Đối Thoại          Website: Doi-Thoai.com         Email: toasoandoithoai@yahoo.com


Thư gởi. .. của Ông Lê Hồng Hà

 

Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2007

 

                               Bạn Tùng thân mến,

 

Bạn muốn hỏi tôi có ý kiến gì về công tác lý luận hiện nay qua Hội nghị của Hội đồng lý luận TW họp trong 2 ngày 24 và 25/3 vừa rồi ư? Bạn đang cần suy nghĩ để góp ý với lãnh đạo ư ?

Vì quá nể bạn, nên tôi phải mất công đi tìm đọc các tài liệu của Hội nghị (bài của ô. Nông Đức Mạnh và ô. Tô Huy Rứa). Đọc xong, tôi rất buồn vì thấy cách đặt vấn đề, quy định hướng nghiên cứu, và tổ chức lực lượng nghiên cứu đều sai, và khó mà trông mong có kết quả gì trong những năm tới.

Tôi cũng định không viết thư trả lời bạn, vì sợ ý kiến của tôi sẽ dội một gáo nước lạnh cho bạn, vì tôi thấy bạn vẫn muốn giữ vị thế giáo sự Mác-xít-lêninnít của mình. Nhưng vì tình bạn, và vì sự nghiệp tư duy lý luận  của dân tộc, tôi thấy nên phát biểu với bạn 1 cách trung thực để bạn tham khảo và đề nghị giữ nguyên tình bạn thân thương:

I. Theo cách quan sát của tôi trông đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta suốt trong mấy chục năm qua cho tới nay, đã và đang diễn ra hai khu vực hoạt động lý luận:

1/ Khu vực I của các nhà lý luận  Mác xít-lêninnít chính thống (ở đây chỉ mời những nhà lý luận  có đồng quan điểm với chủ tịch Hội đồng lý luận đương chức). Còn với những cán bộ, đảng viên dù là lão thành, dù kinh qua các cương vị lãnh đạo cao trước kia, nhưng quan điểm không giống ông chủ tịch, cũng bị gạt ra ngoài.

2/ Khu vực II (tôi tạm gọi là phi chính thống) của các trí thức trong nước (trong đó có không ít đảng viên ĐCS)  nhưng không thuộc về nhóm lý luận gia của khu vực I và không ít các trí thức ở ngoài nước.

Hiện nay tôi chưa đủ điều kiện để lập danh sách các trí thức Việt Nam  ở ngoài nước, nên chỉ tạm nêu lên 1 danh sách rất không đầy đủ các trí thức trong nước thuộc khu vực II:

Danh sách những người thuộc khu vực II (ghi 1 cách nhớ đâu ghi đấy và chắc còn quên  nhiều người nữa).

 

TT

Họ và tên

 

TT

Họ và tên

1.

Nguyễn Khắc Viện

 

51.

Lê Tiến

2.

Lê Giản

 

52.

Hồng Quang

3.

Hoàng Hữu Nhân

 

53.

Đỗ Nam Hải

4.

Trần Độ

 

54.

Nguyễn Văn Đài

5.

Nguyễn Văn Trấn

 

55.

Phạm Như Cương

6.

Ngô Thức

 

56.

Nguyễn Mạnh Huấn

7.

Lữ Phương

 

57.

Lưu Văn Đạt

8.

Nguyễn Hộ

 

58.

Chân Tín

9.

Đặng Văn Việt

 

59.

Trần Khuê

10.

TRần Nhật Độ

 

60.

Vũ Cao Quân

11.

Thích Quảng Độ

 

61.

Hữu Phong

12.

Đặng Quốc Bảo

 

62.

Nguyễn Xuân Nghĩa

13.

Phan Đình Diệu

 

63.

Đỗ Trung Hiển

14.

Phạm Khiêm ích

 

64.

Nguyễn Thiện Tâm

15.

Tương Lai

 

65.

Bùi Ngọc Tấn

16.

Vũ Đình Hoè

 

66.

Bùi Minh Quốc

17.

Nguyễn Quang A

 

67.

Mạnh Sơn

18.

Sơn Tùng

 

68.

Việt Sơn

19.

Nguyễn Lan Quế

 

69.

Hà Phương

20.

Hà Sĩ Phu

 

70.

Dậu Quý Hạ

21.

Hoàng Minh Chính

 

71.

Du Lan

22.

Trần Lâm

 

72.

Phí Văn Bái

23.

Trương Triệu Vũ

 

73.

Trần Kiến Quốc

24.

Trần Văn Hà

 

74.

Lê Kiến Thành

25.

Trần Đại Sơn

 

75

Nguyễn Khắc Toàn

26.

Nguyên Ngọc

 

76.

Vũ Minh Ngọc

27.

Hoàng Tụy

 

77.

Nguyễn Thanh Giang

28.

Nguyễn Văn Chiển

 

78.

Hoàng Tùng

29.

Hoàng Tiến

 

79.

Đoàn Duy Thành

30.

Nguyễn Vũ Bình

 

80.

Phạm Nguyên Long

31.

Phạm Quế Dương

 

81.

Ngô Thong

32.

Lê Đăng Doanh

 

82.

TRần Bá

33.

Đào Xuân Sâm

 

83.

Lê Thị Công Nhân

34.

Vũ Quốc Tuấn

 

84.

Nguyễn Văn Bé

35.

Đào Thế Tuấn

 

85.

Nguyễn Phương

36.

Nguyễn Trung

 

86.

Phương Anh

37.

Phan THế Hải

 

87.

Thanh Thuỷ

38.

