “Ủy Ban Thực Hiện Dự An Cải Cách Hành Chính” có nhiệm vụ báo cáo trực tiếp cho Thủ Tướng nhằm bảo đảm thực thi một cung cách quản lý gần dân hơn. Điều hành Uy Ban này là một cơ quan hành chính gọi là “Government Committee on Organization and Personnel” -Uy Ban Nhà Nước phụ trách Nhân Sự và Tổ Chức (viết tắt là GCOP), cũng là cơ quan đồng nhiệm của “National Personnel Authority” ở Nhật. Đáp lại lời kêu gọi của UNDP, các nước Nhật, Hà Lan, Canada, Thụy Điển, Đức và Na-Uy tài trợ đóng góp trong thời hạn 5 năm. Nhiều chương trình đã được thực hiện từ năm 1994 đến 1999.
Cụ thể, chú trọng những thách thức như sau:
1)Có điều kiện pháp lý cho các tổ chức hành chính trung ương thuận lợi cho công cuộc cải cách kinh tế
2)Cải thiện phẩm chất, năng lực làm việc cho công chức
3)Củng cố các cấp hành chính địa phương, vùng miền (mục này có báo cáo chi tiết hơn trong bài khác, ở đây xin không đi sâu hơn)
Người ra nói rằng trong chương trình cải cách hành chính ở tỉnh Quảng Bình, nơi chính phủ Hà Lan đóng góp 1 triệu dollar, thì 40% trong số tiền này đã bị xài phá lãng phí. Có thể kể ra đây 2 vụ xài phá lãng phí đó: một là, người ta bỏ ra 60,000 USD cho chương trình học tiếng Anh ở Hà Nội, ấy vậy mà không có viên chức nhà nước Quảng Bình nào đậu nổi tiếng Anh sơ cấp khi người ta kiểm tra đánh giá trình độ lúc kết thúc chương trình tài trợ này; hai là, chi 150,000 USD cho khóa huấn luyện cán bộ địa phương. Báo cáo sau đó cho biết: : “có một món trợ cấp tài chính cá nhân rất đáng kể cho cả cơ quan nhà nước tổ chức chương trình này với những người tham gia chương trình”
Công cuộc cải cách hành chính ở VN có liên đới trong một vấn đề lớn mang tính cấu trúc. Đảng CS VN muốn chiếm lòng tin của dân thông qua nền hành chính hiệu quả và qua đội ngũ công chức trong sạch không vướng tham nhũng. Được vậy, thì Đảng mới có đủ lý do để biện minh cho việc liên tục độc đảng cai trị của mình.
Do vấn nạn tham nhũng lan tràn và tình trạng vô hiệu quả có thể đưa tới sự sụp đổ chế độ chính trị của họ, nên công cuộc cải cách là rất cần thiết cho quyền bính của Đảng. Nói cách khác, cải cách quá mức có thể đưa tới làn sóng chỉ trích sôi nổi vào hệ thống hiện nay của nhà nước độc đảng của Đảng CS. Quá mức sẽ nguy hiểm cho Đảng. Do đó, Đảng muốn kềm giữ công cuộc cải cách hành chính này làm sao nó vẫn ở mức “bình bình”, chỉ mở rộng ra đủ lợi cho việc củng cố thể chế này.
Thêm nữa, trong quá trình thực hiện cải cách hành chính ở VN, trừ phi có những kiểu trợ cấp phúc lợi nào đó, có chăng tài chính hay gì khác, đối với đảng viên làm việc trong các cơ quan hành chính hiện thời thì, sẽ khó mà thúc đẩy tiến trình cải cách đi tới được. Do đó, họ phải chấp nhận ở mức nào đó, nạn biển thủ, nạn tham lạm công quỹ như là một tệ nạn cần thiết !
