Đối Thoại          Website: Doi-Thoai.com         Email: toasoandoithoai@yahoo.com


TÌNH TRẠNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM(kỳ 1)

Ðối Thoại :

Ðối Thoại kính giới thiệu đến độc giả bài chuyển dịch “Tình Trạng Tham Nhũng ở VN”( Corruption in VietNam   cuả Yoshiharu Tsuboi (Waseda University)) Bản chuyển ngữ  do Tường Vân (VN) dành cho độc giả Ðối Thoại và sẽ dược chia thành nhiều kỳ để độc giả để tiện theo dõi. Ðối Thoại xin cám ơn độc giả Tường Vân

Đối Thoại đã đưa vào web Đối Thoại 2kỳ (kỳ 1 &2).Sau khi chuyển dịch toàn bộ bài “Corruption in VN”, người chuyển dịch Tường Vân đã có thì giờ xem lại, đề nghị một vài sửa đổi để bài chuyển dịch được thông thoáng hơn. Đối Thoại xin gởi lại độc giả từ đầu (kỳ 1)

 

Báo cáo của Giáo sư Yoshiharu Tsuboi, viện đại học Waseda, Nhật Bản.

Tháng 11-2005

(Bản dịch phần 1)

Giới Thiệu

Công cuộc Đổi Mới lần đầu

Tháng 12 năm 1986, vào phiên bế mạc kỳ họp lịch sử của Đảng Cộng Sản Việt Nam “Đại Hội VI”, đã quyết định chuyển hướng mạnh khi đưa ra chính sách “Đổi Mới”.  Đảng đã nhận rằng nếu không có công cuộc phát triển kinh tế thì cũng không thể duy trì nổi chế độ một đảng lãnh đạo của mình. Nghị quyết Đảng Đại Hội VI khi đó đưa ra 4 điểm chính sau đây:

1) Đảng đã nêu rõ : “thời kỳ quá độ đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội là một quá trình lịch sử lâu dài”. Điều này có nghĩa là Đảng đành phủ nhận hòan tòan đường lối chính trị vạch ra trước đó: tái cấu trúc triệt để xã hội hiện tại để “đi lên” một xã hội xã hội chủ nghĩa.

2)Xem xét lại việc “ưu tiên phát triển công nghiệp nặng”. Thay vì vậy, là ưu tiên “tập trung dành 60% tổng vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp, chú trọng sản xuất thêm nhiều lương thực- thực phẩm; cũng như cho hàng tiêu dùng và hàng xuất cảng.

3) Đảng công khai thừa nhận tư bản tư nhân và dân doanh, là thành phần kinh tế cần có cho kinh tế quốc gia, có mặt hợp pháp bên cạnh các công ty nhà nước hay công ty quốc doanh.

4) Hướng đến việc chủ động tham gia với quốc tế, hợp tác trong lĩnh vực kinh tế và lao động.

Nói tóm lại, đây hòan tòan là một bước ngoặc. Từ đường lối chính trị bảo thủ, tuyên bố về cái gọi  là “Kinh tế Thị trường” một cách tích cực, bằng cách mở cửa cho những họat động quốc tế ở mọi lãnh vực.

 

Tuy nhiên, nói vậy mà không phải vậy, “Đổi Mới” nhưng vẫn không tách rời tín điều “đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội”. Nói cách khác, không tách rời đường lối “một đảng lãnh đạo” của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Phải mất 3 năm, bước ngoặc quan trọng này từ Đại Hội VI mới phát huy hiệu quả trong đời thường của người dân. Dân chưa hay biết gì. Sau đó mới là khỏan thời gian thật sự  chuyển mình, từ 1989 cho tới 1990, là “Kinh tế Thị trường”. Chậm, vì nhiều lý do. Đầu tiên là ngừời dân nửa tin nửa ngờ khi thấy liệu sự thay đổi đường lối chính trị này, từ  chính nghị quyết ĐH Đảng CS, có chắc không.

 

Phải từng ấy năm, dân mới dám tin rằng thực sự đổi mới đang đến.  Ngòai ra còn những trục trặc kỹ thuật tất nhiên. Thời kỳ quá độ này, trở mình từ một nền kinh tế kế họach xã hội chủ nghĩa, lăn sang nền kinh tế thị trường, làm gì không tránh được lạm phát. Nội việc này đã mất hơn 2 năm, với sự hợp tác của WB-Ngân Hàng Thế Giới, và IMF-Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế.

