Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Trương Công Anh Đôi điều xin thưa góp về chống tham nhũng |
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7252&rb=0401
Văn hóa Nghệ An
số 75 ngày 25-4-2006 mục "Diễn đàn văn hóa xứ Nghệ" đăng tải bài: “Nhân
đọc bài ‘Bọn tham nhũng chống Đảng’ của Văn Như Cương” của Giáo sư Nguyễn
Huệ Chi. Rất hào hứng và cũng rất thích thú khi đọc bài này. Và ít ra cũng đã
đọc đi đọc lại ba bốn lượt. Đọc kỹ, nghĩ suy rồi từ đó nẩy ra việc phải viết đôi
điều xin thưa góp cùng Giáo sư.
1. Giáo sư viết: "Bệnh tham nhũng không phải là một loại bệnh mới xuất
hiện... nó đã xưa như trái đất". Đúng lắm! Song nói nó đã xưa như trái đất
cũng là một cách nói để mà khẳng định nó "xưa" lắm rồi. Một cách nói khác, cũng
khẳng định được cái "xưa" nhưng có thể sẽ "định vị" được rõ hơn bệnh này có từ
lúc nào trong xã hội loài người. Xã hội loài người xuất hiện giai cấp, xuất hiện
nhà nước, xuất hiện quyền lực nhà nước là lập tức bệnh tham nhũng có điều
kiện, có môi trường xã hội để xuất hiện. Và, bởi vậy, cho đến nay, ở bất cứ quốc
gia nào, chế độ xã hội nào cũng đều phải đối phó với căn bệnh xã hội cực kỳ nguy
hiểm này. "Bệnh" này "xưa" bao nhiêu thì việc phòng và chữa trị nó cũng "xưa"
bấy nhiêu. Tiếc rằng, trên tất cả thế gian này, từ cổ chí kim chưa ở đâu và
lúc nào chữa trị "bệnh" này một cách tiệt nọc cả.
2. Giáo sư lại viết rằng: "... nhưng biến chứng của nó ở Việt Nam thì
vô cùng nguy hiểm vì môi trường phát bệnh ở đây khác rất xa với nhiều vùng khác".
Thiển nghĩ những biến chứng của "bệnh" này không riêng gì ở Việt Nam mà bất cứ ở
đâu cũng đều vô cùng nguy hiểm cả. Chắc Giáo sư muốn nói rằng: ở đâu đó biến
chứng chỉ gây nguy hiểm cho những cá nhân hay tập đoàn nào đó, còn ở Việt Nam ta
hiện tại nó gây nguy hại cho cả dân tộc, cho cả một sự nghiệp chăng? Lại thiển
nghĩ, môi trường "phát bệnh" ở Việt Nam ta có thể có khác, song chắc rằng không
thể "khác rất xa". Bởi "môi trường" "gốc" để phát bệnh, để lây lan của bệnh tham
nhũng là giống nhau, như nhau: Môi trường quyền lực nhà nước! Phải chăng Giáo sư
muốn nói một cách ẩn ý rằng: ở "vùng khác" người ta đa đảng, nên có sự lo bị mất
quyền do tham nhũng. Từ đó, "môi trường" phát bệnh được khoanh lại hẹp hơn. Còn
ở Việt Nam ta do chỉ một Đảng cầm quyền nên chỉ "môi trường" ấy là rộng hơn?
3. Sau khi ghi nhận: "cho nên việc gọi tên, định bệnh, tìm cơ chế lây
lan và biện pháp chữa trị như Giáo sư Văn Như Cương đã làm là một phát kiến đáng
giá", Giáo sư Nguyễn Huệ Chi cho rằng: "hình như việc nghiên cứu của Giáo
sư Văn Như Cương chỉ mới nửa vời, nhất là phần kê đơn bốc thuốc". Lý do để
Giáo sư đi đến kết luận "nửa vời" là: "Ai cũng biết bệnh ấy cơ bản là "của
Đảng, do Đảng" chứ không phải của dân và do dân, thế mà còn đề xuất lấy Đảng
chống tham nhũng thì chống sao được?"
Để khẳng định chính kiến của mình Giáo sư viết: "Đề xuất như thế theo tôi
khác nào dùng lại những phương cách cổ lỗ, không còn mấy hiệu nghiệm giống như
phương cách mà bọn thực dân trước đây đã từng dùng với dân tộc ta mà sách của
Đảng vẫn dạy: "Lấy người Việt trị người Việt", rốt cuộc chúng có đạt được mục
đích đâu".
