Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Cuộc sống vẫn lừng lững đi tới |
23.5.2006
Nguyên Ngọc
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7236&rb=0401
|
|
|
Nhà văn Nguyên Ngọc, ảnh: Trần Hữu Dũng |
talawas:
Thưa nhà văn Nguyên Ngọc, Đại hội Đảng
Cộng sản Việt Nam lần thứ X vừa kết thúc. Ông có thấy những mong đợi của mình,
một đảng viên lão thành, được phản chiếu trong kết quả của Đại hội?
Nguyên Ngọc: Tôi nghĩ là không, hoặc ít ra là không nhiều. Tôi cho là
người ta đã chờ đợi ở Đại hội nhiều hơn. Tuy nhiên chính ở đây lại có chỗ có thể
là "hay". Đây có thể là một nét rất đáng chú ý ở Việt Nam bây giờ: Đại hội thấp
hơn đời sống, lạc hậu hơn so với đời sống. Và có chỗ rất "tiểu thuyết": hình như
chính Đại hội cũng tự biết điều đó. Biết nhưng vẫn cứ làm như vậy, thật là vô
cùng "Việt Nam"!
Như vậy có cả hai mặt, vừa đáng mừng vừa đáng lo: một mặt xã hội vẫn cứ phát
triển, và sự phát triển đó theo tôi là có nhiều khía cạnh lành mạnh (những khía
cạnh lành mạnh đó, chẳng hạn, được phản ánh trong những thảo luận khá cởi mở
trước Đại hội); mặt khác, sự lạc hậu nói trên tất sẽ tạo ra cản trở cho sự phát
triển đó, gây chậm trễ, thậm chí đến một lúc nào đó có thể cả xung đột. Và theo
tôi, nguy cơ lớn nhất đối với Việt Nam bây giờ là quá chậm trễ. Cuộc chơi chung
của thế giới bây giờ không chờ mình.
talawas: Theo quan sát của cá nhân ông, phần lớn trong số 3,1 triệu
đảng viên hiện nay có chia sẻ những đánh giá như vậy không?
Nguyên Ngọc: Tôi nghĩ là khá nhiều người nghĩ như vậy, tuy họ không nói
ra. Sau Đại hội, trong xã hội có một sự im lặng rất không bình thường. Cứ như
người ta không còn quan tâm đến nó nữa.
talawas: Và có thể coi nguyện vọng của phần lớn đảng viên ĐCSVN – dù
chỉ thể hiện bằng sự im lặng - là nguyện vọng của đại bộ phận dân tộc Việt Nam
không?
Nguyên Ngọc: Nếu nói "phần lớn" thì tôi tin là có, vẫn còn có. Bởi vì
"phần lớn" ấy, với tấm thẻ Đảng, trước hết vẫn là Dân.
talawas: Dường như phong trào góp ý cho Dự thảo Báo cáo chính trị
trước Đại hội X đã gieo khá nhiều hi vọng vào một bước chuyển rõ rệt trong cải
cách chính trị. Những khái niệm như “Đổi mới II” và “Thời cơ vàng” đã dọn đường
cho Đại hội suốt nhiều tuần lễ… Đó có phải là một hiện tượng "lạ" trong lịch sử
đời sống chính trị Việt Nam cho đến nay?
