Đối Thoại          Website: Doi-Thoai.com         Email: toasoandoithoai@yahoo.com


Nguyễn Quang Duy

Hồ Chí Minh - Tuyên Ngôn Độc Lập - Hiến Pháp 1946.

 

Hồ Chí Minh - Tuyên Ngôn Độc Lập - Hiến Pháp 1946.

Nguyễn Quang Duy

Canberra, Úc Đại Lợi

 

Ngày 19/5 vừa qua, điện báo Đàn Chim Việt đã phổ biến bài "Cây biết đi, mặt trời xoay quanh trái đất" cuả Minh Võ. Bài viết đã phản bác một số huyền thoại về Hồ chí Minh. Trong đó tác giả đã bàn đến việc đảng cộng sản đã xử dụng bản Tuyên Ngôn Độc Lập và Hiến Pháp 1946 để tuyên truyền HCM là người yêu dân tộc và yêu dân chủ. Bài viết này mong được đóng góp thêm vào bài viết của tác giả Minh Võ về con người hai mặt Hồ chí Minh.

 

Tuyên Ngôn Độc Lập

 

Ngày 2/9/1945, tại Quảng Trường Ba Đình Hà Nội, Hồ chí Minh đã đọc bản "Tuyên Ngôn Độc Lập" khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.  Mở đầu bản Tuyên Ngôn là lời trích từ bản Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1776 của Hoa Kỳ : "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền đựơc sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc." Và lời trích từ bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của cuộc cách mạng Pháp năm 1791: "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn tự do và bình đẳng về quyền lợi". Băng thâu lời ông đọc ghi rõ ông còn hỏi "tôi nói đồng bào có nghe rõ hay không?" và nhiều người đã hô to trả lời "rõ".  

 

Trong Bản Tuyên Ngôn từ "chúng tôi" đã được lập đi lập lại nhiều lần. Trong tiếng Việt từ này rất khác với từ chúng ta. Chúng tôi hàm ý một nhóm nhỏ. Chúng ta chỉ một tập thể lớn hơn. Vì thế ta có thể suy luận rằng đã có nhiều người cùng với ông Hồ Chí Minh sọan ra bản Tuyên Ngôn này. Chỉ riêng việc những người này đã trích dẫn những tinh hoa của nhân lọai về quyền con người, tự nó đã nói lên sự khao khát về tự do, về dân chủ và về mưu cầu hạnh phúc của đại đa dân Việt lúc đó.

 

Mặc dù, đảng Cộng Sản đã chủ động cướp chính quyền. Mặc dù, tất cả các thành viên của Chính Phủ Lâm Thời đều là đảng viên hay thành viên các tổ chức ngọai vi của đảng Cộng sản. Thông suốt bản Tuyên Ngôn đã không đề cập đến vai trò của đảng Cộng sản hay của giai cấp công nông. Trong khi đó, lại xác định rõ ràng, độc lập chính là nhờ công lao của tòan dân :"...nhân dân cả nước đã nổi dậy..." , "... Dân ta đã đánh đổ ... ", hay " Tòan Dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp" ... Ngay như, cựu hòang Bảo Đại cũng chỉ: "muốn làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ". Bản Tuyên Ngôn đã chính thức xác nhận khát vọng độc lập của đại đa số dân ta, và khi đó khát vọng này chưa bị ô nhiễm bởi ý thức hệ ngọai lai Mác Lênin.

 

Điều này cũng đồng nghĩa với việc đảng Cộng Sản luôn sẵn sàng ẩn mình trong chiêu bài dân tộc. Sau này trong chiến tranh, để gần gũi với dân tộc, họ còn quyết định đổi tên đảng thành đảng Lao Động. Hay trong chiến tranh Nam Bắc, họ đã xử dụng chiêu bài nhân dân Nam Bộ để dựng lên Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Các tổ chức này đã bị giải tán ngay sau khi những chiến xa cộng sản xé bỏ các hiệp định Geneve và Paris vượt vĩ tuyến 17 tràn ngập miền Nam.