Mặc khác, cơ quan Liên Hiệp Quốc UNDP cũng thấy khó xử luôn. Với tư cách là một nhánh phụ trách chuyên môn của LHQ có vai trò hổ trợ các quốc gia đang phát triển, lý do tồn tại của UNDP có thể bị đặt vấn đề trừ phi cơ quan này lập kế họach và cho thực hiện vài dự án cụ thể nào đó. Vậy văn phòng UNDP ở VN cần duy trì quan hệ hợp tác với nhà nước VN. Họ phải chấp thuận duyệt những chính sách căn bản của chính phủ cho dù thích hay không thích, không có lựa chọn nào khác ngòai thực hiện vai trò của một “Hổ Trợ Kỹ Thuật” trong khuôn khổ như vậy.
Tuy nhiên, không phải là không có mâu thuẫn giữa văn phòng UNDP và chính phủ VN. Vấn đề cải cách hành chính tưởng đâu chỉ thuần túy kỹ thuật và có vẽ trung lập mà lại rất có dính líu với chính trị. Do đó đã có một số bất đồng giận dữ không tránh được xảy ra giữa UNDP và chính phủ VN. Cơ quan LHQ này, chính phủ VN đã từng có lần theo cùng vì công cuộc cải cách hành chính, có thể ngừng lại mà không đạt được gì để có sự nhận thức đầy đủ của chính phủ về tính hiệu quả, xã hội sạch tham nhũng, một nền hành chính công bằng cho mọi người và thậm chí trong tiến trình chuyển đổi, làm hết sức để xóa sạch nhiều tham nhũng nhất có thể. Nhưng ở đây, mục đích của chính phủ VN không phải là cải cách hành chính hết mức mà chỉ là muốn duy trì nhà nước độc đảng mà thôi. Họ chỉ muốn thực hiện cải cách “tầm tầm” đủ để cầm quyền. Cải cách vượt khuôn khổ sẽ làm hại quyền lợi của họ.Đó là mâu thuẫn về lợi ích mà hai vị thế đối lập trên không tránh được.
3)Về vấn nạn Tham nhũng
Chúng ta hãy xem kỹ vấn đề về “tham nhũng”. Vấn đề này cả hai bên, chính phủ VN và UNDP hay các tổ chức quốc tế khác đều coi đây là vấn đề nghiêm trọng. Một trong những chương trình cải cách hành chính của UNDP và GCOP (Uy ban nhà nước về nhân sự và tổ chức) là chương trình “thanh tóan nạn tham nhũng trong công chúc” đã có trọng lượng của một trong vấn đề quan trọng nằm trong trọng tâm cải cách thứ 2 như kể trên “nâng cao năng lực phẩm chất phục vụ của công chức”.
Hố cách biệt trong cách hiểu thế nào là Tham nhũng
Nhân nói về tham nhũng, có hố cách biệt trong việc hiểu thế nào là tham nhũng giữa chính phủ các nước, kể cả các tổ chức quốc tế và chính phủ VN về định nghĩa thế nào là “tham nhũng”. Một bên, quốc tế định nghĩa “tham nhũng” là bất kỳ hành động nào đòi hỏi tiền bạc ngòai chi phí hành chính đã ấn định hoặc lấy tiền hoa hồng, trong một bộ phận công chức. Ngược lại, chính phủ VN lại nhìn việc đó theo hướng khác khi cho rằng vì đồng lương công chức không đủ sống, nên thông thường cho là họ chỉ ăn chênh lệch hay ăn một ít “huê hồng” trên phí hành chánh cố định trong mọi công việc ở chổ làm. Tuy vậy, người ta nhận thấy một vấn đề, khi “một ít hoa hồng” kia là một số tiền lớn bất thường hay là một cá nhân nắm mọi “huê hồng” cho riêng mình thay vì phân chia công bằng với người khác cùng trong đội nhóm hay cùng phòng ban của mình. Chỉ đến lúc đó, hành vi này mới khởi tố là “tham nhũng”. Như vậy, trong cách hiểu của Việt Nam, vấn đề không phải ở chổ việc đưa nhận tiền ngòai qui định hành chánh (đút lót), mà là ở chổ món tiền nhận đó lớn đến bao nhiêu và liệu có ăn đồng chia đủ trong nhóm hay không!