Ở đây xin không bàn đến "phát kiến đáng giá" hoặc mới nửa vời về bài báo của
Giáo sư Văn Như Cương như nhận định của Giáo sư Nguyễn Huệ Chi. Chỉ xin được có
đôi lời về lý lẽ của Giáo sư Nguyễn Huệ Chi mà thôi!
Bệnh tham nhũng nói cho nó triệt lý thì đó là bệnh của nhà nước (bộ máy nhà
nước, công chức nhà nước, thể chế nhà nước) mà Đảng ta chịu trách nhiệm hết thảy
bởi Đảng ta là Đảng cầm quyền. Còn nếu nói: "Bệnh ấy cơ bản là của Đảng, do
Đảng e rằng chưa thật tận cùng của lý lẽ, lý sự. Rồi từ đó mà kết luận rằng:
"thế mà còn đề xuất lấy Đảng chống tham nhũng thì chống sao được?" thì thật
vô cùng băn khoăn và xin lỗi: vô cùng rối trí và...
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói đại ý như sau: Một Đảng chân chính là một Đảng
dám nhận sai lầm, khuyết điểm, dám và biết sửa chữa sai lầm, khuyết điểm.
Để cho bệnh tham nhũng đến mức trầm trọng như hiện nay là khuyết điểm rất lớn,
là sai lầm lớn, thậm chí có thể nói là lỗi lớn của Đảng ta trước dân tộc, trước
nhân dân và cả trước chính sự nghiệp của Đảng. Điều này là khẳng định bởi Đảng
ta là Đảng cầm quyền. Mọi sự hư hỏng của nhà nước, Đảng đều phải chịu trách
nhiệm. Song, nếu Đảng ta là một Đảng chân chính và sự thật đang là một Đảng
chân chính, dẫu có một bộ phận nào đó cán bộ đảng viên của Đảng hư hỏng,
thoái hóa biến chất. Vậy nếu như Giáo sư viết: "Lấy Đảng chống tham nhũng thì
chống sao được?" thì hoặc là Đảng đã không còn là Đảng chân chính nữa, hoặc
là phải có lực lượng khác lãnh đạo và tổ chức cuộc chiến chống tham nhũng chăng?
Đoạn cuối bài báo Giáo sư viết: "Một nguyên tắc nhất thiết phải tuân theo là
phải dùng lực lượng chống dịch trong thành phần nhân dân là thành phần tuyệt đối
miễn dịch đối với bệnh, nhất là thành phần không có một liên hệ máu mủ nào với
nơi phát bệnh thì mới mong dập tắt được ổ bệnh hoàn toàn".
Đảng muốn làm được bất cứ điều gì - dẫu là nhỏ đều phải dựa vào lực lượng của
dân. Song dân muốn làm được điều gì đó đều cần được tổ chức lại và có sự lãnh
đạo của một lực lượng nào đó. Còn nếu để sức mạnh vô cùng to lớn của dân tự phát
bùng lên thì tác dụng tích cực, kết quả cuối cùng sẽ không như mong muốn nếu
không nói là có khi ngược lại. Bởi thế ý kiến trên của Giáo sư có phần đúng
nhưng lại chưa đủ. Đúng là, dân miễn dịch và không có quan hệ máu mủ nào với nơi
phát bệnh. Song, khi những ông dân, bà dân nào đó được đưa vào "các đội chống
dịch" thì nghịch lý sẽ xuất hiện. Lúc này các ông dân, bà dân lại trở thành các
ông quan, bà quan mất rồi, không còn dân nguyên nghĩa nữa. "Các đội chống dịch"
đương nhiên phải được giao những quyền lực nhất định thì mới chống được những
quyền lực "đen" của bọn tham nhũng. Và như Mác đã từng nói đại ý: Đã đến lúc
phải phê phán bằng vũ khí chứ không chỉ dùng vũ khí phê phán. Vậy là các "đội
chống dịch" dù được tổ chức như thế nào đi nữa thì về thực chất nó vẫn là
một tổ chức quyền lực và những người ở trong tổ chức ấy là những người có quyền
lực, nắm quyền lực. Do vậy họ sẽ không còn "miễn dịch hoàn toàn” như khi họ là
dân nữa. Và, "quan hệ máu mủ với nơi phát bệnh" lại có thể được hình thành. Cho
nên Giáo sư mới muốn có cách tổ chức "như thế nào... để khỏi chính người
chống dịch lại bị bệnh dịch khống chế" (Nói đúng hơn chính người chống dịch
lại mắc đúng cái bệnh ấy).
Thế là: theo Giáo sư "Lấy Đảng chống tham nhũng thì chống sao được?”