Nguyên Ngọc: Nếu tôi nhớ không nhầm thì đây không phải là lần đầu tiên
Đảng Cộng sản Việt Nam yêu cầu đảng viên và cả những người ngoài Đảng góp ý kiến
cho Dự thảo Báo cáo chính trị sẽ trình bày ở đại hội trước khi diễn ra đại hội
Đảng, ít ra cũng là trong mấy kỳ đại hội gần đây. Tuy nhiên, quả thật lần này đã
có "hiện tượng lạ": một số vấn đề cơ bản nhất, thậm chí có thể nói liên quan đến
"vận mệnh" của Đảng, đã được nêu ra và thảo luận trong quá trình góp ý kiến. Ông
Đỗ Mười, nguyên Tổng Bí thư Đảng, nêu vấn đề "kinh tế quốc doanh nhất thiết phải
luôn là chủ đạo" và định nghĩa đấy mới chính là chủ nghĩa xã hội; ông Nguyễn Đức
Bình phản đối quyết liệt chủ trương để cho đảng viên làm kinh tế tư nhân không
hạn chế quy mô; đặc biệt ông này thẳng thắn yêu cầu đặt vấn đề đó lên bàn nghị
sự. Và quả thật vấn đề đã được đặt lên bàn nghị sự như ông Bình muốn, nhiều nhất
là trên internet, nhưng cũng không phải không có trên một số báo chí công khai
trong nước. Động đến hai vấn đề trên tức là đã động đến vấn đề sở hữu, một vấn
đề nền tảng của hệ thống lý thuyết vẫn được coi là chính thống của chế độ. Tức
là lần này, dầu muốn hay không, đã chạm đến "lõi". Hiện tượng này, theo tôi vừa
"lạ", vừa không lạ. Lạ là vì lần đầu tiên nó được đặt lên bàn nghị sự một cách
công khai như vậy; song cũng không lạ, vì việc nó bị, hay được đặt ra, là tất
yếu. Chính cuộc sống đã đòi hỏi.
talawas: Và Đại hội đã giải quyết vấn đề cốt lõi ấy một cách rất "sáng
tạo": nền tảng lý thuyết vẫn không hề bị lay chuyển, đồng thời đòi hỏi của cuộc
sống cũng không đến nỗi bị sao nhãng. Nói cách khác, Đại hội đã chấp nhận dùng
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa để xây dựng chủ nghĩa xã hội vững chắc
hơn, và cho phép các đảng viên gia nhập giai cấp tư sản đỏ để trong tương lai có
thể trở thành những người vô sản đích thực hơn. Ông không ngưỡng mộ tính sáng
tạo này?
Nguyên Ngọc: Tôi nghĩ có thể bạn hơi "lô gích hình thức" đây! Ở đây sự
thể đang đi theo một thứ lô gích khác: lô gích vòng vo. Hay đúng hơn, nghịch lý
hiển nhiên trong những điều đang được tuyên bố phản ánh sự lúng túng trong việc
tìm một con đường phát triển sòng phẳng, minh bạch. Tôi không tin rằng ngày nay
còn có ai thật sự mong muốn trở thành "người vô sản đích thực hơn" đâu. Song
người ta đã ấp úng khi nói ra điều đó. Kết quả là sẽ tạo nên một thứ chủ nghĩa
tư bản hoang dã. Những vụ kiểu Bùi Tiến Dũng, Nguyễn Việt Tiến... đang phổ biến,
chắc chắn còn phổ biến, là chứng minh.
talawas: Thưa ông, một câu hỏi khác: phần lớn các thảo luận về những
chủ đề ít nhiều nhạy cảm, đặc biệt về đa nguyên chính trị, về việc tách bạch
giữa bộ máy Đảng và bộ máy nhà nước, về việc dân chủ hoá và làm trong sạch nội
bộ Đảng… hầu như chỉ diễn ra trên internet. Còn đại bộ phận dân chúng - những
người không có điều kiện và thói quen theo dõi thông tin trên mạng – thì sao?
Đại hội X có thật sự khiến họ quan tâm không?