 

Bản Tuyên Ngôn nêu rõ ý thức về bổn phận của người công dân :"Tòan thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy." Ý thức này đã được ngừơi dân triệt để tôn trọng. Trong khi đó để tiếp tục được trị vì, một cách nhục nhã đảng cộng sản đã nhiều lần dâng đất, dâng biển, dâng ngừơi dân (nhiều người Việt đã bất đắc dĩ trở thành người Tàu khi Việt cộng hiến đất cho Trung cộng), ... để triều cống đảng cộng Sản Trung Hoa.

 

Hồ chí Minh và đảng cộng sản đã bội ước với dân tộc. Họ đã mang dân tộc vào guồng máy cộng sản quốc tế, mang Việt Nam hết cuộc chiến tranh này sang cuộc chiến tranh khác, hai cuộc chiến với Cam Bốt và Trung cộng chỉ vì những tranh chấp nội bộ quốc tế cộng sản.

 

Chỉ sau sáu mươi năm cầm quyền đảng Cộng sản đã đảo lộn hòan tòan cuộc sống của người dân, cả vật chất, lẫn tinh thần, phá hủy căn bản gia đình, cấu trúc xã hội, văn hóa nhân bản dân tộc ... Việt Nam ngày nay tràn đầy những hận thù, chia rẽ, bè phái, tham quyền, tham nhũng ...  Những quốc nạn này, qua năm tháng và dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản vẫn tiếp tục ngày một tăng thêm.  Với những khoản nợ quốc tế khổng lồ, Việt Nam càng ngày càng lệ thuộc vào chủ nợ quốc tế, độc lập dân tộc đang ngày một mai một. Hằng triệu người Việt đã được đảng xuất khẩu lao động, nhiều trẻ em và phụ nữ đã trở thành nô lệ tình dục, không ngoài mục đích kiếm ngoại tệ trả nợ cho đảng hay làm giàu cho thiểu số đảng viên.

 

Còn gì vui hơn khi nhận được Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ 2006 với 118 chữ ký cuả các nhà đấu tranh Quốc nội. Các vị đã chỉ rõ ước vọng cuả dân chúng thời Cách Mạng tháng Tám là xây dựng một quốc gia Việt Nam tự do dân chủ, chứ không phải là một xã hội xã hội chủ nghiã theo kiểu Nga Tàu. Và ngày 2/9 hằng năm là ngày Quốc nhục chứ không phải là ngày vui cuả dân tộc như đảng cộng sản vẫn ra sức tuyên truyền. Con số người ủng hộ và tích cực ký tên ngày càng tăng thêm.

 

Đảng Cộng Sản bằng mọi lý luận ngụy biện, mọi phương cách từ dụ ngọt đến khủng bố vẫn chưa chịu trao trả những quyền tự do họ đã cướp cuả dân tộc. Mặc dù ngày nay các quyền công dân đã được phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, cũng như được bảo vệ bởi luật pháp quốc gia và luật quốc tế.

 

Mọi tầng lớp dân tộc đang cất tiếng đòi đảng Cộng sản phải tức thì trao trả lại các quyền tự do như tự do thông tin, tự do báo chí, tự do sinh họat xã hội và chính trị, tự do ứng cử và bầu cử, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do kinh doanh,  ... Những quyền tự do này không phải chỉ là những nhu cầu căn bản trong đời sống của người công dân. Những quyền này cũng thúc đẩy tòan dân tham gia công cuộc phục hưng đất nước, xây dựng lại một Việt Nam cường thịnh hòa nhập vào Cộng Đồng Thế Giới.

 

Hiến Pháp 1946 nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

 

Ngay ngày 3/9/1945 trong phiên họp của chính phủ, HCM đã tuyên bố "Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi chế độ thực dân không kém phần chuyên chế nên nước ta không có hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng tự do, dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu". Ngày 20/9/1945, chính phủ lâm thời đã ban hành sắc lệnh số 34 thành lập ban dự thảo hiến pháp gồm 7 người đứng đầu là HCM.