Phạm Chi Lan

 

88.

Trung Linh

39.

Nguyễn Sĩ Dũng

 

89.

Đỗ Anh Kim

40.

Dương Trung Quốc

 

90

Nguyễn Lân Dũng

41.

Minh Đường

 

91.

Hoàng Nguyên

42.

Phạm Hồng Sơn

 

92.

Trần Đức Nguyên

43.

Lê Chí Quang

 

93.

Cù Huy Hà Vũ

44.

TRần Quốc Thuận

 

94.

Lê Công Định

45.

Phạm Hồng Đức

 

95.

Mai Chí Thọ

46.

Trân Thị Ngọc Sương

 

96.

Võ Văn Kiệt

47.

Phan Ngọc Uyển

 

97.

Trần Ban Đăng

48.

Nguyễn Khắc Mại

 

98.

Lê Mai Anh

49.

Trần Đình Thiên

 

99.

Lê Văn Tuyến

50.

Lê Cao Đoàn

 

100.

101.

102.

Phan Ngọc

Mai Thái Lĩnh

Tiêu Dao Bảo Cự

 v.v.....

          Lâu nay chỉ khu vực I mới được đưa tin, có tuyên truyền, có ra báo, tạp chí, có xuất bản phẩm. Riêng về khu vực II lâu coi như không tồn tại, không có ai tổng hợp, thông tin và kỳ này, tôi thử bàn tới khu vực II.

          II. Thử nêu lên 1 vài nhận xét đồi với hoạt động của khu vực I.

          1. Lâu nay chỉ có khu vực này mới được thừa nhận là hoạt động lý luận, mới có tổ chức, có chương trình, có dự án, có kế hoạch, có huy động lực lượng, có nghiệm thu, có xuất bản, và có kinh phí do ngân sách chi đầy đủ.

          2. Những thành tựu có tính chất tinh tuý nhất trong 10 năm trước đây được cô đọng đầy đủ trong 4 tác phẩm nổi tiếng dưới đây:

          a/ “Lẽ phải của chúng ta” của Hội đồng lý luận Trung ương (khoá IX) (in xong tháng 11/2004).

                  b/ “Vững bước trên con đường đã chọn” của Hội đồng Lý luận         TW khoá IX (in xong tháng 12/2004)

          c/ “Nhận dạng các quan điểm sai trái thù địch của Ban tư tưởng văn hoá TW (in xong quý I/2005 – in 10.000 cuốn.

          d/ Báo cáo Tổng kết 20 năm đổi mới (1986-2005) để trình ra các Hội nghị TW trước Đại hội X.

          3. Tư tưởng cơ bản của 4 công trình này là 3 cái khẳng định:

          a/ Khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin là duy nhất khoa học, duy nhất cách mạng, phải là hệ tư tưởng của Đảng.

          b/ Khẳng định định hướng đi lên CNXH là con đường duy nhất, tất yếu phải đi tới của xã hội Việt Nam.

          c/ Khẳng định Đảng cộng sản VN là lực lượng lãnh đạo duy nhất xứng đáng trong hệ thống chính trị chuyên chính vô sản ở  Việt Nam.

4. Mọi quan điểm khác với 3 cái khẳng định nói trên đều bị coi là các quan điểm sai trái, thù địch cần phải kiên quyết đấu tranh bác bỏ, tiêu diệt, không được thoả hiệp.

5. Với cách đặt vấn đề như trên, hoạt động lý luận của khu vực mang nhiều nhược điểm lớn.

a/ Không hoà chung nghiên cứu lý luận của Đảng vào trong dòng suy nghĩ lý luận của dân tộc mà lại mang tính biệt phái, lạc lõng.

b/ Coi thường, phỉ báng, triệt tiêu các hoạt động lý luận của các trí thức trong dân tộc, khác ý kiến với mình.

c/ Lý luận của Đảng trở thành nhân tố kìm hãm, phá hoại đoàn kết, không còn vai trò tiên phong trong lĩnh vực tư duy nữa (thử so sánh với cách đặt vấn đề trong cương lĩnh Mặt trận Tổ quốc: “đoàn kết mọi tầng lớp không phân biệt hệ tư tưởng” với kết luận: “khác với quan điểm của Đảng thì đều là sai trái, thù địch”.

III. Lâu nay, bên cạnh hoạt đông lý luận của khu vực I vẫn tồn tại hoạt động của các nhà lý luận khác của dân tộc (mà tôi tạm gọi là của khu vực II) bao gồm 1 số khá đông các trí thức ở trong nước (ngoài các nhà trí thức của khu vực I) và cả ở ngoài nước.

1. Hoạt động lý luận của khu vực này không hề do ý đồ hay nghị quyết của 1 tổ chức nào cả, mà là sự tự giác, tự ý thức đi vào nghiên cứu và phát biểu. Họ đi vào nghiên cứu không hề vì động cơ có nhận thù lao nào cả, cũng không có khả năng in ấn, phát hành, và trong 1 số trường hợp có nguy cơ bị truy trù, theo dõi và đàn áp.