Nguyên Ngọc: Ở đây, theo tôi có chỗ khá tế nhị, và cũng thú vị. Đúng là
đại bộ phận dân chúng không có điều kiện theo dõi thông tin trên mạng, ít được
biết đến những cuộc thảo luận này, thậm chí họ cũng không quan tâm gì lắm đến
chúng. Ở nông thôn thì có mấy ai nghe và biết gì đâu. Nhưng lại có mặt khác: vì
sao những vấn đề cốt lõi và nghiêm trọng như vậy đã được đặt ra, và được thảo
luận khá thẳng thắn, cởi mở? Những người tham gia thảo luận đều là những nhà
chính trị, nhà kinh tế, nhà khoa học, những người trí thức, mà chắc chắn tuyệt
đại đa số nông dân thậm chí không hề biết đến tên, cũng chẳng hề "uỷ nhiệm" cho
họ phát ngôn thay mình. Nhưng, nếu các "nhà" kia đã nói đến những vấn đề trước
đây được coi là động trời đó, và có người đã nói cũng tương đối đến nơi đến
chốn, thì là vì chính những người im lặng bên dưới, vô danh và thậm chí cũng
chẳng hề quan tâm đến Đại hội X, bằng hoạt động cụ thể và thiết thân đến sự sống
của họ, họ đã và đang thật sự "giải quyết" những vấn đề đó trong cuộc sống. Hình
như đó cũng là một đặc điểm của tình hình ở Việt Nam: không phải lý thuyết thắng
trước đâu, mà là cuộc sống thắng trước, rồi lý thuyết mới lần theo sau. Công
cuộc gọi là Đổi mới hồi năm 1986 thực tế đã diễn ra như vậy: nông dân bên dưới
phá ra trước, rồi lý thuyết (đường lối) bên trên mới thay đổi theo sau. Có thể
lần này có phần hơi khác lần trước: lần này lý thuyết (của các "nhà") tích cực
hơn, và cũng có phần sớm hơn. Tức họ đã phối hợp với cuộc phá ra của bên dưới
tốt hơn.
Theo tôi, hiện nay trong xã hội Việt Nam có một hiện tượng rất đáng quan tâm:
những cái trước đây, và cả hiện nay, được coi là chính thống, tức
đứng ở trung tâm, chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống, thì trong thực tế đã trở
thành cái bên lề (marginal), bị đẩy, bị loại ra bên lề; còn cái bên lề
thì trong thực tế đang đi vào trung tâm thực của đời sống, trở thành cái chủ đạo
trong đời sống, dù người ta không công khai công nhận như vậy. Tức, "vậy mà
không phải vậy". Và ai cũng biết vậy, mặc dầu các "nhà" thì nói thẳng ra, còn
văn kiện chính thống thì vẫn nói như cũ. Điều này diễn ra trong mọi mặt của đời
sống xã hội, trước hết trong kinh tế, và cũng không hề dừng lại ngay cả trong
văn học nghệ thuật. Trong kinh tế, mặc dù người ta vẫn nói quốc doanh là chủ
đạo, nghị quyết Đại hội Đảng X vừa rồi cũng không nói khác, nhưng trong thực tế
thì nó không còn là chủ đạo, mà đã trở thành bên lề rồi, trong khi đó kinh tế tư
nhân đang thực sự trở thành chủ đạo trong đời sống kinh tế của đất nước. Cuộc
sống cứ thế lững lững đi tới.
Sự thay đổi vị trí trong thực tế đó, cái chính thống thành cái bên lề, cái bên
lề thành cái chính thống, dù người ta không nói thẳng ra, có thể là đặc điểm
quan trọng nhất của tình hình ở Việt Nam hiện nay.
Vậy cuộc thảo luận có phần cởi mở của các "nhà" lần này có ý nghĩa gì không?
Theo tôi thì có, thậm chí khá quan trọng nữa. Nó vừa là phản ánh của vận động xã
hội bên dưới, đồng thời nó là sự hỗ trợ cần thiết về lý thuyết cho vận động đó,
làm cho vận động đó vững chắc hơn.
talawas: Hai mươi năm sau, một hiện tượng “xé rào” khác hẳn cũng đã
xảy ra: phong trào đình công của công nhân. Ít nhất phong trào này cũng cho thấy
một hiện thực không thể phủ nhận: cái đang diễn ra trong một khu vực kinh tế
nhất định tại Việt Nam không còn một dáng dấp xã hội chủ nghĩa nào nữa, mà là
chủ nghĩa tư bản ở dạng nguyên thủy và tàn bạo nhất. Đề tài này không hề được
đặt ra, ở cả phía chính thống lẫn phía cải cách?