Nghĩa là không chống được! Rồi lại theo cái nguyên tắc "nhất thiết phải tuân
theo" như Giáo sư đề xuất lại vấp phải nghịch lý như nói ở trên. Thế thì lấy cái
gì nữa, lấy ai nữa để mà chống tham nhũng, để mà đi trị bệnh cứu người đây?
*
Như trên đã nói: Đến nay, chưa có một quốc gia, một chế độ xã hội nào trị tiệt
nọc được bệnh tham nhũng. Còn chúng ta đã chống, đang chống nhưng xem chừng chưa
mấy kết quả. Vậy buông xuôi chăng? Không! Không thể buông xuôi! Bởi nếu không
trị được bệnh này ở một mức độ nào đó thì Đảng ta sẽ không thể tiếp tục cầm
quyền, chế độ ta không thể tồn tại, đất nước sẽ rơi vào thảm họa, sự nghiệp có
được bởi phải hy sinh biết bao xương máu sẽ tiêu tan. Nhất thiết chúng ta phải
tìm cho được những lý do vì sao chống tham nhũng chưa có kết quả? Nhất định
chúng ta phải kiên trì, kiên quyết với tinh thần khoa học và cách mạng để chống
tham nhũng. Làm cách này chưa được thì làm cách khác. Cách khác chưa được thì
làm cách khác nữa... Chắc chắn rằng: thực tế cuộc đấu tranh một mất một còn này
sẽ dạy chính chúng ta khôn lên từ dám đấu tranh đi đến biết đấu tranh cuối cùng
là biết cách chiến thắng. Dĩ nhiên, chúng ta không thể ảo tưởng rằng: Chỉ cần
làm một lần, chỉ cần chém một nhát là xong. Chúng ta càng không thể trông chờ
vào bất kỳ một "biện pháp" thần kỳ nào để trị bệnh tham nhũng.
Song, nếu chúng ta dày công nghiên cứu về lý luận, tổng kết từ thực tiễn, có ý
thức đầy đủ để học hỏi những quốc gia đã trị bệnh có kết quả nào đó, mở rộng dân
chủ để tập hợp tâm huyết trí tuệ của toàn dân... nhất định chúng ta sẽ tìm được
và thực hiện được những cách làm đem lại hiệu quả từ thấp đến cao, từ bộ phận
đến toàn thể, từ ít đến nhiều,... đẩy lùi từng bước đi đến hạn chế đến mức thấp
nhất căn bệnh này. Mỗi thành công dù nhỏ trong cuộc đấu tranh cực kỳ gay go phức
tạp này càng làm chúng ta khôn lên, càng cổ vũ chúng ta tiến lên để kiên tâm,
bền chí, để tiếp tục đấu tranh.
Có thể, và chắc chắn là chúng ta sẽ phải dùng nhiều loại giải pháp khác nhau,
phải huy động tổng lực nhiều lực lượng chính trị - xã hội trong cuộc đấu tranh
này. Song, dẫu là giải pháp gì - lực lượng nào thì cũng phải theo nguyên lý sau
đây:
Đảng ta - ĐCSVN phải là người khởi xướng lãnh đạo và tổ chức. Đảng phải dựa vào
sức mạnh của chính mình, của cả hệ thống chính trị, của toàn dân tộc, của mọi
tầng lớp nhân dân để tiến hành cuộc đấu tranh này. Để làm được như vậy, Đảng
phải thực sự vững mạnh trong sạch, Đảng phải luôn nâng cao năng lực cầm quyền;
phải lấy việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng làm nhân tố
quyết định để đưa đất nước vượt qua nghèo nàn lạc hậu, để chiến thắng chính mình
và từ đó mà giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống bệnh tham nhũng.
Tháng 5-2006.