2. Khác với khu vực I, trong đó các nhà lý luận không được đụng đến các khẳng định nêu ở điều 3 phần II, tức là bị gò bó, ràng buộc bởi những phương hướng do Bộ chính trị quy định, các nhà trí thức thuộc khu vực II được thoải mái tiếp xúc với các thành viên của  nền văn minh thế giới trước kia và hiện nay, trong quá trình vận động từ thời kỳ công nghiệp, sang hậu công nghiệp, tiến lên 1 xã hội trí thức (mà không sợ bị quy kết là bị tiêm nhiễm bởi hệ tư tưởng tư sản quốc tế). Họ mạnh dạn và thoải mái gạt bỏ các nguyên lý lý luận sai lầm đã bị thực tiễn kiểm nghiệm như: quá cường điệu đấu tranh giai cấp, kiên trì mô hình chuyên chính vô sản, đòi Đảng cộng sản phải giữ vị trí cao nhất trong hệ thống chính trị, đòi quân đội và công an phải do Đảng độc chiếm, đòi hỏi thực hiện công hữu hoá, xoá bỏ tư hữu, đòi phải xoá bỏ thị trường, thực hiện chỉ đạo kế hoạc hoá tập trung đối với nền kinh tế, thiết lập nền dân chủ vô sản hay nền dân chủ XHCN có tính giai cấp, phủ nhận những kinh nghiệm của nền văn minh thế giới về chế độ dân chủ v.v...

3. Nếu  như hoạt động lý luận của khu vực I là nhằm bảo vệ mục tiêu và lợi ích của Đảng, của lớp người cầm quyền thì hoạt động lý luận  của khu vực II lại nhằm bảo vệ lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân, nhằm phục vụ cho sự phát triển của xã hội.

4. Nếu như hoạt động của khu vực I được tiến hành 1 cách có tổ chức, có hệ thống, có trật tự trên dưới, có chỉ huy, có tổ chức giám định, có được cấp ngân sách đầy đủ thì hoạt động lý luận của khu vực lại hoàn toàn ngược lại: không có tổ chức, không có trật tự trên dưới, không có chỉ huy chỉ đạo, không có tổ chức giám định, và hoàn toàn không có được cấp bất cứ 1 món kinh phí nào cả. Giữa các trí thức của khu vực II, không ai chỉ huy ai, không ai là cấp trên hay cấp dưới của ai, không ai dậy ai hay khống chế ai.

5. Cùng trong 1 dân tộc, cùng vì lợi ích của đất nước, nhưng gần như có sự cách biệt, có thể dẫn đến trạng thái đối lập giữa 2 khu vực, không bổ sung được trí thức cho nhau, không hợp thành 1 trí tuệ tổng hợp, 1 sức mạnh tổng hợp trên mặt trật tư duy lý luận.

Việc xuất hiện những cách kiến giải khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau, là 1 điều bình thường và tất yếu. Thái độ đối xử với các cách kiến giải khác nhau nên như thế nào? Bên này có nên chửi bới bên kia là quan điểm sai trái, thù địch không? Là cơ hội chính trị không? Là chống Đảng, chống nhà nước không? Là phản bội Tổ quốc không? Bên này hay bên kia có nên tự cho mình là độc quyền “chân lý” “độc quyền lẽ phải” không?

Theo tôi, các nhà trí thức nên khiêm tốn hơn, lắng nghe ý kiến khác nhau, tranh luận thẳng thắn có tính thương thảo, thuyết phục nhau chớ nên có thái độ lấy lý do “phải đứng trên lập trường giai cấp vô sản, đấu tranh không thương tiếc với các hệ tư tưởng tư sản, phong kiến” mà địch đối hoá cuộc tranh luận.

IV. Thử nêu 1 điểm nhỏ trong hàng chục vấn đề cơ bản của đất nước cho tới nay chưa có lời giải đáp về lý luận.

Đối với người Việt Nam, dân tộc Việt Nam đáng nhẽ công tác lý luận  của giới trí thức của dân tộc phải giúp cho dân tộc

-         hiểu rõ XH Việt Nam hiện nay là xã hội gì ?

-         hiểu rõ xã hội Việt Nam trong lịch sử đã vận động ra sao?

-         hiểu rõ xã hội Việt Nam trong thế kỷ XX vận động ra sao?

-         Hiểu rõ xã hội Việt Nam để tìm con đường phát triển của đất nước và xây dựng chủ thuyết phát triển của đất nước.

ở  đây tạm chỉ nêu một trong hàng chục vấn đề quan trọng của đất nước.

“Thái độ đối với tư tưởng Hồ Chí Minh” để trao đổi. Một số trí thức thuộc khu vực II cho rằng:

Trong khi TW Đảng về văn vẻ thì ra vẻ đề cao và trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng trong thực tế cuộc sống thì lại phản bội lại tư tưởng Hồ Chí Minh.

1. Khi lập nước, Hồ Chí Minh đã đặt tên nước ta là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Việc đặt tên đó hoàn toàn chính xác. Nhưng những người lãnh đạo sau này của Đảng đã đổi thành “Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Nếu như tên gọi Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là hoàn toàn đúng đắn, thì việc đặt tên nước CHXHCN Việt Nam lại hoàn toàn sai lầm. Trong  xã hội chưa phải là XHCN mà đặt tên nước là XH là không đúng. Sau 1/2 thế kỷ nữa liệu có CNXH, CNCS ở Việt Nam  hay không? Còn là 1 vấn đề không rõ?  Các nước tự đặt tên là XHCN đều đã sụp đổ rồi. Khá nhiều ý kiến các trí thức, các cán bộ lão thành đã đề nghị đổi tên, lấy lại tên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà nhưng lãnh đạo ĐCS mấy khoá nay và Hội đồng lý luận cũng đều....

2. Từ cách mạng tháng 8, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1945) cho tới khi ra đi (1969), Hồ Chí Minh đã chủ trương và đã thực hiện 1 cách nhất quán chế độ chính trị đa nguyên, đa đảng: thường xuyên tồn tại Đảng dân chủ và Đảng xã hội bên cạnh Đảng lao động Việt Nam.