Nguyên Ngọc: Đúng như vậy đấy: một thứ chủ nghĩa tư bản che giấu và hoang
dã, hoang dã vì che giấu, ấp úng. Theo tôi thì đề tài này không phải đã không có
người đặt ra, bằng cách này hay cách khác.
talawas: Nhưng những phát ngôn trên báo Nhân dân, trước ngày
khai mạc Đại hội X không xa, lại là những thông điệp không thể hiểu sai, và Đại
hội X đã xác nhận những thông điệp ấy: Trước sau như một, Đảng CSVN định nghĩa
tương lai dân tộc thông qua mục đích tối hậu là chủ nghĩa cộng sản, với thời kì
quá độ là chủ nghĩa xã hội. Như thể toàn bộ sự sụp đổ của khối cộng sản Đông Âu
gần 20 năm trước và sự thất bại của dự án cộng sản ở quy mô toàn thế giới không
đóng một vai trò gì…
Nguyên Ngọc: Tôi không tin lắm những điều được nói đó. Tôi thậm chí không
tin rằng chính những người nói ra những điều như vậy thật sự tin ở điều mình nói
hay viết ra. Và theo chỗ tôi biết, người ta đọc những bài như vậy, rồi bỏ qua,
chẳng mấy quan tâm làm gì, vì hầu như ai cũng biết hẳn chính những người nói hay
viết đó cũng là nói, viết cho xong chuyện, chẳng lẽ không nói, chẳng lẽ viết
khác. Như đã nói trên, "nói vậy mà không phải vậy", và ai cũng biết thế, cả
người nói lẫn người viết. Tôi tin rằng "sự thất bại của dự án cộng sản ở qui mô
toàn thế giới", một trong những bi kịch lớn của nhân loại, chắc chắn không thể
không ảnh hưởng chút gì đến cả những đầu óc bảo thủ nhất. Ngay đến cả những đầu
óc ấy cũng đã thấy không ổn rồi, con đường đi mà trước đây họ tin và định dẫn
dắt đất nước đi theo, chính họ bây giờ cũng thấy nó mờ mịt và chẳng còn hy vọng
mấy rồi. Nhưng thoát ra như thế nào thì còn rất lúng túng. Trong khi đó, chính
cuộc sống bên dưới đang mở đường đi tới, lừng lững, chẳng gì ngăn lại được, và
trong thực tế nó đang thắng, nó đang phá vỡ cái "dự án" kia, ở cả những chỗ cốt
lõi nhất.
Tuy nhiên còn có điều thế này: cái bên trên lúng ta lúng túng như vậy thì nhất
định sẽ kìm hãm sự phát triển bên dưới, gây chậm trễ rất nhiều. Tôi không bi
quan về xu thế đi tới tất yếu, và thực tế đang diễn ra của đất nước, nhưng tôi
rất lo lắng về sự chậm trễ. Bởi ngày nay còn có vấn đề thời cơ. Chậm quá, thì
đến một cái "ngưỡng" nào đó sẽ là tuyệt vọng hoàn toàn, sẽ bị loại ra bên ngoài
cuộc chơi chung. Theo tôi, đấy là nguy cơ lớn nhất hiện nay.
talawas: Bản thân ông, một người cộng sản, có nhìn thấy số phận dân
tộc Việt Nam bắt buộc phải gắn với chủ nghĩa cộng sản và những tín điều của nó
không? Hay chúng ta có quyền đến với những chọn lựa khác?