Cán bộ công nhân viên Việt Nam nhận đồng lương chính thức hết sức ít ỏi, kể cả cấp nhà nước từ trung ương đến địa phương. Lương sinh viên mới ra trường, tính tương đương thường từ 15 đến 20 USD một tháng, thâm niên đến khỏang tuổi 40 lên được 60 USD, đến độ tuổi 50 ngồi vào ghế quản lý, nhận lương khỏang 100 USD. Cả vợ cả chồng đều đi làm là thường thấy, nhưng dù cho có hai đầu lương chăng nữa cũng còn khó khăn. Thế nên họ quay ra làm thêm, ai có nghề gì làm thêm nghề ấy. Vài người nói được tiếng Anh thì ngồi nhà dịch bài kiếm thêm, hoặc dạy kèm tại nhà nếu là thầy cô giáo ở trường cấp 2 cấp 3 hay giảng viên đại học. Còn người không có chuyên môn thì kiếm thêm bằng cách lái taxi. Họ làm việc cực nhọc cả ngày cả đêm, cố làm sao có đủ chi tiêu trong tháng trứơc khi lãnh khỏan lương mới.
Tuy vậy, cán bộ công nhân viên ở ngọai thành vùng nông nghiệp lại không có cơ hội làm kiếm thêm như vậy. Đối với dân ngọai thành, việc chia nhau tiền “huê hồng” kiếm ở cơ quan (khỏan đút lót) là cách dễ nhất để có “chút tiền bỏ túi”. Như vậy, bao lâu mà còn có những khỏan vừa vừa chấp nhận được và chia đều trong “anh em” thì họ không cho là mình làm bậy, chứ đừng nói tới tội “tham nhũng”. Họ không hiểu nổi tại sao làm vậy mà bị lên án.
4) Vấn Nạn Mang Tính Hệ Thống
Như vậy kiểu “tham nhũng” tả ở trên đã ăn sâu trong cấu trúc của hệ thống độc đảng này. Việc cần làm trước hết là nâng mức lương căn bản lên, dù là làm từ từ đi chăng nữa, nhằm tạo điều kiện cho đội ngũ công nhân viên chức ở đây sống được bằng đồng lương chính thức. Tuy nhiên, vấn đề là chính phủ VN không có khả năng lo được, vì họ vẫn còn lệ thuộc phần lớn viện trợ nước ngòai, cũng như dựa vào nguồn thu thuế hạn chế. Trong suốt thời kỳ kinh tế kế họach XHCN lúc trước, nhà nước vốn có quan tâm đến nhiều mặt đời sống cho cán bộ công nhân viên chức. Bằng các khỏan cấp phát dưới dạng hàng hóa hay tem phiếu, từ thực thực phẩm, đến tấm vải may quần áo, và nhà ở. Thời trước làm gì có khái niệm nhà nước thu “thuế” người dân, cũng không có những cơ quan như Sở Thuế Vụ, được giao nhiệm vụ trưng thu các lọai thuế khóa.
Cũng nên nói qua về mặt lịch sử , từ khi VN có Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1945, trong 30 năm sau đó cho đến kết thúc chiến tranh năm 1975, đất nước này đã tơi bời hết cuộc chiến này đến cuộc chiến khác, khiến nông nghiệp trong nước và công nghiệp đình trệ, không phát triển nổi. Suốt thời gian này, chính phủ chỉ trông cậy vào nguồn viện trợ từ khối Xô Viết và các nước Đông Âu. Ngay cả sau khi có chính sách Đổi Mới, tình hình đó cũng không thay đổi cho tới khi vấn đề đút lót ở cơ quan nhà nước mới được để ý đến. Việc thay đổi cách nhìn nhận là do có sự thay đổi vai trò của các nước viện trợ cho VN.Khi hết Liên Xô, Đông Âu thì sang các nước Tây Au, gồm cả Nhật Bản và các Tổ chức Quốc tế. Nhưng điều chưa thay đổi là VN vẫn lệ thuộc vào viện trợ nước ngòai để có tài chính quốc gia. Có thể nói không ngoa rằng, khi giờ đây VN không còn trông mong gì vào viện trợ của Liên Xô và Đông Âu, họ mới đưa ra quyết sách Đổi Mới để tìm tiếp tục tìm kiếm viện trợ từ các nước Tây Âu.