Nguồn: Văn hóa Nghệ An số 76, ra ngày 10-5-2006
Nguyễn Huệ Chi
Nhân đọc bài “Bọn tham nhũng chống Đảng” của Văn Như Cương
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=6917&rb=0401
Rất lâu mới
tìm được một
bài báo góp ý cho Đảng thật sự bổ ích của một trí thức
[1] . Những bài góp ý xây dựng Đề cương Đại hội X không phải
không tâm huyết nhưng tiếng nói đóng góp của trí thức xem chừng rất ít. Vì
sao? Ai cũng biết trí thức là bộ phận nhạy cảm, hiện tượng hờ hững đó không
thể nói là bình thường. Phải chăng nói như một người nào đó, sau bao nhiêu
năm sống trong cơ chế “toàn trị”, người trí thức đã thấm thía thân phận của
mình, đành mang tâm lý mũ ni che tai, ngậm miệng ăn tiền: nói thật mang vạ
vào thân? Có phần đúng mà cũng có phần không đúng. Bởi lẽ nhu cầu “nói sự
thật” là một bản năng sống của mọi con người, dầu có phải đào hầm chui xuống
để nói. Anh trí thức làm sao sống ngoài bản năng sinh tồn ấy. Cái chính ở
đây là nói thế nào, nói với ai. Với Đảng, hình như người ta đã biết quá rõ
sau bao nhiêu kỳ Đại hội rồi. Cả người góp cũng thấy cách góp chưa hiệu quả
và cả người được góp cũng thấy lời lẽ không thấm vào tai mình. Việc góp thêm
chỉ là vô ích, giống như đưa thuốc đến cho một con bệnh đã lờn thuốc. Cho
nên, trước một lời mời không kém nhiệt tình mà lạ thay, ai cũng thấy ngần
ngại. Hơn nữa, Đảng với trí thức không phải thuộc loại quan hệ “đầy tớ với
ông chủ” như Đảng xưng với dân mà có vẻ như là quan hệ giữa Giám đốc công ty
và chuyên viên làm việc cho mình. Có điều, công ty đây lại là công ty quốc
doanh không cần lời lỗ, thế nên thuê chuyên viên cũng không thực sự cần đến
chuyên môn tài giỏi, thuê để gọi là cho có “chuyên viên sáng giá”, thế thôi,
còn thì tự mình xoay xỏa lấy cũng xong. Những thế hệ Hoàng Minh Giám, Nguyễn
Văn Huyên, Vũ Đình Hòe, Phan Anh, Đỗ Đức Dục, Đinh Gia Trinh... trọng vọng
hơn nữa là Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại... đã từng là “chuyên viên” một thời
như thế (không nói đến việc dùng người của cụ Hồ trong vòng một ít năm sau
Cách mạng tháng Tám). Gần đây có ý kiến muốn Đảng lại cố gắng tìm ra một thế
hệ Phan Kế Toại mới để mời họ vào cơ quan nhà nước của Đảng, kể cũng là một
hiến kế đáng suy nghĩ, nhưng có lẽ những hiến kế kiểu này càng làm người trí
thức thêm... vì nể, khó lòng mở miệng thốt nên lời. Vì thế một bài báo như
của Giáo sư Văn Như Cương bỗng nhiên trở thành một sự kiện được mọi người
quan tâm cũng là dễ hiểu thôi.
Một lẽ thứ hai cũng khiến mọi người càng thêm chú mục là câu chuyện Giáo sư
Cương đề cập đang là chuyện thời sự nóng hổi, một đề tài hết sức nhạy cảm.
Như hai việc vô hình trung có quan hệ tương hỗ với nhau, vụ việc tham nhũng
tầy đình ở Bộ Giao thông Vận tải góp phần soi tỏ những gì đáng gọi là thiết
thực nhất trong vô số các bản góp ý vào Đề cương Khóa X Đại hội Đảng CSVN.
Mọi lý thuyết cao xa bỗng trở nên vô duyên và những vấn đề cấp bức, nổi cộm,
nhức nhối, “cần làm ngay” đã hiện ra lồ lộ. Phải nói, với vụ việc này chứ
không phải là với bản Đề cương “nặng” đến 27 tỷ, mới làm thức tỉnh số đông
dân chúng nước ta. Chuyện “định hướng”, “kiên trì” này khác, lợi ích cho dân
đến đâu nghe chừng còn mông lung, nhưng những gì đang xẩy ra trước mắt thì
đụng thẳng đến cái “hầu bao” của mọi gia đình (trong nhiều thế hệ). Báo chí
sôi động hẳn lên và có lẽ chưa bao giờ tiếng nói của các phóng viên lại sắc
sảo, kiên cường, giàu sức đối thoại đến thế, cũng chưa bao giờ tiếng nói
người dân bạo dạn và được đăng tải nhiều đến thế. Trên talawas ngày 5-4-2006
có ý kiến ngắn
“Chỉ là công cụ hay trò ‘giậu đổ bìm leo’” của Hoàng Vân tỏ ý chê bai
nhiều tờ báo ở Việt Nam đã lên tiếng hơi rùm beng, cho rằng đây là chuyện
được “bật đèn xanh từ trung ương” chứ làm gì báo chí đã có tự do. Tôi e từ
một con mắt ở thế giới bên ngoài nhìn vào, Hoàng Vân đã có phần cực đoan,
đưa ra một định đề La Palice. Cái không tự do của các phương tiện truyền
thông Việt Nam 60 năm qua thì sờ sờ ra đấy, khỏi cần phải nói. Nhưng Hoàng
Vân không thấy đây là một bằng chứng “bắt tận tay day tận trán” có khả năng
làm sụp đổ cả một uy tín lâu nay vẫn tồn tại trong cái tù mù của nó hay sao?