Nguyên Ngọc: Thế hệ chúng tôi đã đi theo Đảng Cộng sản vì lòng yêu nước,
thiết tha giải phóng dân tộc. Và trong công cuộc vô cùng khó khăn ấy, Đảng đã
phải "mượn" những lực lượng, không thể còn tìm thấy ở đâu được khác nữa, để làm
cái công cuộc đó. Nhưng, ở đời là vậy, mượn rồi thì phải mắc nợ. Vấn đề bây giờ,
theo tôi, là phải quả cảm cắt đứt với món nợ ấy.
Vừa rồi đã có cuộc kỷ niệm lớn, mà theo tôi người ta đã làm một cách khá hời
hợt: kỷ niệm 80 năm ngày mất của Phan Châu Trinh. Khác và đi trước tất cả những
người cùng thời, và cả những người sau thời của ông, Phan Châu Trinh không đặt
vấn đề độc lập dân tộc một cách đơn độc, riêng biệt. Vì là người đầu tiên trong
thời của ông nhận ra được rằng thế giới đã thay đổi một cách căn bản, hoặc nói
như ngày nay, nhận ra rằng trên thế giới đang diễn ra một cuộc toàn cầu hoá -
cuộc toàn cầu hoá lần thứ nhất - và Việt Nam phải sống trong thời đại toàn cầu
hoá đó cùng với thế giới, nên ông chủ trương đặt việc giải quyết vấn đề độc lập
dân tộc trong một phạm trù rộng lớn, bao quát hơn, là phát triển dân tộc, phát
triển mới là mục tiêu tối hậu, phát triển dân tộc trong thời đại mới, trong đó
độc lập dân tộc chỉ là một bước, một điều kiện, có thể giải quyết bằng cách này
hay cách khác, bạo lực hay không bạo lực, tuỳ tình thế cụ thể. Dừng lại ở độc
lập dân tộc thì vô nghĩa.
Vấn đề của Việt Nam hiện nay, theo tôi, là như thế đó: do những điều kiện lịch
sử nhất định, độc lập dân tộc đã được giành lại bằng cách đắt giá nhất. Nhưng
dầu sao cũng đã xong rồi (tất nhiên với bao nhiêu vết thương, có cả những vết
thương mình tự gây ra cho mình). Vấn đề bây giờ là phát triển dân tộc, và theo
"dự án" nào đây? Tôi không chia sẻ một dự án đã chứng minh sự sụp đổ của nó, lại
là ở qui mô toàn cầu, và được thử thách trong cả một thế kỷ mà E. Hobsbawm gọi
là "thế kỷ 20 ngắn". Tôi chia sẻ với Phan Châu Trinh.
Trước hết cần quả cảm dứt ra khỏi món nợ ta đã bắt buộc phải mượn một thời,
không việc gì phải đeo nó nặng trĩu mãi trên lưng, không việc gì phải tự ràng
buộc mình vào nó, làm nô lệ cho nó mãi, trong khi hầu như cả thế giới đã dứt
khỏi nó rồi. Có dám dứt ra hay không? Câu hỏi này hiện nay cũng sống còn như câu
hỏi về độc lập dân tộc gần trăm năm trước.
talawas: Nếu sự cáo chung của dự án cộng sản là tất yếu và tại Việt
Nam ngày nay, niềm tin vào đó cũng không còn thực sự tồn tại như ông vừa nói,
thì vì sao những người lãnh đạo đất nước vẫn cương quyết bám vào danh nghĩa của
chủ nghĩa cộng sản? Họ phải có những lí do đủ lớn để huy động một dân tộc trên
80 triệu người tiếp tục hướng đến những giá trị đã phá sản?
