Đối Thoại          Website: Doi-Thoai.com         Email: toasoandoithoai@yahoo.com

 

 

TÌNH TRẠNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM(kỳ 2)

 

Ðối Thoại :

Ðối Thoại kính giới thiệu đến độc giả bài chuyển dịch “Tình Trạng Tham Nhũng ở VN”( Corruption in VietNam   cuả Yoshiharu Tsuboi (Waseda University)) Bản chuyển ngữ  do Tường Vân (VN) dành cho độc giả Ðối Thoại và sẽ dược chia thành nhiều kỳ để độc giả để tiện theo dõi. Ðối Thoại xin cám ơn độc giả Tường Vân

 

Đối Thoại đã đưa vào web Đối Thoại 2kỳ (kỳ 1 &2).Sau khi chuyển dịch toàn bộ bài “Corruption in VN”, người chuyển dịch Tường Vân đã có thì giờ xem lại, đề nghị một vài sửa đổi để bài chuyển dịch được thông thoáng hơn. Đối Thoại xin gởi lại độc giả từ đầu 

TÌNH TRẠNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM(kỳ 1)

 

 

2) Những Nổ lực Cải cách

Do có những áp lực trong và ngòai nước như kể trên, sau khi đưa ra Kinh tế Thị trường, nhiều hình thái cải cách khác nhau tiếp tục được đề xuất và đã được thực hiện. Thời gian từ 1986 đến 1990 có những cải cách ban đầu, diễn ra trước trong lãnh vực kinh tế, tài chính, đáp ứng quá trình chuyển đổi từ Kinh tế Kế họach sang Kinh tế Thị ttrường. Sau những cải cách này, tạm cho là thành công, kiểm sóat được lạm phát, thì một số cải cách chính trị và xã hội cũng dần được thực hiện, ở cấp làng xã, như chọn trực tiếp chủ tịch xã. Làn sóng cải cách cũng đưa các tầng lớp khác tìm kiếm ghế trong Quốc hội.

Đồng thời luật Quốc hội ra đời, cũng tạo nhiều chức năng hơn cho Quốc hội ngày nay, tiền thân là “Đại hội Đại biểu Nhân dân” trước đây, vốn có mỗi việc là răm rắp tuân theo Đảng.

Người ta nhận thấy cần người có năng lực vào Quốc hội, vì đây là cơ quan lập pháp, và cần truyền hình trực tiếp những phiên thảo luận  ở Ủy ban Thường vụ hay Đại hội đồng.

 

Trong những cải cách vừa kể, đặc biệt còn có cải cách gia tăng tính Công khai minh bạch và tính Hành chính hiệu quả, và người ta đã thực hiện tại nhiều nơi trong các cơ quan chính phủ.

Để bảo đảm có một đường lối quản lý mới gần dân hơn, năm 1993, “Ủy ban Thực hiện Cải cách hành chính” ra đời, trực thuộc Thủ tướng.  Nắm quyền điều hành là Ủy Ban Nhà Nước phụ trách Nhân Sự và Tổ Chức, hay  “Government Committee on Organization and Personnel- GCOP” – tương tự như  “National Personnel Authority-JNPA” của Nhật Bản.

Đáp lại lời kêu gọi của UNDP, các nước Nhật, Hà Lan, Canada, Thụy Điển, Đức và Na-Uy đã tài trợ đóng góp cho công cuộc Cải cách Hành chính này trong thời hạn 5 năm, thực hiện từ  1994 đến 1999.

Chương trình này nhắm đến các mục tiêu sau:

1) Chuẩn bị cho Hành chính trung ương đi cùng cải cách kinh tế,

2) Cải thiện phẩm chất và năng lực làm việc  cho công chức,

3) Củng cố các cấp Hành chính địa phương  (riêng mục này có riêng một báo cáo chi tiết hơn, nên ở đây xin không đi sâu)

 