Cho dù có chuyện “đục nước béo cò”, phái này đánh phái kia thì cũng chỉ góp
phần làm cho mọi chuyện phơi dần ra tất cả mặt trái nhem nhếch lâu nay vẫn
cố tình che đậy, khiến cho trong chiều sâu tâm cảm của cả hai phía, phía cầm
quyền và phía dân, đều rúng động, không thể nào còn “bằng chân như vại” được
nữa. Đó là thời cơ vàng đấy, chứ đâu có phải lúc nào cũng có được! Đương
nhiên, nếu nghĩ rằng sau chuyện này mọi thứ sẽ ra ngô ra khoai ngay thì
chưa. Dẫu không mất đến “mười mấy năm thừa” như Đạm Tiên đợi nàng Kiều, e
cũng còn “hoài công” một thời gian nữa. Đợi cho đến lúc mọi thứ thật chín
mùi. Thì sự đời là thế, nhận thức bao giờ cũng có quá trình tiệm tiến và đột
biến. Cái đột biến trước sau sẽ tới. Báo chí đã giành được cho mình quyền
công khai hóa nhiều sự thật vốn nằm trong bóng tối, tuy rằng có khối sự thật
chưa được phép phơi tỏ, như chuyện 30 tỷ đánh bạc ở một Công ty nọ, hay
chuyện 300.000 USD cũng đánh bạc ở một quan chức cấp cao kia, mà người Hà
Nội đã đồn rần rần. Song thế cũng đã ưu mỹ lắm rồi. Tôi tin rằng cái gì đã
đi tới thì không thể lùi, hay nói như phép biện chứng mà chúng tôi thường
quen nghe: “một bước lùi” phải kèm theo “hai bước tiến”.
Bây giờ tôi chuyển sang bài viết của Giáo sư Văn Như Cương. Bệnh tham nhũng
không phải là một loại bệnh mới xuất hiện trong xã hội loài người, nó đã xưa
như trái đất, nhưng biến chứng của nó ở Việt Nam thì vô cùng nguy hiểm, vì
môi trường phát bệnh ở đây khác rất xa với nhiều vùng khác. Nó hoành hành
không phải với từng cá nhân mà đang làm ruỗng mục cả một hệ thống, bám lấy
hệ thống mà khoét gặm. Cho nên việc gọi tên, định bệnh, tìm cơ chế lây lan
và biện pháp chữa trị như Giáo sư Văn Như Cương đã làm là một phát kiến đáng
giá, đáng được vị Bộ trưởng Y tế liên danh với Bộ trưởng Tài chính và Bộ
trưởng Khoa học Công nghệ cấp bằng phát minh - nếu các vị ấy không bận chữa
bệnh cho chính mình - và Ủy ban giải thưởng Hồ Chí Minh xét cấp giải thưởng.
Tuy nhiên, hình như việc nghiên cứu của Giáo sư chỉ mới nửa vời, nhất là
phần kê đơn bốc thuốc. Giáo sư yêu cầu Đảng chống tham nhũng thì Đảng chẳng
tuyên chiến với tham nhũng từ mấy năm nay rồi còn gì. Vậy mà vì sao vẫn
không chống được, trái lại, hình như nguy cơ trở thành đại dịch còn cận kề
hơn. Chỗ nghịch lý là trước đây Đảng đã từng có kinh nghiệm đánh địa chủ và
tư sản rất giỏi giang, đánh một cách quyết liệt, đến cùng, cho đến nỗi cả
nước từ nông thôn đến thành thị rơi vào cảnh tả tơi, ốm đói suốt mấy chục
năm, vì triệt tiêu mất đi những lực lượng biết tổ chức và quản lý sản xuất,
làm ra của cải dồi dào cho xã hội. Ta còn biết Đảng cũng đánh “sẩy vẩy” khá
nhiều người trong nhiều vụ án nổi tiếng, như ông Nguyễn Phổ con trai văn hào
Nguyễn Văn Vĩnh, một cán bộ hoạt động tình báo lâu năm của Đảng, tịch thu đi
cả một ngôi biệt thự lớn ở 125 Nguyễn Gia Thiều cùng rất nhiều di sản quý
báu do nhà văn hào để lại cho con cháu, đến khi được minh oan thì ông Phổ
hoàn toàn trắng tay vì nhà cửa, của cải, vật lưu niệm vô giá... đã trót chia
cho các quan lớn mất rồi. Thế mà nay Đảng đánh tham nhũng lại ngó như hơi
thận trọng, cầm chừng, hay là quá “bài bản” thì phải. Những tội phạm loại
Trần Mai Hạnh, Phạm Sĩ Chiến, Mai Văn Dâu, Lương Quốc Dũng, Trung tướng Bùi
