Đối Thoại          Website: Doi-Thoai.com         Email: toasoandoithoai@yahoo.com


Lời Kêu Gọi 6406 lần 2 cho Quyền Thành lập

và Hoạt động Đảng phái tại Việt Nam năm 2006

 

Lời Kêu Gọi 6406 lần 2 cho Quyền Thành lập

và Hoạt động Đảng phái tại Việt Nam năm 2006

của 174 Công dân đấu tranh Dân chủ quốc nội Việt Nam

@  1 ?

Việt Nam, ngày 06-4-2006

Kêu gọi lại lần 2 ngày 30-4-2006

            Kính thưa Toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài Nước,

            Kính thưa Quý liệt vị đang mong ước Dân chủ cho Việt Nam trên toàn cầu,

            Cùng với bao người đang quên mình đấu tranh cho nền Dân chủ của Quê hương, chúng tôi, đại diện hàng trăm Công dân đấu tranh Dân chủ cho Việt Nam ở quốc nội ký tên dưới đây, đồng thanh lên tiếng thay cho toàn thể người Việt trong và ngoài Nước rằng : Vận mệnh Tổ quốc đã, đang và sẽ lâm nguy do một tập đoàn độc quyền toàn trị là đảng Cộng sản Việt Nam. Tiếng nói của chúng tôi vang lên đây nhằm mục đích cổ vũ các hoạt động chính trị vì ích quốc lợi dân, bênh vực mọi Nhân quyền và Dân quyền mà một Đất nước Dân chủ chân chính phải thực sự chủ trương và bảo vệ, trong đó có Quyền Thành lập và Hoạt động Đảng phái, căn cứ trên các nền tảng dưới đây :

            1- Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, Liên Hiệp Quốc biểu quyết ngày 16-12-1966 và Việt Nam tham gia ngày 24-9-1982, điều 5,2 : “Không được phép hạn chế hoặc hủy bỏ bất kỳ Quyền Cơ bản nào của con người đã được công nhận hoặc hiện tồn ở một Quốc gia thành viên của Công ước này”; điều 21 : “Mọi Công dân… đều có quyền và cơ hội để (a) tham gia vào việc điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua những đại diện được họ tự do lựa chọn ; (b) bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ chân thực, bằng phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín nhằm đảm bảo cho cử tri tự do bày tỏ ý nguyện của mình”.

            2- Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam điều 3 : “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của Nhân dân”; điều 11 : “Công dân thực hiện quyền làm chủ của mình… bằng cách tham gia công việc của Nhà nước… bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công dân… tổ chức đời sống công cộng”; điều 50 : “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng”; điều 53 : “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và Xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả Nước và địa phương”; điều 69 : “Công dân có Quyền Tự do Ngôn luận… có Quyền Hội họp, Lập hội, Biểu tình…”

            3- Hiến chế Mục vụ của Công đồng chung Vaticanô II của Giáo hội Công giáo hoàn cầu năm 1965, số 73 : “Nhờ ý thức mãnh liệt hơn về phẩm giá con người, ngày nay tại nhiều Nước trên thế giới, người ta cố gắng thiết lập một thể chế chính trị pháp lý để bảo vệ hữu hiệu hơn quyền lợi của cá nhân trong đời sống công cộng, chẳng hạn quyền được tự do hội họp, tự do lập hội, tự do phát biểu ý kiến và tự do tuyên xưng tín ngưỡng cách riêng tư hoặc công khai ; vì việc đảm bảo những quyền lợi của con người là điều kiện thiết yếu để người Công dân, với tư cách cá nhân hay đoàn thể, có thể tham gia cách tích cực vào đời sống và vào guồng máy quốc gia… Trái lại người ta lên án bất cứ thể chế chính trị nào, như hiện có ở một vài Nước, nếu nó ngăn cản quyền tự do công dân hoặc tín ngưỡng, nếu nó làm gia tăng con số các nạn nhân của tham lam và của tội ác chính trị, nếu nó làm cho việc cai trị đi lệch đường, thay vì mưu cầu công ích lại phục vụ cho một tập đoàn hay chính những người cầm quyền”; số 75 : “Tất cả mọi Kitô hữu phải ý thức về sứ mệnh đặc biệt của mình trong cộng đoàn chính trị… Trong việc tổ chức trần thế, họ phải nhìn nhận những quan điểm chính đáng dầu đối chọi nhau… Họ phải chống lại bất công và áp bức, chống độc tài và ngoan cố của một cá nhân hay một đảng phái chính trị… (bởi lẽ) những đảng phái chính trị có bổn phận cổ võ những gì họ xét thấy cần cho công ích, chứ không bao giờ được đặt quyền lợi riêng trên công ích.”