Nhìn xa hơn trong lịch sử Việt Nam, quả thật không có tục thu thuế trực tiếp từ dân. Lấy mốc từ triều đại nhà Lê vào thế kỷ thứ 15 cho đến triều đình cuối cùng là nhà Nguyễn kết thúc năm 1945, các triều đại nối tiếp nhau quả đã không trực tiếp đụng tới việc thu thuế mà giao hết cho quan viên địa phương. Quan viên địa phương là cấp quan Tổng trấn (tương đương cấp Đô trưởng thời Pháp, hay cấp chủ tịch UBND tỉnh /thành hiện nay). Các quan lập ra các khổ thuế, định mức thuế và giao nộp nguồn thu thuế (vốn ấn định bất di bất dịch) nạp vào ngân khố nước An nam.
Lý do tại sao thời xưa người ta chuộng học để đi thi, nếu đỗ cao ra làm quan không hẳn vì danh, nhưng là vì lợi. Quả là nếu kiếm được chức quan thu thuế, người ta có thể tích góp của riêng để về sau dựng cơ nghiệp làm ăn mà lo cho gia đình dòng họ. Trong thực tế, ngòai việc chọn người, Tổng trấn tự cử ra một quan coi thuế, hoặc chọn quan đầu phủ từ trong dân, còn xét dựa trên qui mô địa lý của từng làng xã. Dân căn cứ địa phận thu thuế mà đánh giá quan coi thuế giỏi hay không giỏi. Còn địa phận thu thuế cụ thể trãi rộng tới đâu là do quan Tổng trấn cân nhắc.
Với một quá khứ lịch sử như vậy, thời nay nguồn thu thuế chính ở VN bây giờ vẫn chỉ có vài nguồn như thuế hải quan và thuế doanh nghiệp đánh lên các công ty nước ngòai và thuế thu nhập cá nhân của nhân viên làm việc trong công ty nước ngòai. Dù cho luật thuế đã được thông qua, trong thực tế, đại bộ phận người dân VN được miễn trừ thuế, cũng như cơ quan thuế không có đủ phương tiện để làm việc một cách thật chuyên nghiệp.
Trong khi đó thì số ăn lương nhà nước ngày càng tăng lên quá đông. Nếu chính phủ tăng lương để họ để đủ sống, cũng cần phải coi lại số đầu người bao nhiêu là hợp lý. Họ tuyển dụng người lại chỉ dựa vào thế lực hay do thân quen (không do nhu cầu chẳng hạn). Rất ít có cơ quan chính phủ nào chọn người qua những kỳ thi xét tuyển khách quan. Như vậy, phải ứng dụng gấp việc thi kiểm tra để thực hiện việc tuyển dụng công bằng. Vì quan tâm đến điều này mà trong 5 năm qua chính phủ Nhật đã mời các thành viên của Ủy Ban phụ trách Nhân sự và Tổ Chức (GCOP VN) đến Nhật, thông qua JICA (Japan International Cooperation Agency- cơ quan hợp tác quốc tế Nhật bản, tổ chức đồng nhiệm với GCOP) để đào tạo người Việt học về hệ thống kiểm tra tuyển dụng, về thang bảng lương và hệ thống tiến cử… tất cả chuẩn mực đã ứng dụng trong mọi tổ chức hành chính của Nhật.
Như vậy, người Việt Nam đã học được cơ chế và lý thuyết làm cách nào để tăng lương đủ cho một hộ gia đình có thể sống được nhờ lương; làm cách nào để tạo một bảng lương hợp lý bảo đảmngười làm việc sẽ nhận đồng lương tưởng thưởng do làm việc chăm chỉ, thành tâm, đàng hòang; và đã học làm cách nào để đưa ra một hệ thống bài kiểm tra tuyển dụng thật bình đẳng.
(Mời độc giả đọc tiếp phần 3 trn trang web Ðối Thoại)