Như vậy quan điểm chính trị đa nguyên, đa đảng vốn là 1 đặc điểm, 1 ưu điểm trong tư tưởng Hồ Chí Minh, của hệ thống chính trị nước ta trong hơn 30 năm sau cách mạng  tháng 8, hiện nay lại trở thành 1 quyết định sai trái, đến mức những ai dám đề nghị chế độ đa nguyên, đa đảng có thể bị coi là quan điểm thù địch(?), chống nhà nước (?) và bị đàn áp.

3. Trong Bản Di chúc (văn bản duy nhất của ô. Hồ Chí Minh được tác giả xem đi xem lại và bổ sung hàng năm trong suốt năm năm 1965-1969). ô. Hồ Chí Minh đã viết:

“Điều mong nuốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết, phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

Đặt mục tiêu như vậy là nphù hợp với nguyện vọng của toàn dân và đến nay có thể tranh thủ được sự đồng tình của đông đảo kiều bào ở ngoài nước.

Nhưng gần đây lại có 1 số người đề xướng luận điểm phải trùng thành với Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, phải đọc rõ ràng vào trong mục tiêu là phải xây dựng CNXH coi như 1 thành phần không thể thiếu trong mục tiêu?

Điều này theo tôi nghĩ không giúp gì cho việc tranh thủ đoàn kết với khối 3 triệu kiều bào ngoài nước.

4. Hiện nay Bộ chính trị và Hội đồng lý luận các khoá nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh. Biết bao nhiêu sách, báo đã được xuất bản về chủ đề này.

Nhưng theo như tôi nghĩ, khá nhiều bài viết đã định nghĩa, thuyết minh theo hướng cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh (cơ bản, chủ yếu) là sự vận dụng trung thành và sáng tạo học thuyết Mác-Lênin vào Việt Nam. Qua việc đề cao Hồ Chí Minh kiều đó, thực tâm họ muốn nhằm ca tụng và bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin.

Theo tôi suy nghĩ, đó chính là sự hiểu lầm lớn nhất, sự xuyên tạc trắng trợn nhất nội dung  tư tưởng Hồ Chí Minh và qua đó chính họ hạ thấp vai trò của ô. Hồ Chí Minh  trong đấu tranh cách mạng  ở Việt Nam.

Nội dung cơ bản và giá trị thực của tư tưởng Hồ Chí Minh chủ yếu  nhất là sự tiếp thu và nâng cao những giá trị truyền thống của văn hoá Việt Nam đi đôi với thuân hoá và tiếp nhận các giá trị của các nền văn hoá trên thế giới.

5. Tôi không hiểu trong toàn tập Hồ Chí Minh có bài nào nói đến vấn đề quân đội phải trung thành với Đảng hay không? Nếu ông có nói như vậy, thì câu nói đó là sai lầm.

Nhưng tôi có nhớ mãi câu nói của ông Hồ trong thư gửi cho lớp đào tạo sĩ quan lục quân khoá I ở Sơn Tây (1946).

Ô. Hồ Chí Minh có nói: “Quân đội phải trung với nước, hiếu với dân”. Tôi rất tâm đắc và ủng hộ quan điểm này. Nhưng tôi nghĩ rằng, tất cả chiến sĩ quân đội, viên chức nhà nước, đảng viên Đảng cộng sản và mọi công dân đều phải “Trung với nước, hiếu với dân”. Đặt vấn đề quân đội phải trung thành với Đảng là 1 quan điểm sai lầm.

V. Bạn có nên góp ý với Bộ chính trị về công tác lý luận  chưa ?

1. Với những cách suy nghĩ như trên, anh nên suy nghĩ kỹ xem có nên phát biểu góp ý với lãnh đạo Đảng hay không?

Nếu bạn định biểu thị hoan nghênh ca tụng Hội nghị của Hội đồng lý luận vừa qua thì tôi khuyên bạn chớ góp ý gì cả, lấy cớ sức khoẻ, hay bận việc gì đó mà không trả lời. Nếu bạn hoan nghênh Hội đồng lý luận, thì bạn tự đánh mất mình đấy.

2. Còn nếu bạn định cố đóng góp ý kiến tâm huyết với Bộ chính trị thì tôi gợi ý anh tham khảo xem có nên đề cập một vài điều trong các vấn đề sau đây:

a/ Cần có sự kiểm điểm (nếu chưa gọi là Tổng kết) công tác lý luận  của khu vực I và cả khu vực II nữa?

b/ Cần gạt bỏ các định hướng gò bó: như nhất thiết phải bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin phải bảo vệ đường lối của Đảng là đúng, trả lại quyền tự do suy nghĩ, lột bỏ mũ kim cô.

Cần tạo 1 không khí dám nghe các ý kiến khác nhau thậm chí đối lập nhau, kinh qua thảo luận dân chủ, bình đẳng thoải mái và thân thiện, phát hiện và cùng chung sống với các cách hiểu, cách suy nghĩ khác nhau, trái nhau.