            4- Thực tế chung trên toàn cầu : Tuyệt đại đa số các Quốc gia đều có một nền chính trị đa nguyên đa đảng, một bầu khí cạnh tranh chính trị công khai lành mạnh qua bầu cử và sinh hoạt chính trị dân chủ bình đẳng trong nghị trường. Đảng thắng cử lên cầm quyền và đảng thất cử trở thành đối lập, hai bên giám sát lẫn nhau và như thế tương trợ nhau, đang khi lập pháp, tư pháp, hành pháp, rồi báo chí, quân đội, tôn giáo đều hoạt động độc lập, tất cả chỉ vì ích lợi Nước nhà. Mọi Công dân có tài năng và thiện chí tại các Nước đó đều có cơ hội phục vụ công ích và xây dựng Quốc gia qua các chính đảng. Nhờ thế mà các Nước ấy nói chung đều phát triển kinh tế, ổn định xã hội, bảo đảm các nhân quyền ; mọi cá nhân đều có cơ hội thăng tiến, mọi cộng đoàn đều có điều kiện triển nở và mọi vấn đề xã hội đều nhanh chóng tìm ra được cách giải quyết. Tuy chưa hoàn hảo, nhưng các xã hội đa nguyên đa đảng ấy đã bao hàm các khả năng cần thiết để sửa sai, đổi mới và hoàn thiện.

            5- Thực tế riêng tại Việt Nam : Đảng Cộng sản là đảng độc quyền duy nhất từ hơn nửa thế kỷ qua tại miền Bắc và hơn 30 năm trên cả Nước. Tuy chỉ là một chính đảng nhưng vì hoàn toàn dựa trên học thuyết Mác-Lênin nên đảng Cộng sản chủ trương toàn trị, nghĩa là độc tài thống trị mọi mặt của đời sống cá nhân lẫn cộng đồng, từ ý thức, tâm linh, tư tưởng, tình cảm đến kinh tế, chính trị, văn hóa, pháp luật... Học thuyết Mác-Lênin lại chủ trương vô thần trên phương diện triết lý, độc đảng trên phương diện chính trị và xã hội chủ nghĩa trên phương diện kinh tế như một chân lý vĩnh viễn bất khả nhượng, trói buộc mọi Công dân.

            Thành ra đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang đầu độc lương tri và cưỡng bức lương tâm con người, nhào nặn Nhân dân thành những thần dân hoàn toàn quy phục đảng qua việc độc quyền thông tin và giáo dục ; đã tiêu diệt các đảng phái quốc gia khác từng sát cánh kháng cự thực dân và đang cấm cản các đảng phái chính trị khác bằng điều 4 Hiến pháp năm 1992 ; đã và đang bách hại các tôn giáo, biến tòa án, quốc hội, chính quyền, báo chí, công an, quân đội, thậm chí các giáo hội thành công cụ cho riêng mình ; đã và đang đặt mọi luật lệ từ Hiến pháp đến các bộ luật, pháp lệnh, nghị quyết, thông tư… dưới ý muốn độc đoán của đảng, của bộ chính trị, thậm chí của vài nhân vật quyền uy nhất trong đảng ; đã và đang quản lý điều hành một nền kinh tế tư bản gian trá và khập khiễng vì mê muội, ngoan cố, gượng ép kéo theo “định hướng xã hội chủ nghĩa” tai quái và không tưởng.