 

Ngày 6/1/1946, cuộc tổng tuyển cử đã được tiến hành. Kết quả là Việt Minh đã chiếm đại đa số trong Quốc Hội. Ngày 20/2/1946, nhân dân Hà Nội biểu tình phản đối kết quả bầu cử có nhiều bằng cớ gian lận, đả đảo chính phủ HCM, yêu cầu cựu hòang Bảo Đại ra cầm quyền để kết hợp tòan dân. Ngày 2/3/1946, trước áp lực của dân chúng và cũng như sức mạnh quân sự của Pháp và Trung Hoa, HCM đã phải thu xếp mở rộng thêm 70 đại biểu (không qua bầu cử) từ các nhân sỹ và các nhà cách mạng không thuộc ĐCS vào Quốc hội. Thành phần dân biểu trong Quốc Hội Việt Nam đầu tiên bao gồm 10 đại biểu đảng Mác xít, 27 đảng Xã Hội, 15 đảng Dân Chủ, 26 đảng Quốc Dân, 22 đảng Việt Cách, 82 tổ chức Việt Minh và đặc biệt 90 đại biểu độc lập.

 

Trong kỳ họp Quốc hội lần thứ nhất này, HCM đã thành lập được chính phủ Liên hiệp Kháng Chiến, do HCM làm chủ tịch. Và Quốc Hội cũng đã bầu lại một Ủy ban dự thảo hiến pháp gồm 11 người thuộc các đảng phái, tổ chức và dân tộc cũng do HCM chủ trì.

 

Rất ít tài liệu lịch sử về nỗ lực cuả Ủy ban dự thảo hiến Pháp. Một bạn đọc đã cho biết ông Nguyễn Hữu Đang đã có công rất lớn trong việc soạn thảo này. Sau này ông đã bỏ mình trong ngục tù cộng sản chỉ vì đấu tranh cho quyền làm người.

 

Trong kỳ họp lần thứ hai, từ 28/10 đến 9/11/1946, Quốc Hội đã thông qua hiến pháp 1946. Hiến pháp này được xây dựng trên 3 nguyên tắc: đòan kết dân tộc, bảo đảm các quyền tự do dân chủ và xây dựng một nhà nước pháp trị. Trong lời mở đầu, hiến pháp này không đề cập gì đến công trạng hay vai trò của ĐCS. Mà nói rõ độc lập là công lao cuả toàn dân. Về nội dung các quyền tự do dân chủ và quyền mưu cầu hạnh phúc của công dân được ghi thật rõ ràng minh bạch. Hiến Pháp này đã được một Quốc Hội hợp pháp, đa nguyên, đa đảng soạn thảo và thông qua.

 

Sau tám mươi năm Pháp thuộc và việc chấm dứt chế độ quân chủ, hiến pháp 1946 đã thể hiện rõ nét cuả một hiến pháp cộng hoà, đề cao tự do và bình đẳng dân tộc. Hiến pháp cũng đề cao vai trò của người lãnh đạo quốc gia, chủ tịch và quốc hội. Hiến pháp này cũng thể hiện tính dân chủ như trong các điều 32 "Những việc liên quan đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý." và điều 70 "Sửa đổi hiến pháp phải theo những cách thức sau đây: ... c/ Những điều thay đổi khi đã được nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra tòan dân phúc quyết."

 

Tuy nhiên, Hiến Pháp 1946 đã không đề ra một cơ quan có thẩm quyền giải thích hiến pháp, phán quyết về tính cách hợp hiến hay bất hợp hiến cuả các đaọ luật, sắc luật, sắc lệnh, nghị quyết và quyết định hành chánh. Để dẫn đến tình trạng đảng cộng sản đã sử dụng và hủy bỏ Hiến Pháp này một cách tùy tiện chỉ nhằm mục đích phục vụ mưu đồ chính trị cuả họ.