Do đó cùng 1 chương trình, 1 đề tài có thể kết thúc bằng vài 3 tham luận, kết luận, luận án khác nhau để cho lãnh đạo của Đảng, của Quốc hội, của Chính phủ, của Uỷ ban TW Mặt trận tổ quốc rộng đường lựa chọn quyết sách hành động.

c/ Làm sao được hoạt động của khu vực II hoà chung với dòng chảy của khu vực II (cả trong nước và ngoài nước), phát huy vai trò lãnh sướng của khu vực I, tránh trạng thái cách biệt và đối lập với nhau, như vừa qua.

d/ Xác định lại nhiệm vụ, mục tiêu của nghiên cứu lý luận đi sâu lý giải xã hội Việt Nam, sự vận động của xã hội Việt Nam trước đây và hiện nay gắn với chuyển đổi vũ bão của thế giới, tổng kết những kinh nghiệm thành công và thất bại trong 60 năm qua, để từ đó tìm con đường phát triển tối ưu cho đất nước, và xây dựng lý luận  phát triển của nước Việt Nam trong 1/2 đầu thế kỷ XXI.

Nên từ bỏ cách đặt vấn đề nào là phải chống giáo điều hay chống bệnh kinh nghiệm, chống hữu khuynh hay chống tả khuynh, chống bọn cơ hội chính trị.

Đối vối chúng ta điều quan trọng là tham khảo các học thuyết trên thế giới, đi sâu tổng kết kinh nghiệm thành công và thất bại của nước ta, để từng bước tiến lên không lệ thuộc, sùng bái bất cứ 1 thuyết ngoại lại nào.

3. Nhưng bạn nên cân nhắc kỹ lại và thử dự kiến những khả năng xấu có thể xảy ra: họ cắt đứt trong quan hệ với bạn nữa, họ tẩy chay bạn, họ bôi đen bạn, họ theo dõi bạn v.v... Và cũng nên tham khảo ý kiến của vợ bạn xem có thể chấp nhận khả năng rồi hãy làm. Vì cách xử lý xấu trong chế độ ta đã thành 1 “tập quán” rồi.

Nếu bạn và vợ bạn chưa sẵn sàng đương đầu với khả năng xấu, thì bạn hãy chờ đợi thêm 1 thời gian nữa rồi hãy phát biểu.

 

Rất thân,

 

 

 

Lê Hồng Hà

TB. Tôi xin gừi kèm theo

3 bài tôi đã viết năm 1995

để bạn tham khảo cách suy

nghĩ của tôi.


 

 

A

tiền đồ phát triển của đất nước và trách nhiệm của giới trí thức việt nam

 Hồng Hà

(1995)

 

Đi tìm con đường phát triển và lý luận phát triển cho đất nước luôn luôn là nhiệm vụ đặt ra đối với nhân dân và giới trí thức nước ta. Việc tham khảo sách vở, kinh nghiệm của nước ngoài là rất quan trọng nhưng không được dựa vào việc sao chép, trích lục từ các sách vở, kinh nghiệm ở nước ngoài. Nó chỉ có thể là kết quả, là sản phẩm của việc phân tích tổng hợp những bài học thành công và thất bại đã diễn ra trong hàng chục, hàng trăm năm vừa qua của dân tộc ta.

Trong một thời gian dài trước đây, phần lớn các nhà khoa học mới chú trọng nghiên cứu lĩnh vực đấu tranh giải phóng dân tộc của lịch sử, nhưng chưa chú ý đi sâu nghiên cứu mặt phát triển của xã hội trong các giai đoạn lịch sử. Do đó, đã có nhiều nhận định sâu sắc về quy luật đấu tranh giải phóng và bảo vệ tổ quốc, nhưng còn về nội dung, phương hướng của cuộc đấu tranh phát triển xã hội trong các giai đoạn lịch sử của nước ta còn quá ít bài nghiên cứu, nhất là vào thời kỳ hiện đại, kể từ thế kỷ 19 cho tới nay.

I. nhìn lại sự vận động của xã hội việt nam trong thế kỷ 20.

Muốn suy nghĩ về tiền đồ phát triển tới đây của nước ta, thì phải đánh giá được, lý giải được quá trình chuyển động của đất nước Việt Nam trong lịch sử nhất là trong thế kỷ 20, đặc biệt là nửa sau của thế kỷ, gắn liền với sự chuyển động vũ bão của thế giới.

1. Trong nửa đầu thế kỷ, sau khi thực dân Pháp đặt được ách đô hộ ở nước ta - đây là một thảm hoạ đối với dân tộc ta, thực dân Pháp đã lần lượt thực hiện các kế hoạch khai thác Đông Dương, nhằm thực hiện mưu đồ bóc đoạt tài nguyên nước ta. Nhưng đây cũng là thời kỳ mà xã hội Việt Nam tiếp xúc với nền kinh tế – văn hoá của Tây Phương. Và dù đã bị bóc lột thậm tệ, các tầng lớp nhân dân ta đã tiếp thu phần có ích, vươn lên tiếp nhận văn hoá Pháp, xông vào kinh doanh sản xuất và xuất nhập khẩu trong nền kinh tế thị trường có mở cửa một phần với bên ngoài và qua đó hình thành bước đầu thành phần kinh tế công nghiệp và thương nghiệp hiện đại với các nhà tư sản dân tộc, hình thành nền văn thơ mới, giáo dục mới, với các nhà văn, nhà thơ mới, những tầng lớp trí thức mới v.v... Điều đó chứng tỏ sức sống của dân tộc Việt Nam dù còn bị đô hộ, dù bị bóc lột, nhưng một khi đã tiếp xúc với nền văn minh công nghiệp (dù chỉ là ở trình độ thấp) thì xã hội Việt Nam vẫn có khả năng tiếp thu, thâu hoá và thúc đẩy xã hội Việt Nam thoát khỏi trạng thái một xã hội nông nghiệp, khép kín, tự cấp, tự túc. Tuy có những sự phát triển, nhưng việc giành lại độc lập phải chờ đến khi có Đảng Cộng sản với một chính sách đoàn kết rộng rãi và trên quan điểm vũ trang lâu dài mới từng bước giải quyết được trọn vẹn. Trong mấy chục năm chiến tranh, các vùng bị tạm chiếm (1945 – 1954), và cả miềm Nam (1955 – 1975) do vẫn giữ mối quan hệ với bên ngoài, và mở rộng nền kinh tế thị trường nên vẫn có những sự phát triển nhất định về kinh tế, văn hoá, xã hội. Điều này lâu nay thường bị bỏ qua, ít được quan tâm nghiên cứu.