Nguyên Ngọc: Có thể có rất nhiều lý do: Vì những đặc quyền đặc lợi mà
người ta phải cố giữ bằng mọi cách; vì sự lúng túng như đã nói trên kia... Bạn
có để ý điều này không: có một hiện tượng "sống gấp" khá phổ biến trong nhiều
người có chức có quyền bây giờ. Vì sao? Vì chính họ cũng không tin ở sự bền vững
của những dự án, những giá trị mà họ hàng ngày kêu gọi mọi người đi theo. Thật
sự là họ đang sống theo những giá trị khác. Vậy thì nhân dân không dại gì mà cắm
cúi đi theo những giá trị chính họ đã từ bỏ trong thực tế đó. Tôi nghĩ rằng càng
ngày càng ít người hơn trong số 80 triệu người như bạn nói còn thật sự hướng đến
những giá trị ấy.
talawas: Vậy sự độc quyền lãnh đạo của Đảng CSVN cần được biện minh
thế nào trong khung cảnh này? Tuy chỉ là một trong 147 điều của Hiến pháp nước
CHXHCNVN, nhưng điều 4 lại là điều duy nhất có thể vô hiệu hoá 146 điều còn lại…
Nguyên Ngọc: Thì chính điều này cũng đã được một số người "bày lên bàn
nghị sự" vừa rồi. Nghĩa là nó cũng đang bị đặt lại. Thậm chí có người đã công
khai đặt vấn đề quay lại Hiến pháp 1946... Tuy nhiên, ngay những người đặt lại
vấn đề đó cũng thấy không thể có ngay sự thay đổi ở đây. Trong thực tế, chưa có
những lực lượng xã hội cho một sự thay đổi như vậy. Hay đúng hơn, những lực
lượng như vậy đang còn trong quá trình hình thành. Và tôi cho rằng, cũng là sự
hình thành tất yếu trước hết từ kinh tế. Kinh tế vẫn là chỗ quyết định nhất, và
hiện nay năng động nhất, cho một chuyển động xã hội cơ bản. Chính vì thế mà
những người như ông Đỗ Mười và ông Nguyễn Đức Bình mới hoảng hốt đến thế, và,
rất nhạy cảm, hoảng hốt đúng vào chỗ đáng hoảng hốt nhất đối với họ.
Tôi nghĩ rằng, nếu Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn thật sự còn là một đảng yêu nước,
như nó từng là như vậy và do đó tạo được sức mạnh cực lớn để làm được những việc
thật lớn trong quá khứ, thì ngày nay chính nó phải chủ động – một cách khôn
khéo, không gây ra rối loạn và đổ vỡ quá đau đớn, tôi đồng ý như vây – chuẩn bị
cho sự thay đổi đó. Đặt quyền lợi của sự phát triển dân tộc lên trên quyền lợi
của Đảng, chứ không phải ngược lại.
Và chính ở đây, cần có vai trò của các "nhà". Họ cần làm công việc chuẩn bị về
lý luận cho sự chuyển động ấy.
talawas: Mẫu số chung của những chuẩn bị về lý luận này là phương châm
cải cách từ bên trong hệ thống, nhằm ngăn chặn sự suy thoái của hệ thống, khiến
nó trở nên tốt đẹp hơn, hoàn thiện hơn, có khả năng tồn tại lâu hơn. Dường như
đây là mấu chốt của sự xung khắc giữa các quan điểm cấp tiến hoặc cải cách với
các quan điểm đối lập hoặc bất đồng chính kiến hiện nay? Ông có tin rằng hệ
thống này có thể được cải biến từ bên trong không? Đã có một ví dụ thuyết phục
nào trong lịch sử nhân loại về khả năng một hệ thống toàn trị tự chữa lành căn
bệnh toàn trị của nó chưa?