            Bởi thế, hiện trạng Việt Nam là sự hư hỏng lương tâm, tồi tệ nhân cách, bế tắc giáo dục, gian dối thông tin, tùy tiện luật pháp, hỗn loạn xã hội ; là cán bộ đảng viên lộng quyền và tham nhũng tràn lan và ngang nhiên ; là Nhân dân bị bóc lột tài sản và công sức, bị hăm dọa cuộc sống và nghề nghiệp ; là dân tình điêu đứng và phẫn uất ; là giới trẻ mất niềm tin, lý tưởng sống và định hướng tương lai ; là các tôn giáo bị lũng đoạn và tước đoạt ; là đồng bào hải ngoại ngao ngán và bất hợp tác ; là biên cương Tổ quốc bị ngoại bang lấn chiếm và đe dọa ; là chính thể bị phê phán lạc hậu, độc tài và Quốc thể bị coi thường ; là Đất nước thụt lùi tụt hậu thậm chí tới cả trăm năm so với nhiều Nước trong khu vực. Các bảng xếp hạng mọi mặt trong đó Việt Nam luôn đứng bậc thấp và các bản báo cáo tình hình trong đó Việt Nam luôn bị điểm mặt do các Chính phủ và Tổ chức Quốc tế công bố hằng năm là những bằng chứng. Mọi biện pháp do đảng Cộng sản đưa ra đều mang tính chắp vá, nửa vời, nhằm xoa dịu Nhân dân và che mắt Quốc tế, chẳng hề giải quyết được chuyện gì. Tất cả chỉ vì độc đảng, mà lại độc đảng Mác xít cộng sản !

            Đứng trước thảm trạng và nguy cơ đó, cũng như trước viễn ảnh đại hội X của đảng Cộng sản Việt Nam sẽ mù quáng kiên trì học thuyết Mác-Lênin sai lầm và chế độ xã hội chủ nghĩa phá sản, đồng thời cho đảng viên chức quyền được làm kinh tế không giới hạn quy mô, chúng tôi tha thiết và đồng thanh lên tiếng :

            1- Đòi buộc đảng và nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam trước hết phải lập tức hủy bỏ điều 4 Hiến pháp năm 1992, một điều khoản tai quái, ngang ngược không hề có trong một bản Hiến pháp nào trên thế giới, ngoại trừ Hiến pháp Liên xô (điều 6) vốn đã bị nhân dân Nga vất vào sọt rác lịch sử ; tiến đến việc thay thế bản Hiến pháp xã hội chủ nghĩa năm 1992 bằng một Bản Hiến pháp khác văn minh dân chủ hơn. Thứ đến phải phi đảng hóa quốc hội, tòa án, nhà nước, quân đội, công an, trường học, bệnh viện, công ty, xí nghiệp, hội đoàn,…

            2- Kính mời các Đảng phái Dân chủ đang hoạt động âm thầm tại Quê hương hãy can đảm xuất hiện hoạt động công khai ; hãy hiên ngang tự xác lập vị trí của mình trước Quốc Dân, không cần đợi Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam độc đoán lạm quyền “cho phép”, vì chẳng một đảng nào được lạm quyền ban phép cho đảng khác hoạt động cả ; hãy kiên cường cạnh tranh bình đẳng với đảng Cộng sản, không chấp nhận tỷ lệ dưới 50% trong Quốc hội mà đảng CS có thể sẽ thí ban cho để chỉ làm bù nhìn trang trí cho một nền dân chủ giả hiệu mà thôi, vì chính toàn Dân sẽ quyết định tỷ lệ này qua một cuộc bầu cử và ứng cử tự do, công bằng, minh bạch. Hiện nay hàng trăm cá nhân đã minh danh trực diện đấu tranh cho Dân chủ với nhà cầm quyền cộng sản nguyên chỉ bằng các phương cách ôn hòa ; và nhà cầm quyền cộng sản đã tỏ ra rất lúng túng bế tắc không sao tìm ra cách đối phó hợp tình hợp lý giữa cộng đồng quốc tế. Vì thế lúc nầy chính là lúc hoàn toàn thích hợp, nếu không sẽ quá muộn, để Quý Đảng phái Dân chủ cùng nhau công khai trực diện  đấu tranh với đảng cộng sản đang càng lúc càng lún sâu vào khủng hoảng không lối thoát.