 

Ngày 18/12/1959, tại kỳ họp thứ 11 Quốc Hội khoá I, Hồ Chí Minh đã đọc báo cáo về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1946. Ngày 31/12/1959, quốc hội đã đồng ý thông qua hiến pháp sửa đổi. Và ngày 1/1/1960, HCM đã ký sắc lệnh công bố ban hành hiến hháp 1959. Đây là một việc làm vi phạm hiến pháp 1946. Vì đã không làm đúng cách thức sửa đổi hiến pháp như điều thứ 70 đã nêu bên trên. Như vậy các hiến pháp 1959, 1980 và 1992, chẳng qua chỉ là những cương lĩnh của đảng cộng sản vì đã không được "tòan dân phúc quyết" còn gọi là "trưng cầu dân ý". Về tinh thần và chính trị không thể được coi như hiến pháp cuả dân tộc Việt Nam.

 

Qua Đài Á Châu Tự do, luật sư Trần Thanh Hiệp đã nhấn mạnh hiến pháp 1946 là một đạo luật không được ban hành. Dựa trên điều 49, về quyền hạn của chủ tịch, khỏan đ/ "Ban bố các đạo luật đã được nghị viện quyết định." và điều thứ 31 "Những luật đã được Nghị viện biểu quyết, Chủ tịch nước phải ban bố chậm nhất là 10 hôm sau khi nhận được thông tri. Nhưng trong thời hạn ấy, Chủ tịch có quyền yêu cầu nghị viện thảo luận lại. Những luật đem ra thảo luận lại, nếu vẫn được nghị viện ưng chuẩn thì bắt buộc chủ tịch phải ban bố."  Ban hành hiến pháp là một thủ tục luật pháp để xác nhận rằng hiến pháp này đã được biểu quyết một cách hợp lệ. Hiến pháp này sẽ có hiệu lực từ lúc được ban hành và mọi người phải tuân theo. Do không được ban hành bản hiến pháp năm 1946 coi như không có giá trị pháp lý. Có chăng là chỉ có giá trị về mặt chính trị. Cũng theo luật sư Hiệp quyền lập hiến hay quyền soạn thảo hiến pháp cuả người dân đã bị ĐCS sang đoạt qua hiến pháp 1946 và bị chiếm đoạt trong các hiến pháp cộng sản sau này.

 

Từ Cách Mạng tháng tám, trường Luật đã bị đóng cửa cho mãi đến những năm 1980 mới được mở lại. Trong gần 40 năm, đảng cộng sản đã xử dụng các nghị quyết và các sắc lệnh để cai trị người dân.  Điều này hổ trợ cho lập luận hiến pháp 1946 chưa bao giờ được mang ra sử dụng. Sử Gia cũng là chứng nhân lịch sử Đoàn Thiêm đã cho rằng hiến pháp này chỉ có giá trị 3 ngày, tiếc rằng ông đã không giải thích lý do tại sao nó chỉ có giá trị 3 ngày.

 

Về nội dung, khuyết điểm nặng nề nhất của bản hiến pháp này là một mặt điều thứ 49 đã cho phép chủ tịch nước những quyền hạn tối cao, quyền lực tối thượng. Mặt khác hiến pháp 1946 lại có thêm điều thứ 50 hết sức phi lý "Chủ tịch nước Việt Nam không phải chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc."   

 

Cũng cần quan tâm tại Hội Nghị Versailles, năm 1919, Nguyễn ái Quốc đã gởi bản "Yêu sách của Nhân Dân Việt Nam" với yêu sách thứ bẩy mong người Pháp ban hành hiến pháp cho Việt Nam. Thực ra yêu sách này là của cả "nhóm" Nguyễn ái Quốc gồm nhiều người Việt đang vận động dành lại độc lập cho dân tộc, trong đó có Hồ chí Minh. Và cá nhân Hồ chí Minh khi ấy chưa gia nhập đảng cộng sản quốc tế.