Quốc Huy... có kẻ chỉ mới “sờ” được vẻn vẹn có 6.000 đô “chiếm đoạt tài sản
xã hội chủ nghĩa”, có kẻ sau ít năm bị giam lấy lệ đã chóng vánh được “tháo
cũi sổ lồng”? Nguyên nhân do đâu? Do “tình cảm giai cấp” sâu sắc, nồng nàn
chi phối từ trong “vô thức”? Do “nghiệp vụ chuyên chính” ngày nay không được
“quán triệt” đến nơi đến chốn như thuở trước? Để giải đáp thanh thỏa những
câu hỏi ấy tất phải từ bên trong cơ cấu tham nhũng mà xem xét mới có thể lần
ra. Tôi nghĩ, Giáo sư Văn Như Cương đã nhận dạng đúng chu kỳ phát sinh phát
triển của bệnh và đặc điểm tâm sinh lý cũng như xã hội của những tạng người
dễ bị lây bệnh, nhưng khi đưa ra phác đồ điều trị thì ông còn quá dè dặt,
chung chung. Ai cũng biết bệnh ấy là “của Đảng, do Đảng” chứ không phải của
dân và do dân, thế mà còn đề xuất lấy Đảng chống tham nhũng thì chống sao
được? Đề xuất như thế theo tôi khác nào dùng lại những phương cách cổ lỗ,
không còn mấy hiệu nghiệm, giống như chính sách mà bọn thực dân trước đây đã
từng dùng với dân tộc ta mà sách của Đảng vẫn dạy: “Lấy người Việt trị người
Việt”, rốt cuộc chúng có đạt được mục đích đâu. Bởi vậy, hưởng ứng ý kiến
của Giáo sư, tôi muốn đóng góp thêm một vài liệu pháp mong giúp Đảng dập tắt
được dịch bệnh một cách triệt để.
Trước hết, muốn trị được bệnh, phải nhìn rõ hiện tượng lắt léo khó đề phòng
của con đường truyền bệnh. Bệnh này chỉ lây trong hàng ngũ quan chức cấp cao
của Đảng. Chức càng cao thì bệnh càng nặng. Nhưng bệnh lại không bộc phát ở
người chức rất cao, mà thường bộc phát ở người có chức vụ trung bình trở
xuống. Người chức cao sau cơn nguy kịch thường đều khỏi bệnh với toa thuốc
“hạ cánh an toàn”, cùng lắm là “xử lý nội bộ”. Nhiều người chức vụ trung
bình cũng khỏi nhờ những toa thuốc đó, nhưng hễ đã bị phát hiện có biến
chứng đột tử, gène di truyền giúp người ta nhanh chóng tìm ra cả một bầu
đoàn thê tử cùng nhiễm bệnh theo. Ấy nhưng, truy cứu theo hướng di truyền
vẫn chưa đủ và có lẽ đó mới là sai phạm chủ yếu trong cung cách đoán bệnh
của thầy thuốc, khiến bệnh chữa mãi mà không tài nào dứt điểm cho. Bên cạnh
cơ chế lây theo di truyền cần nhớ vẫn còn một cơ chế lây bệnh khác, đáng sợ
hơn nhiều: lây theo thần thế, thân quen, bè cánh. Lây bệnh theo di truyền
thì từ một trung tâm phát ra ngoại vi, còn lây bệnh theo bè cánh, thân quen,
là cách lây lợi hại, xâm nhiễm dần cả hai phía, có khi từ dưới lây lên, lại
có khi từ trên lây xuống. Bởi thế, hễ đã phát hiện được nơi đâu có bệnh thì
điều quan trọng bậc nhất là phải nghĩ ngay đến nguyên nhân bệnh lây theo
phía nào là chính. Nếu là lây từ dưới lên thì còn khả dĩ, vì có thể ngăn
chặn từ dưới (như trường hợp Bùi Tiến Dũng), chứ ngược lại, lây từ những bề
trên ở cấp tột cao lây xuống thì nguy cơ khó phát hiện bệnh coi như cầm
chắc. Do chỗ, bệnh lại không dị ứng với quyền lực, ngược lại chính quyền lực
là chất xúc tác ranh ma của bệnh, tỷ lệ thuận với chiều hướng tiến triển của
bệnh, có khả năng đình chỉ hoặc làm chậm lịch trình chẩn bệnh và bao che cho
con bệnh ngay cả sau khi đã bị xử lý. Đấy là ổ khu trú vững chãi nhất của vi
trùng bệnh mà người thầy thuốc dù giỏi mấy cũng đến bó tay. Bệnh đã vào đến
đấy là thập tử nhất sinh (Nhớ lại lời người xưa: “Phúc thống phục nhân sâm
tắc tử”).