Ngay khi thôi lạm phát, đồng tiền lưu thông rồi, công chúng mới nhận thấy thực sự  Đảng CS đã chấp nhận chính sách Đổi Mới, đã quyết không quay lại đường cũ. Lúc đó còn nhờ tình hình chính trị quốc tế  thời điểm ấy tác động thêm, năm 1989 chính là năm có sự kiện kết thúc Chiến Tranh Lạnh. Người ta khẳng định rằng sự  đổi mới của Đảng CS VN diễn ra khớp xu hướng thời đại.

Người dân Việt Nam (tính riêng thị dân và giới trí thức), những người ý thức kịp trào lưu thời đại lúc bấy giơ, đã khẳng định rằng chính sách Đổi Mới là không thể đảo ngược được.

 

Thế là “Đổi Mới” đã khởi động trên con đường của nó trong thập niên 1990 kế đó. Nhưng cải cách chính trị hồi ấy đã không được tiến hành đồng thời với cải cách kinh tế. “Đổi Mới- Kinh tế  Thị trường” chỉ dành cho cải cách kinh tế, không dành cho cải cách chính trị. Và toan tính  cám dổ theo hướng “kinh tế thị trường nhưng mang yếu tố xã hội chủ nghĩa”, hay “Đổi Mới-Kinh tế Thị trường Định hướng Xã hội Chủ nghĩa” cũng đã đề cập rõ. Đây quả là một khái niệm nước đôi.

 

Cải cách chính trị như  đưa ra khái niệm “tách” hòan tòan Nhà nước và Đảng ra khỏi nhau, hay khái niệm “đa đảng” không được bàn đến. Vì “đa đảng” có thể tích cực làm suy yếu quyền lực “một đảng lãnh đạo” hiện tại.

 

 

1.Ap lực trong và  ngòai nước

Khi cổ máy “Kinh tế Thị Trường” vận động,  đòi hỏi có nhiều điều kiện như: thông tin sản phẩm, xác lập cung – cầu, giao hàng đúng hẹn, thanh tóan chuyên nghiệp, chính xác…tất cả trở nên cần thiết.

Đại bộ phận người dân Việt nam khi đó mong muốn kiếm thêm chút thu nhập, đã “vượt qui định” bằng mọi cách để làm ăn. Như mở quán cà phê,  tiệm tạp hóa, hàng quán hay tiệm hớt tóc… với chút vốn ít ỏi.  Như vậy, khi chính sách Đổi Mới khởi động, đã nổ ra nhu cầu ngòai nhu cầu kinh tế , từ các tầng lớp xã hội cấp dưới. Cụ thể là có sức ép giải quyết thế nào sự bất bình của nông dân, một bộ phận áp đảo nhưng nghèo chiếm đến 80% trong dân số VN.

 

Do là “Kinh tế Thị trường”, chứ không phải là “Kinh tế Kế họach XHCN” như trước. Tự do kinh tế đã bùng lên nhanh, cố nhiên đã tạo hố cách biệt giàu nghèo. Và cái hố này ngày càng lớn.  Thí dụ ở đô thị, người làm ngọai thương, xuất khẩu hưởng lợi nhiều bao nhiêu từ Kinh tế Thị trường, thì nông dân ở làng làm nông nghiệp hưởng lợi ít bấy nhiêu từ Kinh tế Thị trường.

Vụ nông dân nổi dậy năm 1997 ở tỉnh Thái Bình hay vụ chống đối của nhóm dân tộc thiểu số ở miền Trung VN từ tháng Hai đến tháng Ba, năm 2000. Dù nhà  nước VN cố kiểm sóat, ban hành lệnh cấm và ngăn chặn thông tin, vẫn còn nhiều tiếng kêu bất bình của nông dân, những người hết muốn  im lặng, hay không còn có thể im lặng được nữa. Tầng lớp tận cùng của xã hội đã buộc Đảng và Chính phủ phải đáp ứng đòi hỏi của mình.

 

Đó là áp lực trong nước.