Nguyên Ngọc: Vừa qua nhiều người đã nói khá rõ rằng vấn đề không phải
những suy thoái cục bộ mà là ở hệ thống. Khi nói như vậy tức là chừng nào người
nói đã đứng ra bên ngoài hệ thống để nhìn nhận lại hệ thống. Như vậy đã ít nhiều
không còn cái "mẫu số chung" như bạn nói. Và đấy có thể chính là điểm mới của
tình hình hiện nay.
talawas: Không ít người thuộc của cả hai nhóm, cải cách và đối lập,
đều đưa ra những phạm trù đạo đức để kêu gọi lương tâm hoặc đánh thức những tình
cảm cao quý ở giới lãnh đạo cao nhất trong Đảng. Lịch sử của quyền lực trên khắp
thế giới cho đến nay đều không vận hành trên cơ sở của đạo đức, lương tâm hay
tình cảm của cá nhân những người nắm quyền lực. Việt Nam sẽ là một ngoại lệ
chăng?
Nguyên Ngọc: Tôi thấy rất nhiều người đã biết rằng vấn đề không phải là
"lương tâm" hay "đạo đức", và đã không còn ảo tưởng kêu gọi ai đó vì những cái
ấy mà thay đổi. Người ta đã nói đến "cơ chế" (theo nghĩa rộng), thậm chí hệ
thống, hay thể chế.
talawas: Trong thời gian trước, trong và sau Đại hội X, ngoài sự lên
tiếng của một số nhà văn độc lập, không nằm trong guồng máy chính thống hoặc đã
ra khỏi guồng máy đó, chúng ta chứng kiến sự im lặng của đại bộ phận những người
cầm bút còn lại. Ông có thấy mình là mẫu nhà văn dấn thân đang tuyệt chủng tại
Việt Nam không?
Nguyên Ngọc: Không đâu. Không có sự "tuyệt chủng" hay "đơn độc" đâu. Có
điều mỗi người tuỳ hoàn cảnh, điều kiện của mình mà hành động theo cách thích
hợp với mình. Tôi thì tôi vẫn tin ở đại đa số những người cầm bút của chúng ta,
và tôi tôn trọng sự lựa chọn phương thức hành động của từng người.
talawas: Đã có rất nhiều lời hô hào xuất phát từ niềm tin vào những
sức mạnh kỳ diệu nào đó của dân tộc Việt Nam. Riêng ông, ông tin vào điều gì
nhất ở dân tộc này?
Nguyên Ngọc: Tôi vẫn chăm chú theo dõi những chuyển động đang diễn ra
trong xã hội và tôi không quá bi quan. Có những lực lượng mới đang hình thành
trong xã hội, cho những chuyển động mới. Có những nhà doanh nghiệp ngày càng
giàu tâm huyết và có văn hoá, lại đủ khôn ngoan để tồn tại và phát triển. Cũng
có một lớp trí thức trẻ mới đang hình thành và cũng không chịu ngồi yên đâu. Vấn
đề là họ phải hình thành một tầng lớp xã hội thì mới thật sự tạo thành động lực
xã hội.
Chính trên nhận thức đó, mà tôi thấy Đại hội vừa rồi là đáng lo. Với kết quả vừa
rồi, tôi e nó sẽ là kìm hãm chứ không thúc đẩy. Vấn đề cần theo dõi hiện nay và
sắp đến là tương quan giữa hai phía này, phía cuộc sống đang đi tới và phía một
nhóm lãnh đạo vẫn đầy quyền lực nhưng trì trệ, tương quan đó sẽ chuyển động như
thế nào đây. Quả thật như vậy thì mệt nhọc và tốn sức quá, nhưng đó là thực tế
hiện nay.
Tôi không đặt lòng tin vào những "đức tính" trời cho nào đó của dân tộc như
nhiều người vẫn hy vọng. Tôi tin và chờ đợi ở sự vận động của các lực lượng xã
hội. Và trong sự vận động đó có những điều là tất yếu. Nói lại một lần nữa: chỉ
e rằng mất sức nhiều quá, và do đó chậm trễ quá!
talawas: Xin cảm ơn nhà văn Nguyên Ngọc đã dành cho talawas cuộc phỏng
vấn này.
© 2006 talawas