2. ở miền Bắc (1955 – 1975) nhân dân đã đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình mác – xít: kinh tế kế hoạch hoá chỉ huy tập trung, chế độ công hữu, nguyên tắc phân phối theo lao động, chuyên chính vô sản v.v... Trong suốt 20 năm do chỗ phải phục vụ cho cuộc chiến tranh chống Mỹ, nên mô hình chủ nghĩa xã hội đó đã phát huy tác dụng tích cực động viên mọi lực lượng để đạt một mục tiêu cao nhất là chiến thắng. Khối lượng ngoại viện to lớn, những tổn thất do chiến tranh gây ra đã làm cho chúng ta chậm phát hiện mặt kìm hãm sự phát triển kinh tế của mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu cũ.

3. Chỉ sau chiến thắng to lớn giải phóng cả nước (1975) khi ngoại viện (xét cả viện trợ của Mỹ và của Trung Quốc) bị giảm mạnh đột ngột, khi ta đưa kinh nghiệm cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội của miền Bắc vào miền Nam, và nhất là khi chính sách đối ngoại có phạm sai lầm đưa đất nước ở vào thế cô lập trên thế giới thì toàn bộ những nhược điểm, những tác động tiêu cực của mô hình CNXH mác – xít đã bộ lộ ra một cách đầy đủ và toàn bộ đất nước rơi vào một cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng kéo dài (1978 – 1988).

Sự đổi mới bắt đầu từ những sáng kiến của quần chúng đã nhanh chóng mở rộng từ một vài địa phương lan ra toàn quốc, từ nông thôn chuyển vào thành thị, từ nông nghiệp chuyển sang công nghiệp và thương nghiệp, dịch vụ, từ cơ sở lên tới trung ương. Và qua đó đã hình thành một đường lối đổi mới tương đối hoàn chỉnh trong Đại hội Đảng lần thứ 6 (1986) với những đặc trưng chủ yếu: thừa nhận nền kinh tế thị trường, với nhiều thành phần kinh tế, mở cửa với bên ngoài, phát triển quan hệ đối ngoại đa phương, mở rộng nền dân chủ nhân dân v.v ...

4. Quan sát lịch sử phát triển của nước ta và nhiều nước khác, có thể rút ra kết luận: mỗi đất nước, mỗi dân tộc, để có thể tồn tại và phát triển, đều phải xử lý ba mối quan hệ:

- Quan hệ giữa nhân dân với đất đai, môi trường, thiên nhiên của nước mình ... Nghĩa là phải làm thế nào bảo vệ và bồi dưỡng được môi trường sống, chăm sóc và bồi dưỡng đất đai, sử dụng hợp lý các tài nguyên.

- Quan hệ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa các tôn giáo, giữa các dân tộc, giữa nhân dân các vùng trong nội bộ đất nước. Nghĩa là chúng ta chủ trương một đường lối đoàn kết, hoà hợp, hiệp thương để cùng chung sức xây dựng, phát triển đất nước hay chủ trương phân biệt đối xử, đấu tranh quyết liệt giữa bộ phận này chống lại bộ phận kia.

- Quan hệ giữa nước ta với các nước khác trên thế giới. Nghĩa là tìm ra cách xử lý tối ưu để đem lại lợi ích lớn nhất cho dân tộc mình, cho nhân dân mình, không để bị lệ thuộc bởi lợi ích hẹp hòi của một tầng lớp nào, hoặc một hệ tư tưởng nào.

5. Cho tới nay, các học thuyết đang thịnh hành chưa đáp ứng được toàn diện các yêu cầu nói trên, và do nhiều nguyên nhân còn bị nhiều sự hạn chế về mặt lịch sử và hệ tư tưởng.

Vì vậy nhân dân ta, qua giới trí thức của mình, phải đi tìm con đường phát triển của mình, phải vượt lên các học thuyết hiện có để xây dựng một lý luận phát triển mới  đáp ứng toàn diện các nội dung yêu cầu nói trên cho đất nước.

Đây là một công việc cực kỳ trọng đại, mà mỗi người tham gia – dù có thông minh đến đâu - cũng chỉ có thể đóng góp khoảng một phần triệu của lý luận phát triển mới đó mà thôi.

Công việc trọng đại đó đòi hỏi phải có sự chung sức chung lòng thật sự chân thành, khiêm tốn, của giới trí thức Việt Nam, tránh thái độ kiêu ngạo, bè phái, học phiệt, trong sinh hoạt lý luận, học thuật. ở đây phải tôn trọng quyền được phạm sai lầm của các nhà khoa học khi đi vào một con đường mới, chưa khai phá.