            3- Kính mời các đảng viên cộng sản phản tỉnh hãy hành động quyết liệt là tách rời ngay lập tức thực thể chính trị đã phản bội lý tưởng của mình, đã lợi dụng công sức xương máu của mình, đã gần một thế kỷ không chỉ mắc phải sai lầm khiếm khuyết mà là đã phạm tội ác có hệ thống và tổ chức, như Nghị quyết 1481 của Nghị viện Hội đồng Âu châu lên án ngày 25-01-2006 vừa rồi. Đó là cách thức duy nhất và tốt nhất để Quý vị tiếp tục con đường yêu Nước, phục vụ Đồng bào, lấy lại thanh danh của mình trước Nhân dân và lịch sử.

            4- Kính mời Đồng bào toàn quốc hãy bảo vệ, hỗ trợ và gia nhập các đảng tân lập phi cộng sản. Làm thế là chúng ta tự giải thoát mình khỏi ách độc tài đã đè đầu đè cổ Dân ta từ hơn 60 năm qua, là thực thi các quyền dân sự và chính trị cơ bản của mình hầu tạo điều kiện cho Đất nước phát triển như mọi Nước có nền chính trị đa nguyên, đa đảng.

            5- Yêu cầu 2 lực lượng Quân đội và Công an cảnh sát hãy ý thức rằng tự bản chất mình là 2 thực thể phục vụ Nhân dân và công ích, luôn đứng bên ngoài mọi tranh chấp đảng phái, chứ không phải là công cụ của riêng đảng Cộng sản, để đảng tiếp tục sai khiến mà đàn áp Nhân dân đang đòi thực thi quyền đa nguyên chính trị và các quyền chính đáng khác đi kèm.

            6- Kính xin các nhà trí thức và các bậc tu hành vốn hiểu hơn ai hết về tai họa của độc đảng độc tài và thiện ích của đa nguyên dân chủ, hãy “hết sức quan tâm đến việc giáo dục cả về công dân cả về chính trị mà ngày nay rất cần thiết cho mọi người, nhất là cho giới trẻ”, hãy dùng quyền lực và khả năng tinh thần của mình để hướng dẫn, hỗ trợ, bênh vực những Công dân dấn thân làm “chính trị, một nghệ thuật khó khăn nhưng đồng thời rất cao cả” (Công đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ, số 75).

            7- Kính xin Đồng bào hải ngoại và các Chính phủ, Tổ chức Quốc tế hãy hỗ trợ bằng mọi cách thức, phương tiện để các đảng tại Việt Nam được thành hình và hoạt động, hầu Nhân dân Việt Nam cũng được hưởng bầu khí tự do chính trị như ở những miền đất dân chủ của Quý vị. Điều này quan trọng và cần thiết hơn việc đổ tiền của qua kiều hối và ngoại viện cho một chính quyền độc đảng vốn sẽ tuỳ tiện sử dụng những ngân khoản này hầu duy trì quyền lực, gia tăng quyền lợi và để lại những món nợ quốc tế ngày càng đè nặng lên Nhân dân Việt Nam như hiện trạng cho thấy.