 

Mặt khác, khi  VN ngày càng tham gia nhiều hơn vào hệ thống kinh tế quốc tế thì càng có nhiều áp lực mạnh hơn buộc VN phải tuân thủ nhiều thông lệ trong quan hệ kinh tế quốc tế (tuân thủ các hợp đồng, theo dõi chặt chẽ hạn nợ…)

Việt Nam là nơi lúc nào cũng thiếu vốn tư bản, càng  không có quỹ nhà nước như quỹ ODA (Official Development Assistance- Quỹ hỗ trợ phát triển chính thức) từ các chính phủ nước ngòai, cũng như những tổ chức tài chính quốc tế không thể thiếu được như WB, IMF và ADB (Asia Development Bank-Ngân hàng Phát triển Châu Á)

 

Do đó, chính phủ VN biết ơn các tổ chức này, và làm đúng theo những vụ đầu tư hay những điều kiện ràng buộc về tài chính (như  tính thực thi hợp lý của các chính sách, tính minh bạch trong những quyết định chính trị, khách quan đánh giá những kết quả đạt được). Ngòai thiếu vốn, thiếu quỹ tài chính, VN cũng còn thiếu thông tin làm sao giúp cải cách thành công. Nên đã không tìm kiếm được mấy hợp tác từ các tổ chức quốc tế như UNDP (United Nations Development Program-Chương trình Phát triển của Liên hiệp Quốc), cũng như hợp tác từ các quốc gia Tây phương tiên tiến, và cả Nhật Bản.

Điều này ai cũng hiểu, bao lâu còn  tính chính sách “nước đôi” của “Đổi Mới” thì cải cách hãy còn hạn chế.  Đứng trước làn sóng tòan cầu hóa, Đảng CS VN đưa ra chính sách Đổi Mới (tức việc tái cấu trúc), nói cách khác, là ngã theo thời thế.  Đảng đưa kinh tế VN kết nối vào kinh tế thế giới, đưa chính sách Đảng vào Kinh tế Thị trường. Kinh tế thị trường thúc đẩy ra tự do kinh tế. Tự do kinh tế tự nó thúc đẩy lãnh vực Chính trị Xã hội. Lô gic này đã kích họat đòi hỏi Tự do Dân chủ.

 

Trớ trêu thay, giờ đây Chính phủ VN nhận ra tình trạng mâu thuẫn của mình. Việc kiểm sóat khuynh hướng “tự do” và khuynh hướng “dân chủ hóa” vẫn là đường lối “duy trì một Đảng CS duy nhất lãnh đạo”.

 

Còn có những vấn đề chỉ riêng Chính phủ VN và Đảng CS VN mới có, đó là VNhết sức ngờ vực và luôn âu lo về chính quyền Mỹ. Các nhà lãnh đạo Đảng, những người đã đánh bại nước Mỹ trong cuộc “Chiến tranh VN”, đã không yên tâm với chiến thắng; trái lại tin rằng, gần như ở mức độ của bệnh hoang tưởng, là nước Mỹ siêu cường còn mang mối thù dai đối với VN, một nước nhỏ xíu đã đánh bại mình, và họ sẽ trả thù VN bằng mọi cách.

 

Có điều vào năm 1995, VN đã đạt được việc bình thường hóa với Mỹ về mặt quan hệ ngọai giao. Trong nhiều năm qua, khi VN chính thức được công nhận như là thành viên của cộng đồng quốc tế, một mặt VN mong mỏi đầu tư Mỹ, một mặt VN cũng lo sợ rằng nước Mỹ lợi dụng số người Việt chống cộng, những người ngã sang Mỹ, kiếm được quốc tịch Mỹ, có toan tính lật đổ sự cai trị của Đảng CS VN trong một “diễn biến hòa bình”.

Với cảm giác bất an đó, các lãnh đạo Đảng nhìn những đề xuất cải cách từ các tổ chức tài chính quốc tế mà Mỹ có ảnh hưởng lớn như WB hay IMF như thể “âm mưu lật đổ của Mỹ che đậy bằng sự thân thiện”.

 

Vẫn với cái nhìn đó, để đối phó với các áp lực bên ngòai, VN nhấn mạnh vị thế của họ là phải giới hạn những “cải cách” với chính phủ các nước hoặc các tổ chức quốc tế. Chỉ nhận những trợ giúp về Kỹ thuật trong mức chấp nhận được, và cố kiểm sóat các tổ chức này để họ không thể tác động trở lại “quyền một đảng lãnh đạo” của Đảng CS VN.

Thực tế thì vị thế “một đảng” như vậy đã dùng làm một cái cớ đưa ra trong dân, để khỏi thực hiện cải cách nghiêm túc.

(hết phần 1)