6. Điều đáng buồn, cho đất nước là cho tới nay, một số nhà lý luận “giáo điều” vẫn giữ nguyên sự “cuồng tín” đối với các học thuyết ngoại nhậptệ hại hơn nữa, họ dùng mọi thủ đoạn để trù dập, đàn áp, mọi ý kiến khác với họ. Họ lợi dụng các báo chí của Đảng để tuỳ tiện phê phán, lên án các quan điểm khác mình, “bịt miệng đối phương”, nhưng họ không còn nhân cách để tự thay sự trơ tráo, đáng sỉ nhục của họ. Vì trình độ học vấn của họ quá thấp, họ lo sợ sự bùng nổ trí thức chân chính của dân tộc đóng góp cho đất nước, và kết cục là, đi ngược lại lợi ích của đất nước, bóp ngẹt trí tuệ của dân tộc.

II. đặc trưng con đường phát triển tiến lên của xã hội việt nam.

Từ sự phát triển của xã hội nước ta trong thế kỷ 20 qua hàng loạt những bài học thành công và thất bại, đặc biệt qua những thành tựu của công cuộc đổi mới có thể nêu lên những nét đặc trưng nhất của con đường phát triển của đất nước ta:

1. Phải xác định đúng đắn mục tiêu phản ánh được khát vọng sâu xa của toàn dân, và có khả năng động viên đoàn kết được toàn dân đi vào xây dựng và phát triển đất nước: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.

Đặt mục tiêu sai lầm có thể gây nên sự chia rẽ trong cộng đồng dân tộc và làm yếu sức tiến lên của cả dân tộc.

2. Phải từ bỏ con đường kế hoạch hoá tập trung phủ nhận kinh tế thị trường, phải thừa nhận kinh tế thị trường, phải nhận thức kinh tế thị trường là con đường duy nhất đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội.

3. Không nên vội vã công hữu hoá, mà phải chấp nhận một chế độ sở hữu đa dạng, một nền kinh tế nhiều thành phần, đảm bảo chế độ tư hữu thực sự, nhằm phục vụ đắc lực cho sự tăng trưởng kinh tế.

4. Phải thực hiện đường lối đoàn kết, hoà hợp các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo để thúc đẩy xã hội phát triển, đồng thời bảo vệ tổ quốc.

5. Phải thực hiện một chính sách mở cửa, phát triển quan hệ đối ngoại đa phương, lấy lợi ích của dân tộc, của đất nứoc làm căn cứ, tránh lấy hệ tư tưởng chi phối chính sách đối ngoại.

6. Phải xây dựng một nhà nước pháp quyền do dân, vì dân, của dân, mở rộng dân chủ, tôn trọng quyền con người, kết hợp một cách tối ưu giữa cá nhân với cộng đồng, phê phán các khuynh hướng cực đoan của chủ nghĩa cá nhân, cũng như của chủ nghĩa tập thể.

7. Phải thừa kế và phát huy truyền thống hoà hợp, khoan dung về tư tưởng của dân tộc, tránh thái độ cực đoan, hẹp hòi, bài tha. Nền tảng tư tưởng của chúng ta sẽ là chủ nghĩa cộng đồng, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.

Việc tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, các học thuyết của bên ngoài kể cả đạo Nho, Kinh Dịch, đạo Phật, đạo Lão, và chủ nghĩa Mác, các lý thuyết kinh tế, xã hội của phương Tây, là rất quan trọng, nhưng việc tham khảo đó chỉ nhằm giúp chúng ta về mặt phương pháp luận để ta tìm hiểu ta, và tự ta đi tìm con đường phát triển của đất nước. Con đường đó sẽ không thể bắt chước bất cứ mô hình của nước nào khác (hoặc Trung Quốc, Liên Xô như đã có lúc đặt ra trước đây, v.v ...).

Và chúng ta sẽ không tự hạn chế bởi một học thuyết ngoại lai nào, chúng ta sẽ phải sáng tạo ra những khái niệm của mình, không tự hạn chế trong các khái niệm đã có (như chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa tư bản nhà nước, chuyên chính vô sản, v.v ...), không cứ loay hoay trong những công thức đấu tranh hai con đường TBCN và XHCN, “định hướng XHCN”, “thời kỳ quá độ”, v.v ...

III. trạng thái đặc thù hiện nay của xã hội việt nam

1. Hiện nay, xã hội Việt Nam đang tiến lên trong một trạng thái đặc thù: các tầng lớp nhân dân cố gắng hoà nhập vào thế giới, tìm mọi cách làm giàu để phát triển đất nước, thực hiện khẩu hiệu “dân giàu, nước mạnh”. Trong khi đó, cac cấp lãnh đạo thì do dự vừa muốn thúc đẩy đổi mới, lại vừa e sợ rụt rè không dám tiến lên ... Xét chung lại, dân muốn tiến lên, xã hội đòi tiến lên, nhưng lãnh đạo thì lại vừa tiến lên vừa e ngại.

Xu thế chung là dân từng bước đẩy lên, lãnh đạo từng bước lùi dần, phải tiếp nhận sáng kiến của dân, nhưng đồng thời lại muốn hãm lại.

2. Đặc trưng của tầng lớp lãnh đạo là gì? Vừa thực dụng trong đời sống thực tế, lại vừa giáo điều, bảo thủ trong lời nói, văn bản. Trong đời sống thực, một số khá đông cán bộ cốt cán, đương chức ở tất cả các cấp (từ trung ương tới cơ sở) ra sức lợi dụng cương vị công tác của mình để xoay xở cho cá nhân, cho vợ con, cho gia đình mình, chuẩn bị vốn liếng, để khi rời bỏ vị trí, thì đã có cơ sở vững chắc. Chính vì vậy mà tình trạng hối lộ, tham nhũng, làm ăn bằng cách đánh cắp tài sản của Nhà Nước, lợi dụng chức vụ ngày càng phát triển một cách tràn lan, phổ biến, không tài nào ngăn chặn nổi. Đó là xu thế vận động thực của nhiều quan chức trong các cơ quan Đảng, Nhà nước hiện nay.