            Chúng tôi nguyện xin Ơn Trên, qua lời chuyển cầu của các Bậc Tiền nhân vốn từng dạy dỗ con cháu Lạc Hồng tinh thần bao dung hòa hợp, chúc lành cho toàn thể Dân Việt trong công cuộc bẻ gãy ách độc đảng độc tài và xây dựng nền chính trị đa đảng đa nguyên là giải pháp cứu nguy Dân tộc duy nhất thích hợp hiện nay.  

Cùng kêu gọi và cùng ký tên tại Việt Nam ngày 06-4-2006

& lặp lại lần 2 ngày 30-4-2006

1. Bs Nguyễn Xuân An, Huế                                              2. Gv Đặng Hoài Anh, Huế

3. Gv Đặng Văn Anh, Huế                                                 4. Bs. Lê Hoài Anh, Nha Trang

5. Gs Nguyễn Kim Anh, Huế                                              6. Gs Nguyễn Ngọc Anh, Đà Nẵng

7.Dn Cai Viết Bản, Sài Gòn                                                8. Nv Trịnh Cảnh, Vũng Tàu

9. Lm F.X. Lê Văn Cao, Huế                                             10. Gv Lê Cẩn, Huế

11. Lm Giuse Hoàng Cẩn, Huế                                           12. Gv Trần Thị  Minh Cầm, Huế

13. Lm Giuse Nguyễn Văn Chánh, Huế                               14.Gv Nguyễn Thị Linh Chi, Cần Thơ

15. Gs Hoàng Minh Chính, Hà Nội                                      16.Gv Nguyễn Viết Cử, Quảng Ngãi

17. Ths Đặng Quốc Cường, Huế                                         18. Nv Nguyễn Đắc Cường, Phan Thiết

19. Dn Hồ Ngọc Diệp, Đà Nẵng                                         20. Ks Phạm Doãn, Sài Gòn

21. Gv Trần Doãn, Quảng Ngãi                                           22. Lê Thị Phú Dung, Sài Gòn

23. Gv Hồ Anh Dũng, Huế                                                 24. Nv Lê Tấn Dũng, Sóc Trăng

25. Gs Trương Quang Dũng, Huế                                        26. Bs Hà Xuân Dương, Huế

27. Cựu Đại tá Phạm Quế Dương, Hà Nội                           28. Ls Nguyễn Văn Đài, Hà Nội

29. Hoàng Thị Anh Đào, Huế                                             30. Kt Trần Văn Đón, Phan Thiết

31. Bs Hồ Đông, Vĩnh Long,                                               32. GV Hồ Đông, Vinh

33. Lm Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Huế                                  34. Dn Trần Văn Ha, Đà Nẵng

35. Ks Hoàng Minh Hà, Hải Phòng                                     36. Gv Hoàng Nhân Hà, Huế

37.Gv Lê Thị Bích Hà, Cần Thơ                                         38. Gs Lê Hữu Hà, Hải Phòng