 

Qua việc nghiên cứu Hiến Pháp 1946, người viết đã phát hiện thêm một mặt trái về con người của Hồ Chí Minh. Khi chưa cầm quyền HCM đã hết sức tuyên truyền cho việc ban hành một bản hiến pháp dân chủ. Khi nắm được quyền hành, HCM vận động để vừa làm chủ tịch nước lại vừa chủ trì Ủy ban dự thảo hiến pháp. Với kết qủa là hiến pháp 1946 đã cho HCM một quyền uy tối thượng "không phải chịu một trách nhiệm nào". Quyền uy này đã vượt trên cả hiến pháp và luật pháp quốc gia.

 

HCM làm việc này không ngoài mục đích sửa soạn cho cả một guồng máy chuyên chế thần thánh hoá lãnh tụ đảng và sưả soạn cho một thể chế đảng trị. Đúng bài bản độc tài cộng sản Stalin đã đề ra. Thế mà HCM chưa thoả mãn để ban hành hiến pháp 1946. Ngày 1/1/1960, HCM đã ký sắc lệnh ban hành cương lĩnh 1959 cuả đảng Cộng sản lấy "chuyên chế bạo lực" làm "công lý" đưa cả dân tộc vào con đường mòn đầy chông gai chưa rõ lối ra. 

 

Quả thật chỉ sau một thời gian ngắn Hồ chí Minh đã để lộ rõ chân tướng là một đảng viên đảng cộng sản quốc tế trung kiên. Hồ chí Minh cũng đã tốt nghiệp các trường lớp gián điệp quốc tế cộng sản và hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ mà quốc tế cộng sản trao cho. Hồ chí Minh đã xử dụng hiến pháp như một hình thức dân chủ giả tạo đưa Việt Nam vào guồng máy cộng sản Quốc tế. Các hiến pháp sau này từng bước rập khuôn hiến pháp Liên Bang Sô-viết 1936 ban hành thời bạo chuá cộng sản Stalin. Xin xem bài "Hiến Pháp Sô-viết và Các Hiến Pháp Việt Nam". Để sửa soạn ban hành đảng cộng sản quốc tế đã rầm rộ tuyên truyền hiến pháp Liên bang Sô-viết 1936 như một bản hiến pháp "dân chủ nhất thế giới".

Cũng cần quan tâm trong thời gian này, Hồ chí Minh đang được Liên Sô huấn luyện để trở thành một gián điệp cho quốc tế cộng sản đảng.

 

Vận Động một Hiến Pháp Dân Chủ và Nhân Bản cho Việt Nam

 

Hiến pháp là nền tảng để xây dựng một quốc gia dân chủ. Bản hiến pháp cuả mỗi quốc gia là định nghiã về thể chế dân chủ cuả quốc gia này. Bản hiến pháp cũng là bộ luật tối cao quy định các quyền và nghĩa vụ của người công dân, các nguyên tắc xây dựng quyền lực cho chính phủ, các giới hạn của chính phủ và đề ra các thủ tục họat động cơ bản cho chính phủ.

 

Hiến pháp cũng là nền tảng xây dựng các chính sách xã hội, giáo dục, chính trị, kinh tế, văn hoá, ..., các quyết định pháp lý, các đạo luật quốc gia. Hiến pháp còn đề ra các phương cách bổ sung hay sửa đổi khi cần thiết.

 

Do đó điều kiện tiên quyết là hiến pháp cần được sự  đồng thuận của đại đa số ngừơi dân. Thông qua một quốc hội lập hiến được bầu lên chỉ với mục đích hoàn tất bản hiến pháp nguyên thủy này. Và có thể nên mang ra trưng cầu dân ý.