Lẽ tất nhiên, nếu biết tiếp thu phương pháp hiện đại nhất của khoa học Âu
Tây, đến nước đó rồi vẫn còn một biện pháp cuối cùng cứu được người chưa lây
bệnh và làm sạch được môi sinh cho bệnh không còn tái diễn, miễn toàn Đảng
dũng cảm chấp nhận đây là một cuộc đại phẫu, có rủi ro hay không chưa chắc,
duy cái lợi đem lại trước hết là một quốc gia có cơ thể an lành (điều này
thì phải nói là thiên nan vạn nan, bởi bệnh tham nhũng là thứ bệnh “kín”, ít
ai dám dũng cảm phơi bày ra tất cả, mặt khác nói như Giáo sư Cương, bệnh
càng nặng, Đảng càng nguy thì cá nhân mắc bệnh càng sung sướng). Biện pháp
rốt ráo ấy là “thay tủy sống” cho hàng loạt bệnh nhân, tức là thay đổi cơ
chế Đảng trị của Nhà nước bằng cơ chế xã hội dân chủ, lập một cơ quan chống
dịch gồm những người khỏe mạnh, sử dụng các liều thuốc luật pháp đặc hiệu
của xã hội dân sự đứng ngoài luật Đảng để ngăn ngừa không cho vi trùng xâm
nhập vào cơ thể vàng ngọc của Đảng ta. Một nguyên tắc nhất thiết phải tuân
theo là chọn dùng lực lượng chống dịch trong thành phần nhân dân là thành
phần tuyệt đối miễn nhiễm đối với bệnh, nhất là thành phần không có một liên
hệ máu mủ nào với nơi phát bệnh (những người không ở trong các thứ mặt trận,
hội đoàn này khác như Mặt trận Tổ quốc do ông Phạm Thế Duyệt chủ trì). Có
thế mới mong dập được ổ bệnh hoàn toàn. Các đội chống dịch này được tổ chức
như thế nào cho có hiệu quả, theo hình thức kiềm chế lẫn nhau, thì còn phải
trưng cầu ý dân, nhưng sự độc lập giữa chúng với các cơ quan Đảng là điều
cần thiết, để khỏi chính người chống dịch lại bị bệnh dịch khống chế.
Điều cuối cùng, khi bệnh đã phát phải tìm cách khoanh vùng bệnh lại, không
cho nó tán phát ra khỏi vùng đang có dịch. Bệnh phát sinh từ trong Đảng thì
phải cố gắng khoanh lại ngay trong Đảng để trị. Những việc như đình chỉ tư
cách Đảng của ông Nguyễn Việt Tiến (nghĩa là biến ông từ Đảng thành dân)
không những không giải quyết được tận gốc mà còn rất tai hại, là một cách
thay đổi đột ngột môi trường người bệnh, khiến cho các vị thầy thuốc nhầm
lẫn, đáng lẽ tập trung chữa bệnh cho Đảng thì lại nhăm nhăm quay ra chữa
bệnh cho dân là người không mắc bệnh bao giờ. Người ta nói việc làm này là
đau Đông chữa Đoài, khu vực có bệnh sẽ lây lan trầm trọng hơn vì mất cảnh
giác, tưởng người bệnh được cách ly rồi, còn khu vực không có bệnh sẽ bị
nghi ngờ vì có những bệnh nhân mới được chuyển đến, do đó bị phong tỏa, tẩy
trùng, tốn tiền uống hoặc tiêm thuốc phòng dịch vô ích. Tốt nhất là trong
tình hình dịch bệnh đang diễn biến như hiện nay, ai ở khu vực nào hãy cứ nên
yên đấy, chờ dập được mầm bệnh đã.