39. Bs Lê Thị  Ngân Hà, Huế                                             40. Gv Lê Nguyễn Xuân Hà, Huế

41. Vũ Thuý Hà, Hà Nội                                                    42. Ks Đỗ Nam Hải, Sài Gòn           

43. Gv Trần Thạch Hải, Hải Phòng                                     44. Kt Trần Việt Hải, Vũng Tàu

45. Ks Đoàn Thị Diệu Hạnh, Vũng Tàu                               46. Dn Nguyễn Thị Hạnh, Đà Nẵng

47. Gv Phan Thị Minh Hạnh, Huế                                       48. Gs Đặng Minh Hảo, Huế

49. Nv Trần Hảo, Vũng Tàu                                               50. Nhà văn Trần Mạnh Hảo, Sài Gòn

51. Gv Lê Lệ Hằng, Huế                                                    52. Lm Giuse Nguyễn Đức Hiểu, Bắc Ninh

53. Trần Mai Hoa, Huế                                                      54. Dn Trần Thị Hoa, Kiên Giang

55. Ks Trần Hoàn, Vinh                                                     56. Yt Chế Minh Hoàng, Nha Trang

57. Gv Văn Đình Hoàng, Huế                                             58. Gv Nguyễn Thị Bích Hồng, Vinh

59. Bs Lê Hùng, Hà Nội                                                     60. Gv Lê Thu Minh Hùng, Sài Gòn

61. Dn Ma Thanh Hùng, Vinh                                             62. Gs Nguyễn Minh Hùng, Huế

63. Lm Gk Nguyễn Văn Hùng, Huế                                    64. Trần Hùng, Huế

65. Gv Trần Đình Hùng, Sóc Trăng                                     66. Dn Trần Văn Hùng, Huế

67. Gv Phan Ngọc Huy, Huế                                              68. Gv Lê Thị Thanh Huyền, Huế

69. Ks Đặng Văn Hưng, Kiên Giang                                   70. Gv Đỗ Thị Minh Hương, Huế

71. Ths Mai Thu Hương, Hải Phòng                                    72. Yt Trần Thu Hương, Đà Nẵng

73. PTs Nguyễn Ngọc Kế, Huế                                          74. Gs Nguyễn Chính Kết, Sài Gòn

75. Ths Nguyễn Quốc Khánh, Huế                                      76. Nv Nguyễn Thị Kim Khánh, Kiên Giang

77. Gv Nguyễn Đăng Khoa, Huế                                         78. Cựu Thiếu tá Vũ Kính, Hà Nội    

79. Dn  Đỗ Trần Kỳ, Hải Phòng                                          80. Nguyễn Thị Ngọc Lan, Cần Thơ

81. Dn Đỗ Lành, Sài Gòn                                                    82. Nv Bùi Lăng, Phan Thiết

83. Nv Đoàn Lân, Sóc Trăng                                              84. Gv Tôn Thất Hoàng Lân, Sài Gòn

85. Nv Hồ Liêm, Hà Nội                                                    86. Hội trưởng PGHHTT Lê Quang Liêm, SGN

87. Gv Bùi Quang Linh, Sài Gòn                                          88. Gv Nguyễn Mỹ Linh, Hà Nội

89. Bs Vũ Thị Hoa Linh, Sài Gòn                                        90. Gv Hồ Thị Hồng Loan,  Đồng Nai

91. Dn Nguyễn Thị Minh Loan, Huế                                    92. Dn Trần Thị Bích Loan, Hải Phòng

93. Nguyễn Thanh Long, Huế                                             94. Ms Trần Long, Sài Gòn

95. Lm  G.B. Nguyễn Cao Lộc, Huế                                   96. Lm Phêrô Phan Văn Lợi, Huế

97. Gv Ma Văn Lựu, Hải Phòng                                          98. Gv Nguyễn Văn Lý, Hải Phòng

99. Gv Nguyễn Văn Lý II, Hải Phòng                                  100. Lm Tađêô Nguyễn Văn Lý, Huế

101. Gv Cái Thị Mai, Hải Phòng                                          102. Gv Cao Thị Xuân Mai, Huế

103. Gv Nguyễn Văn Mai, Sài Gòn                                      104. Ms Trần Mai, Sài Gòn