 

Ngay khi các đảng cộng sản còn nắm chính quyền tại các quốc gia như Ba Lan, Tiệp Khắc, … các nhà chuyên môn, các tổ chức dân sự và chính trị (trong đó có các đảng cộng sản), đã ngồi lại với nhau bàn thảo về một hiến pháp mới cho các quốc gia này. Họ bàn về mô hình xây dựng và phát triển quốc gia, về thể chế và mức độ dân chủ, về mức độ quyền lực của nhà nước, về nguyên tắc phát triển kinh tế, thực hiện công bằng, bảo vệ môi trường, bảo tồn văn hóa v.v... Nhờ vậy mà sự chuyển tiếp từ một chế độ cộng sản tòan trị sang một thể chế dân chủ đã tiến hành nhẹ nhàng với những kết qủa hết sức tốt đẹp. Đây là một bài học cho những người đang đấu tranh dành lại dân chủ cho dân tộc.

 

Ở đất nước của chúng ta ngày nay, các chính kiến trái ngược với đảng cộng sản đã được biểu lộ một cách công khai trên các diễn đàn trong và ngoài nước. Phương pháp đấu tranh chính trị tiến tới dân chủ hoá Việt Nam thoạt nhìn lại có nhiều ngã rẽ. Phương Nam vận động cho một cuộc trưng cầu dân ý về đa đảng. Nhiều đảng viên cấp tiến và trí thức trong nước đòi đảng cộng sản phải tôn trọng những gì ghi trong hiến pháp và luật pháp hiện hành hay đòi quay trở lại với hiến pháp 1946. Phong trào dân chủ Việt Nam hướng bầu cử 2007 là bầu cử tự do. Các linh mục Công giáo vận động nếu không được tự do ngôn luận, tự do bầu cử ... sẽ tẩy chay cuộc bầu cử này. Bác sỹ Nguyễn đan Quế với tách đảng ra khỏi chính quyền, bầu Quốc hội Lập hiến soạn một hiến pháp dân chủ và nhân bản. Thực ra đây chỉ là phát khởi cuả đa nguyên chính trị để dẫn đến một nền dân chủ đa đảng.

 

Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ 2006 với 118 chữ ký cuả các nhà đấu tranh Quốc nội ra đời là một bước tiến vô cùng quan trọng trong công cuộc giải trừ chế độ độc đảng cộng sản. Tuyên ngôn càng ngày lại càng được nhiều người biết đến và công khai ủng hộ. Tuyên ngôn đang thúc đẩy mọi thành phần dân tộc ngồi lại với khác cùng thảo luận về tương lai đất nước.

 

Các quan tâm và đòi hỏi để có được một hiến pháp mới là nỗ lực thiết thực nhất nhằm góp phần kiến thiết và xây dựng quốc gia. Việc vận động một hiến pháp mới không ngoài mục đích truyền bá đến mọi tầng lớp dân chúng nỗ lực xây dựng một Việt Nam dân chủ, nhân bản, hiến định và pháp tri. Việc các nhà chuyên môn về hiến pháp, các tổ chức xã hội, chính trị, các thành phần dân tộc sẽ ngồi lại để thỏa luận về tương lai dân tộc. Việc ngừơi dân sẽ chọn lựa một Quốc Hội Lập Hiến để sọan ra một Hiến Pháp Dân Chủ và Nhân Bản đang ngày một gần hơn. Muốn việc này được thực hiện sớm hơn rất cần sự tham gia trong hòan cảnh và khả năng của mỗi người Việt chúng ta ./.

 

Tài Liệu Tham Khảo

 

Nguyễn Quang Duy, "Sáu Mươi Năm Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa", http://www.doi-thoai.com/baimoi 0905_10.html

 

Nguyễn Quang Duy, "Vận Động một Hiến Pháp cho Việt Nam", http://www.doi-thoai.com/baimoi0905_192.html

 

Nguyễn Quang Duy, "Hiến Pháp Sô-viết và Các Hiến Pháp Việt Nam.", Điện thư số 55, Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam, doi-thoai.com , ykien.net (mục tác giả), ptdcvn.org, phusa.net ... 

 

(Các tài liệu tham khảo khác xin xem phần tham khảo cuả ba bài trên)