Làm được những việc như thế, với quyết tâm sắt đá của toàn dân toàn Đảng,
tôi dám chắc mọi ca bệnh hiểm nghèo đến đâu cũng sẽ bị diệt, đất nước ta sớm
muộn hoàn trả được các món nợ hàng tỷ tỷ, dân chúng no cơm ấm áo, có tự do
dân chủ, trở lại khỏe như vâm. Nói theo Nguyễn Trãi: “trong chốn thôn cùng
xóm vắng sẽ không còn tiếng hờn giận oán sầu” (ví như cả một làng Thạch Sơn
ở Lâm Thao có 105 người chết và 33 người đang chờ chết vì ung thư chỉ trong
vòng 15 năm nay, do nhà máy quốc doanh chuyên thải nước hóa chất xuống ngòi,
mà đành ngậm tủi không biết kêu ai, sau khi cơ quan y tế đi kiểm tra có kết
luận “đanh thép” rằng nước thải hóa chất ấy không gây ô nhiễm đe dọa đến
sinh mạng!).
Hà Nội 8-4-2006
© 2006 talawas
[1]Văn Như Cương, “Bọn tham những chống Đảng”, tạp chí Tia Sáng, số ra từ 1-15 tháng Tư 2006
03/04/2006 15:35:53
Văn Như Cương
http://www.tiasang.com.vn/newspage?id=411
Căn bệnh tham nhũng đã được nói nhiều, bàn nhiều, viết nhiều. Nhiều biện pháp, nhiều nghị quyết, nhiều ban bệ được lập ra để chống cái bệnh hiểm nghèo đó, nhưng xem ra vẫn chưa có cách gì ngăn chặn được. Gần đây căn bệnh đó đã bùng phát mạnh mẽ và có khả năng trở thành đại dịch.
Căn bệnh này khác thường và nguy hiểm là ở chỗ: kẻ nào mắc bệnh mà bị phát hiện ra thì nguy hiểm đến tính mạng, còn nếu không bị phát hiện thì lại sống ung dung sung sướng. Bởi vậy không thể hy vọng các con bệnh tự mình đi khám bệnh...
Tuyệt đại bộ phận người dân không thể mắc bệnh này, dẫu có muốn mắc bệnh cũng chịu. Chỉ có quan chức mới bị mà thôi. Đối với quan chức nhiễm bệnh thì thường chức càng to bệnh càng trầm trọng, quan chức hạng bé thì bệnh chỉ ở mức sơ sơ.
Trong số những kẻ tham nhũng đã được phát hiện thì đảng viên chiếm đa số và trong số những kẻ tham nhũng sẽ được phát hiện thì chắc chắn đảng viên cũng chiếm đa số. Điều đó không có gì khó hiểu, vì trong thiết kế tổ chức cán bộ hiện nay, những quyền cao chức trọng phải do đảng viên nắm giữ. Ông giám đốc PMU 18 nhất định phải là đảng viên rồi, hơn thế ông ta còn được bầu là đảng viên trong sạch, ông thứ trưởng cấp trên của ông ta càng phải là đảng viên, và còn là phó ban "chống tham nhũng" nữa kia!
Bệnh tham nhũng gây ra nhiều thiệt hại to lớn về tiền của cho dân và cho nước. Nhưng có một thiệt hại hết sức nặng nề không thể tính bằng tiền và của. Đó là nó làm giảm uy tín của đảng, giảm lòng tin của dân vào đảng.
Đảng ta là đảng cầm quyền. Vì thế nhà nước của ta là Nhà nước của Đảng, do Đảng và vì Đảng (cố nhiên nếu đảng là đảng của dân và dân là dân của đảng thì khi ấy ta sẽ thực hiện được phương châm: Nhà nước của dân, do dân và vì dân). Bởi vậy một khi bệnh tham nhũng trở thành mãn tính nặng nề thì không chỉ Nhà nước ta mất uy tín mà chính là đảng ta mất uy tín. Đó mới là điều đáng sợ bậc nhất.
Nếu kẻ thù của chúng ta có thể tìm ra cách gì đó để làm cho bệnh tham nhũng trong đảng viên ngày càng trầm trọng, thì chúng đã tìm ra một ngón đòn chống đảng còn mạnh hơn nhiều ngón đòn khác kể cả ngón "diễn biến hòa bình". Bọn tham nhũng chỉ cần làm cho mọi người hiểu "chống tham nhũng tức là chống Đảng", thì chẳng còn ai dám chống chúng nữa.
Bởi vậy cần đặt vấn đề chống tham nhũng một cách quyết liệt hơn, có tính chất sống còn hơn. Cần quy tội bọn tham nhũng là bọn chống đảng và cần tiêu diệt bọn chúng ngay từ trong trứng. Đảng ta đã có nhiều kinh nghiệm đối phó với những phần tử chống đảng, thì lẽ nào không tiêu diệt được bọn tham nhũng đang chống đảng từ trong đảng?
Văn Như Cương