105. Nv Hà Văn Mầu, Cần Thơ                                          106. Gv Phan Văn Mậu, Huế

107. Nv Lê Thị Thu Minh, Cần Thơ                                    108. Gv Ma Văn Minh, Huế

109. Gv Nguyễn Anh Minh, Sài Gòn                                    110. Gs Nguyễn Bình Minh, Hà Nội

111. Bs Lê Thị Thanh Nga, Sài Gòn                                    112. Bùi Kim Ngân, Hà Nội

113. Ths Đặng Hoài Ngân, Huế                                          114. Lm G.B. Lê Văn Nghiêm, Huế

115. Dn Đình Văn Nhân, Kiên Giang                                   116. Dn Vũ Văn Nhân, Sóc Trăng    

117. Bs Huyền Tôn Nữ Phương Nhiên, Đà Nẵng                 118. Ms Ngô Hoài Nở, Sài Gòn

119. Gv Lê Hồng Phúc, Hải Phòng                                      120. Lm Đa Minh Phan Phước, Huế 

121. Ks Võ Lâm Phước, Sài Gòn                                        122. Lm Giuse Cái Hồng Phượng, Huế

123. Ms Nguyễn Hồng Quang, Sài Gòn                               124. Ks Tạ Minh Quân, Cần Thơ

125. Lm Augustinô Hồ Văn Quý, Huế                                 126. Lm Giuse Trần Văn Quý, Huế

127. Bs Võ Văn Quyền, Vĩnh Long                                     128. Bs. Trần Thị Sen, Nha Trang

129. Cư sĩ PGHHTT Lê Văn Sóc,Vĩnh Long                       130. Ks Hoàng Sơn, Hải Phòng

131. Lm Phaolô Ngô Thanh Sơn, Huế                                 132. Gv Hoàng Trọng Sĩ, Đồng Nai

133. Trần Sĩ, Huế                                                               134. Dn Lê Thanh Sô, Hà Nội

135. Gs Nguyễn Anh Tài, Đà Nẵng                                     136. Ks Đỗ Hồng Tâm, Hải Phòng

137. Gs Nguyễn Thành Tâm, Huế                                       138.  Bs. Tạ Minh Tâm, Cần Thơ

139. Gv Tôn Nữ Thanh Tâm, Sóc Trăng                              140. Ms Phạm Ngọc Thạch, Sài Gòn

141. Nv Ma Văn Thanh, Kiên Giang                                   142. Gv Nguyễn Bình Thành, Huế

143. Gv Văn Bá Thành, Huế                                               144. Gv Trần Thị Minh Thi, Huế

145. Ks Huỳnh Ngọc Thiện, Sóc Trăng                               146. Cư sĩ PGHHTT Nguyễn Văn Thơ, Đồng Tháp

147. Ths Trần Mạnh Thu, Hải Phòng                                   148. Lê Thị Thanh Thuý, Huế

149. Gv Lê Thị Thanh Thuý II, Huế                                    150. Gs Ts Trần Hồng Thư, Sài Gòn

151. Lê Phương Thy, Huế                                                  152. Nhà văn Hoàng Tiến, Hà Nội

153. Cựu SQ Trần Dũng Tiến, Hà Nội                                 154. Lm Têphanô Chân Tín, Sài Gòn

155. Gv Nguyễn Khắc Toàn, Hà Nội                                   156. Bs Võ Toàn, Kiên Giang

157. Nv Tôn Nữ Minh Trang, Phan Thiết                             158. Dn Hà Vũ Tránh, Kiên Giang

159. Gv Chế Thị Hồng Trinh, Huế                                       160. Nv Hoàng Trong, Hải Phòng

161. Lm P. Tống Thanh Trọng, Huế                                    162. Bs Nguyễn Anh Tú, Đà Nẵng   

163. Bs Đoàn Minh Tuấn, Sài Gòn                                      164. Gv Lê Trí Tuệ, Hải Phòng

165. Bs Đoàn Thanh Tùng, Sài Gòn                                     166. Trần Thị Hoài Vân, Nha Trang

167. Gv Ngô Thị Tường Vi, Quảng Ngãi                              168. Ks Đỗ Thành Vinh, Hải Phòng

169. Gv Nguyễn Lê Xuân Vinh, Cần Thơ                            170. Ths Hồ Ngọc Vĩnh, Đà Nẵng    

171. Ks Lâm Đình Vĩnh, Sài Gòn                                        172. Nv Lại Văn Xê, Hà Nội

173. Bs Nguyễn Thị Yến, Vinh                                           174. Gv Nguyễn Thị Yến, Huế