Người ra nói rằng trong chương trình Cải cách Hành chính ở tỉnh Quảng Bình, nơi chính phủ Hà Lan đóng góp 1 triệu USD, có   40% trong số tiền này đã bị xài phá lãng phí. Hai trong nhiều vụ xài phá đó là: một, chi 60,000 USD cho chương trình học tiếng Anh ở Hà Nội. Nhưng khi người ta kiểm tra đánh giá trình độ lúc kết thúc chương trình tài trợ này, thì kết quả là không có viên chức nhà nước Quảng Bình nào đậu nổi bậc học tiếng Anh sơ cấp; hai, chi 150,000 USD cho khóa huấn luyện cán bộ địa phương. Nhưng kết quả thừa nhận trong báo cáo đúc kết chương trình là: “đã có một món trợ cấp tài chính cá nhân rất đáng kể cho cả cơ quan nhà nước tổ chức chương trình này với những người tham gia chương trình”

 

Công cuộc Cải cách Hành chính ở VN không nằm ngòai một vấn đề cấu trúc rộng lớn hơn rất nhiều. Đó là Đảng CS VN muốn lấy lòng dân thông qua nền hành chính thông suốt hiệu quả và qua đội ngũ công chức trong sạch không vướng tham nhũng. Có như vậy, Đảng mới có lý do chính đáng để biện minh cho việc “độc đảng” liên tục lãnh đạo của mình.

 

Vấn nạn tham nhũng lan tràn và hành chính vô hiệu quả có thể đưa tới sự sụp đổ chế độ chính trị của Đảng, nên công cuộc cải cách là rất cần thiết cho quyền bính của Đảng. Nói cách khác, cải cách mạnh có thể dẫn tới làn sóng chỉ trích mạnh ngược vào Đảng, mạnh sẽ nguy cho Đảng. Do đó, Đảng muốn kềm giữ  công cuộc cải cách hành chính ở mức  “vừa vừa”. Mở đủ rộng để đủ có lợi cho việc củng cố thể chế mà thôi.

Thêm nữa, trong quá trình thực hiện Cải cách Hành chính ở VN, nếu không có các hình thức trợ cấp phúc lợi cho các đảng viên đang làm việc trong các cơ quan hành chính, sẽ khó thúc đẩy tiến trình cải cách đi tới. Trợ cấp phúc lợi đó là tài chính hay dưới các hình thức khác. Nếu không, người ta đành chấp nhận, ở mức nào đó, nạn biển thủ, nạn tham lạm công quỹ như là một tệ nạn. Nhưng là tệ nạn cần thiết !

 

Về phía cơ quan Liên Hiệp Quốc UNDP,  họ cũng thấy khó xử , “tiến thóai lưỡng nan”.  Là cơ quan chuyên trách của LHQ, đóng vai trò hổ trợ các quốc gia đang phát triển, UNDP không còn lý do có mặt ở đây nếu như không có kế họach thực  hiện vài dự án cụ thể nào đó. Nên văn phòng UNDP ở VN  cần duy trì quan hệ hợp tác với nhà nước VN. Họ phải chấp thuận duyệt những chính sách căn bản của chính phủ cho dù tán thành hay không tán thành.  Không có lựa chọn nào khác cho UNDP ngòai công việc thực hiện vai trò của một cơ quan “Hổ Trợ Kỹ Thuật” trong khuôn khổ như vậy.

 

Vấn đề cải cách hành chính tưởng đâu chỉ thuần túy kỹ thuật và có vẽ trung lập, vậy mà lại rất có dính líu với chính trị. Giữa 2 bên không phải là không có mâu thuẫn, và tất nhiên, đã có những đối đầu không tránh được xảy ra giữa UNDP và chính phủ VN. Vì công cuộc Cải cách Hành chính, Chính phủ VN đã theo UNDP, nhưng cũng có thể ngưng ngang. Nếu vậy thì những gì cả hai đang theo đuổi như: sự nhận thức đầy đủ về một nền Hành chính hiệu quả và công bằng cho mọi người; công chức không tham nhũng; tiến tới xóa sạch công chức tham nhũng...Tất cả, sẽ không đạt được gì. 

Một vấn đề nữa là quyết tâm chỉ cải cách… “trung bình” của chính phủ VN. Trung bình là chỉ mở rộng đủ để cầm quyền, là duy trì nhà nước độc đảng lãnh đạo. Cải cách vượt trung bình có hại hơn là có lợi cho Đảng.

Đó là mâu thuẫn về lợi ích mà hai vị thế đối lập trên không tránh được.

 

(Xem tiếp kỳ 3)