Nhưng để che đậy các hành động xấu xa đó, vừa để ổn định tâm lý, vừa để lừa mị dân chúng, để giữ được chức vị (đồng nghĩa với giữ được các đặc quyền đặc lợi hiện nay), thì họ lại càng phải nói to, nhấn mạnh những từ ngữ “cách mạng”: nào là “phải kiên trì định hướng XHCN”, “phải kiên trì chủ nghĩa Mác – Lênin”, “phải kiên quyết chống mọi kẻ thù đang xuyên tạc và phủ định chủ nghĩa Mác – Lênin”, “phải nêu cao đạo đức Hồ Chí MInh, chống chủ nghĩa cá nhân”, v.v ... Những khẩu hiệu đó thực ra đã không còn nội dung và sức sống nữa.

3. Chúng ta không phủ nhận là trong Đảng còn có nhiều người vẫn một lòng thực tâm vì dân vì nước. Nhưng đại bộ phận những người này đã về nghỉ, và cũng chẳng có quyền thế gì và do đó chẳng có tác dụng gì nữa. Trong số đương chức, cũng có không ít người thực tâm vì dân vì nước, nhưng vì họ chỉ là số ít, họ bị “vô hiệu hoá”, họ cảm thấy “bất lực” và họ đang đi vào con đường tự lừa dối mình.

Trong đời sống xã hội, “lời nói không đi đôi với việc làm”, “học không đi đôi với hành”, thói “đạo đức giả” đã trở thành lối sống phổ biến.

4. Vì sao lại nảy sinh hình thái đặc thù của sự phát triển xã hội Việt Nam như trên? Vì sao trong lãnh đạo lại xuất hiện một trạng thái vừa muốn tiến lên, lại vừa muốn kìm hãm?

+ “Dân muốn tiến lên, muốn làm giàu, muốn đất nước giàu mạnh” là khát vọng cháy bỏng của mọi người. Nhưng trước đây do chiến tranh, do cơ chế bao cấp quan liêu kìm hãm, dân chưa có điều kiện thực hiện khát vọng của mình. Nay chiến tranh đã kết thúc, đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng, chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước XHCN cũng bị khủng hoảng và bị sụp đổ, thì người dân phải và có thể đi tìm con đường tiến lên. Đó là một xu thế mạnh mẽ không thể đảo ngược được.

+ Lãnh đạo có trạng thái do dự, ngoài nguyên nhân lợi ích của tầng lớp, còn là vì không đi kịp với thời thế, không kịp thời xây dựng lý luận phát triển cho đất nước trong một tình hình mới của thế giới và của nước ta.

Do trình độ hạn chế, do bị cầm tù bởi những nguyên lý kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin mà bản thân họ cũng chưa hề nghiên cứu một cách sâu sắc và hệ thống, họ không đủ sức phân tích tình hình xã hội, họ đâm ra hoang mang, hốt hoảng cố ra vẻ “kiên định cách mạng”, “kiên định lập trường vô sản”, “kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin”. Họ nói lấy được, họ tuỳ tiện in sách, in báo, thẳng tay đàn áp những người có ý kiến khác mình (mà họ gán cho đủ loại nhãn hiệu nào là xét lại, cơ hội, nào là chống đối, nào là phụ hoạ với đế quốc Mỹ, v.v...) và thu hẹp sinh hoạt trí tuệ trong Đảng, trong xã hội.

Họ bóp nghẹt quyền dân chủ, quyền tự do tư tưởng của các công dân với nhãn hiệu phải kiên trì chuyên chính vô sản (?). Họ không tiếp nhận nổi và không khái quát nổi trí tuệ của dân tộc vì họ tự giam mình trong những giáo lý nỗi thời, họ ngày càng thoát ly quần chúng, thoát ly thực tiễn, thoát ly dân tộc. Họ không thấy rằng chính họ đang làm nghèo sinh hoạt tinh thần, làm thui chột trí tuệ của dân tộc, của tầng lớp trí thức.

5. Do đó, việc khái quát những tư liệu thực tế, việc tổng hợp những ý kiến trong giới trí thức (đang thực tâm trăn trở cho lợi ích của dân tộc) với một thái độ khiêm tốn, khoan dung, hoà hợp, dân chủ, để đi tìm cho đất nước con đường phát triển tối ưu, xây dựng một lý luận phát triển để đẩy nhanh bước tiến lên của xã hội, khắc phục bệnh sùng ngoại, bảo thủ, cố chấp, hẹp hòi, sơ cứng đang chi phối giới lãnh đạo trận địa lý luận, trở thành nhiệm vụ then chốt của giới trí thức Việt Nam  trong việc thúc đẩy xã hội tiến lên trong giai đoạn hiện nay. Trách nhiệm đó của giới trí thức là do nhu cầu phát triển khách quan của bản thân xã hội đặt ra, chứ không phải do ai đó tự đặt ra một cách chủ quan.

IV. đi tìm con đường phát triển của xã hội Việt Nam, xây dựng một lý luận phát triển cho đất nước.

1.     Mục tiêu của nhân dân ta là gì ?

Mục tiêu đó, về tổng quát đã được Bác Hồ nêu lên một cách rõ ràng trong di chúc: