Đối Thoại          Website: Doi-Thoai.com         Email: toasoandoithoai@yahoo.com


Ðối thoại với ông Võ Văn Kiệt và đảng csvn (1,2,3)

I. Xếp lại quá khứ?
 

Thiên Ðức

 
Nhân ngày 30/4/2007 ông Võ Văn Kiệt nguyên thủ tướng nước CHXHCNVN đã có cuộc trả lời phỏng vấn của Xuân Hồng ký giả đài BBC, như là một hình thức kêu gọi đối thoại hòa hợp hòa giải.

Hưởng ứng lời kêu gọi đó và để dễ dàng có sự đồng cảm trong đối thoại, người viết tự giới thiệu vài dòng về bản thân.

Ông và tôi cùng sinh ra và lớn lên tại miền Nam Việt Nam do hoàn cảnh lịch sử đã ở hai vị thế đứng khác nhau. Thế nhưng cả hai từng có chung một động tác vào một thời điểm. Ông với tư cách cựu thủ ướng, cựu đảng viên cao cấp của Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam đã đóng góp ý kiến yêu cầu đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đổi mới hơn nữa để hội nhập vào thế giới. Tôi, trong tư cách là cựu tù cải tạo, bằng nỗi ưu tư cho dân tộc, đã có ba bài góp ý đại hội X, từng xúc động khi viết bài “Ðảng CSVN cần bao nhiêu máu và nước mắt nữa để xây dựng xã hội chủ nghĩa (XHCN)”:

Phải đối diện với thực tế, máu và nước mắt của thôn xóm tôi, của đồng bào tôi, của các anh, các chị là đảng viên cộng sản và của những tầng lớp con cháu sau này đã đổ ra trong quá khứ và sẽ đổ ra tương lai để hòa chung với nhau không phân biệt giai cấp, không phân biệt chính kiến hay ý thức hệ để vẽ lên bức tranh hoành tráng “XHCN” mà đảng đang tự hào, kiên định thực hiện. (Nguồn: www.doithoai.com)

Tổng Bí thư Nông Ðức Mạnh nhân danh đảng CS long trọng tuyên bố: “Tôn trọng ý kiến khác biệt”. Ông được ưu tiên vào hàng ghế đại biểu, không biết vì lý do gì ông đã không tham dự để chứng kiến sự thật của lời tuyên bố đó. Và cho đến nay ông cũng chưa công khai phát biểu ý kiến của ông về cái gọi là thành quả đại hội X.

Riêng tôi, trong một bài viết về “cuộc cách mạng trắng tức là cách mạng giáo dục tại Việt Nam”, đã có nhận định rằng:

Theo tinh thần văn bản hiến pháp 1992 của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, có thể kết luận như sau: Kết quả Ðại hội 10 của đảng Cọng Sản Việt Nam là một điều sỉ nhục lớn lao cho dân tộc Việt Nam. (Nguồn: www.danchimviet.com)

Tôi đã từng thầm mong ước ba triệu đảng viên ĐCSVN, 600 tờ báo quốc nội và hàng trăm đài truyền thanh truyền hình phục vụ cho chế độ hãy lên tiếng và cho tôi một lời phản biện đúng đắn, để tôi có thể tuyên bố rút lại bài báo đó, để cho dân tộc tôi khỏi bị nhục nhã. Tôi mong là tôi sai, nhưng tiếc thay điều đó lại không đến trong thực tế.

Một điều may mắn, bài báo đó lại đang được diễn đàn Ðàn Chim Việt chọn lựa làm bài văn đề nghị bạn đọc tranh luận cho một cuộc thi viết về đề tài giáo dục. (www.danchimviet.com).

Hiện còn hiệu lực, rất mong ông có thời gian đọc qua loạt bài báo đó và có ý kiến gì về “quyền học tập sự thật của thế hệ sinh viên học sinh” ngày nay, xem như là một đề tài trao đổi của tôi đến với ông, sau khi tôi đã có ý kiến về bài phỏng vấn của ông. Có qua, có lại mới toại lòng nhau, sòng phẳng trong đối thoại, phải không ông?

Chân thành mà nói rằng những lời viết trên đây không phải là một thách đố mà chính là một lời mời trân trọng của người viết đến không những riêng ông Võ Văn Kiệt mà còn đến với tất cả những ai còn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục của đất nước.

Tôi là một người đang nghỉ hưu, chữ danh và lợi không còn là mục đích cần đạt đến trong cuộc sống, nói như vậy để chứng minh một điều tôi chỉ là một người dân thầm lặng đi trong dòng lịch sử.

Trong tinh thần xếp lại quá khứ, trên cả hận thù, tôi sẽ không đi sâu vào quá khứ hận thù mà sẽ đối thoại những vấn đề thực tế hiện tại nhằm đạt đến ước vọng của ông đề ra. Tôi đối thoại cùng ông với tư cách là người dân Việt Nam trong tâm tư tình cảm của người đứng bên dòng sông Bến Hải, đã không còn là lằn ranh địa dư quốc - cộng nữa mà đã trở thành một chứng tích phân biệt giai cấp vô sản và không vô sản, một khi cây tầm vông vạt nhọn vẫn còn nằm ngang trên cầu Hiền Lương ngăn cách đôi bờ dân tộc vậy. Ba mươi hai năm hòa bình với bao thăng trầm lịch sử, là một thời gian đủ dài để đặt câu hỏi “ Ðã đến lúc cây tầm vông này chấm dứt nhiệm vụ hay chưa?”

Phần đối thoại sẽ triển khai theo từng nội dung:

- Xếp lại quá khứ

- Ðối thoại đi đến hòa giai hòa hợp

- Bầu cử quốc hội và người tự ứng cử

I - Xếp lại quá khứ?

Cảm nhận đầu tiên là tôi hoàn toàn đồng ý với ông về cách đặt vấn đề là tại sao kẻ thù trong chiến tranh như Pháp, Mỹ, Trung Quốc còn có thể trở thành bạn, thì tại sao người Việt chúng ta lại không thể ngồi lại với nhau để đối thoại. Thế nhưng tôi không đồng ý với ông trong cách triển khai giới hạn vấn đề chỉ có quá khứ hận thù Quốc – Cộng mà thôi. Vì làm như vậy đã gây ra nhiều ngộ nhận đưa đến bế tắc không giải quyết được gì cả.

Trong bài phỏng vấn, đặc biệt nhấn mạnh đến quá khứ hận thù Quốc- Cộng, ông cho rằng nếu không có yếu tố ngoại nhập thì người Việt hai bên có thể ngồi lại với nhau giải quyết được. Tôi có thể đồng ý với ông về luận điểm này vì rằng cuộc chiến vừa qua khó tránh khỏi, bởi vì đất nước Việt Nam nằm trong một vị trí tiền đồn của vừa của khối tự do và lại vừa là tuyến đầu của khối cộng sản. Thế nhưng toàn bộ vấn đề hòa giải hòa hợp mà ông chỉ nhằm xếp lại quá khứ hận thù Quốc - Cộng, chẳng những không giải quyết dứt điểm vấn đề mà còn đem lại sự nghi ngờ rằng không biết ông có thiện chí và thật tình trong kêu gọi hòa hợp hòa giải hay không?

Trên cương vị từng là một cựu thủ tướng, tất nhiên ông phải thấy rõ hết mọi vấn đề của quá khứ cần giải quyết, chứ không chỉ có một vấn đề Quốc - Cộng. Thật vậy ở đây có đến ba loại quá khứ cần giải quyết như sau:

1) Quá khứ hận thù Quốc Cộng

Có thể quy lỗi cho chiến tranh có yếu tố ngoại nhập như ông từng đề cập, chiến tranh đã chấm dứt, và cũng không cần tranh cãi là ai phải chịu trách nhiệm về quá khứ hận thù này, nên trả về cho lịch sử phán xét.

Một câu hỏi cần đặt ra là có cần thiết để kêu gọi quên loại quá khứ này không? Có thể quên được chăng? Một khi quá khứ này đã gắn liền với con người từ lúc nhỏ cho đến khi cận kề ranh giới của cuộc sống. Theo quy luật tự nhiên con người càng lão hóa lại càng mong muốn ôn lại quá khứ.

Nên chăng để cho vấn đề này tự lụi tàn theo quỹ thời gian còn lại của mỗi người?

2) Quá khứ hận thù dân tộc

Ðây là loại hận thù phát xuất từ những chính sách sai lầm nhằm thực hiện Xã Hội Chủ Nghĩa trên đất nước Việt Nam của đảng cộng sản như cải cách ruộng đất, vụ án “Nhân văn Giai phẩm”, “vụ án xét lại”, “cải tạo công thương nghiệp”, “đánh Hoa kiều”, “bán bãi lấy vàng, đẩy dân ra biển đông” và “chính sách cải tạo đối với quân nhân, dân chính của Việt Nam Cộng Hoà”. Loại quá khứ hận thù dân tộc này giữa người cộng sản và dân tộc xảy đến cho tất cả gia đình hai miền Bắc Nam có thể ảnh hưởng đến nhiều thế hệ chứ không riêng gì thế hệ trong chiến tranh.

Loại quá khứ hận thù này xảy ra trong thời gian hòa bình, hoàn toàn không có yếu tố ngoại nhập.

Như vậy, phải khẳng định rõ ràng là:

- Người quốc gia không gây ra hận thù dân tộc mà chỉ là nạn nhân.

- Người Cộng Sản gây ra hận thù dân tộc xuất phát từ chủ nghĩa cộng sản, đấu tranh giai cấp. Ðảng Cộng Sản phải có trách nhiệm giải quyết.

Quá khứ hận thù Quốc - Cộng và quá khứ hận thù dân tộc là hai vấn đề hoàn toàn khác biệt nhau về bản chất và xuất xứ, cũng như người phải chịu trách nhiệm.

Những ai đồng hóa vấn đề quá khứ hận thù dân tộc với hận thù Quốc – Cộng là người không lương thiện, cố ý trốn tránh trách nhiệm. Ðổ tội lên người quốc gia là chống phá đất nước, chia rẽ và gây hận thù dân tộc là lối tuyên truyền bịp bợm, dối trá cần phải chấm dứt.

Tôi đặt bút viết ra dòng chữ này không nhằm khơi sâu hận thù mà nhằm chỉ rõ ai là người có trách nhiệm và phải làm điều gì để giải quyết dứt điểm quá khứ hận thù.

Ðến đây đã có người lập luận rằng, những chính sách sai lầm đã thuộc về quá khứ, và cái hậu quả của nó, cũng khó mà giải quyết một sớm một chiều. Vậy có thể nào tạm gác qua một bên để có thể đối thoại hòa giải được không?

Câu trả lời: Có thể được nếu đảng Cộng Sản thực tâm nhìn thẳng vào thực tế giải quyết loại sai lầm dưới đây

3) Quá khứ sai lầm về hệ tư tưởng

Ðây là loại quá khứ sai lầm quan trọng nhất và là nguyên nhân chính của mọi nguyên nhân sai lầm trong quá khứ. Ðó là sự sai lầm về hệ tư tưởng Marx- Lenine, chuyên chính vô sản, là lý tưởng của đảng cộng sản Việt Nam đã cố tình áp đặt lên đầu dân tộc Việt Nam trên nửa thế kỷ nay.

Sau khi cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam, đảng cộng sản đã thống nhất địa dư đất nước, nhưng lại chia rẽ dân tộc thành hai giai cấp vô sản và không vô sản. Chỉ có vô sản toàn thế mới có thể đoàn kết lại, còn không vô sản như trí phú, địa, hào, tôn giáo... là kẻ địch phải bị tiêu diệt dưới nhiều hình thức như đánh tư sản, học tập cải tạo, cải cách ruộng đất, đuổi Hoa kiều, bán dân ra biển Ðông, quy hoạch cướp ruộng đất, bóp miệng dân không cho nói...

Sự sai lầm của hệ tư tưởng này không chỉ xảy ra trong quá khứ mà còn duy trì trong hiện tại đó là đảng Cộng Sản Việt Nam với cái đuôi Xã Hội Chủ Nghĩa. Ðây chính là vấn đề cần giải quyết minh bạch và sòng phẳng.

Có người sẽ nói đây là vấn đề nội bộ của đảng cộng sản Việt Nam, nhưng vì đảng mang danh là lãnh đạo nên có tầm ảnh hưởng đến toàn bộ dân tộc.

Trong quá khứ đảng đã từng sai lầm, mà hiện nay lại càng sai lầm hơn nữa để đưa đến sự khủng hoảng niềm tin hiện nay.

Một câu hỏi rất day dứt không thể không đặt ra: Tại sao đảng rêu rao và bắt buộc người dân học tập tư tưởng Hồ Chí Minh từ nhà trường cho đến khu phố, trong khi đảng luôn luôn phản bội ông Hồ Chí Minh?

- Ông Hồ từng tuyên bố : “Không, tôi không có tư tưởng ngoài chủ nghĩa Mác-Lê nin.” (1). Tại sao đảng cọng sản lại áp đặt là Hồ Chí Minh có tư tưởng và bắt dân học tập?
-
- Ông Hồ viết di chúc với ước nguyện hỏa thiêu thân xác, thì đảng xây lăng, ướp xác lại còn giở trò làm xác giả để triển lãm cho khách du lịch.
(www.danchimviet.com)

- Ông Hồ trong di chúc kêu gọi đoàn kết đấu tranh vô sản,trái lại đảng cho đảng viên làm kinh tế không giới hạn qui mô.

- Ông Hồ mong muốn xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân thì đảng thấy dân thì bỏ chạy trốn. Tại sao?

- Ông Hồ chủ trương dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra, thì đảng cố tình bóp miệng dân, không cho nói.

- Từ hiến pháp đầu tiên của ông Hồ cho đến hiến pháp 1992 đều quy định người dân có quyền tự do ngôn luận và tự do ứng cử và bầu cử, nhưng hiện tại những quyền này hoàn toàn bị tiêu diệt.

- Tại sao? và tại sao?...

Ðây là những bằng chứng cụ thể và xác thật về sự phản bội. Nếu ngụy biện cho rằng ông Hồ đã sai, đảng CSVN cần phải làm ngược lại những gì ông Hồ đã chủ trương, thế thì tại sao không đem ông Hồ trở về bảo tàng viện lịch sử kể cả Marx-Lenine? Tại sao không chính thức vứt bỏ hệ tư tưởng Marx-Lenine và Hồ Chí Minh?

Ðảng phải giải quyết dứt điểm quá khứ sai lầm về hệ tư tưởng, không gì khác hơn là giải tán đảng Cộng Sản, sửa đổi hiến pháp, và cắt cái đuôi XHCN.

Thế hệ trong chiến tranh đã khai sinh đảng CSVN, đấu tranh chuyên chính vô sản, giờ đây đã thấy đó là một sự sai lầm, là nguồn gốc của sự hận thù dân tộc hiện nay, nhưng lại không đủ can đảm khai tử nó. Tại sao?

Ðảng cộng sản và lý thuyết Xã Hội Chủ Nghĩa đã đóng xong vai trò lịch sử của nó rồi phải chấm dứt mới có thể đối thoại hòa giải hòa hợp dân tộc.

Những đảng viên cộng sản thuộc thế hệ trong chiến tranh nếu không tự giải quyết sai lầm này mà lại bàn giao lại cho thế hệ sau chiến tranh giải quyết thì đó chính là một tội ác, một trọng tội không những đối với lịch sử dân tộc mà còn là một trọng tội đối với hàng con cháu đảng viên Cs kế thừa. Tại sao hận thù bắt nguồn từ sai lầm của thế hệ trước lại để cho thế hệ sau gánh chịu? Ðó là một nghịch lý không chấp nhận được.

Giờ đây tuổi tác của thế hệ trong chiến tranh nói chung vào hàng hưu trí, đã đến lúc chuẩn bị đặt vấn đề bàn giao trách nhiệm cho thế hệ sau chiến tranh.

Có thể nói rằng: thế hệ trong chiến tranh của người quốc gia chống cộng sẽ ra đi thanh thản, đã làm tròn trách nhiệm của mình, tuy mục tiêu chưa hoàn thành do lực bất tòng tâm, thế hệ sau có thể hãnh diện tiếp nối mục tiêu của cha anh mình là đấu tranh dân chủ tự do cho đất nước.

Ðối với người cộng sản ra đi để lại sai lầm, để lại hận thù cho con cháu mình, quí vị có thể thanh thản được không? Có uất ức hay không khi thấy lý tưởng một đời chiến đấu giờ đây hoàn toàn trở thành những điều xảo trá mà phải để lại cho con cháu như là một di sản vậy? Có cha mẹ nào để lại tội ác và sai lầm cho con cháu hay không? Nếu tin như ông Hồ đã tin: con người có linh hồn để có thể đi thăm cụ Mác, cụ Lenin, thì linh hồn quý vị có thể yên nghỉ được không khi nhìn thấy con cháu ruột thịt của mình sẽ khốn khổ trong máu và nước mắt của hận thù do quý vị để lại?

Chỉ có một cách duy nhất và không còn cách nào khác là quý vị phải đối diện và dũng cảm giải quyết sai lầm đó cho dù phải chịu đau đớn hay mất mát. Ðó chính là cái giá phải trả cho sự sai lầm của đảng cọng sản, chứ không phải là của dân tộc Việt Nam.

Một ai đó đã nói: “Có niềm tin là có tất cả”. Ðảng cộng sản không giải quyết vấn đề này để đem lại niềm tin trong đảng và nhân dân, thì làm sao người quốc gia nói riêng và toàn dân tộc nói chung còn có niềm tin để đi đến đối thoại hòa giải hòa hợp được?

(Xem tiếp Phần II và III)

California, 4/05/2007


Ghi chú: (1) Nguyễn Văn Trấn, Viết cho Mẹ & Quốc hội, Nxb. Văn Nghệ [tái bản], California, 1995, tt. 150-152. Theo đoạn văn nầy, trong một cuộc đối thoại ngắn, Hồ Chí Minh hai lần xác nhận mình chẳng có tư tưởng gì ngoài chủ nghĩa Marx-Lenin.

Thiên Đức

 

Thiên Ðức

 

II/- Ðể hòa hợp hòa giải dân tộc:

Thiên Ðức

Ở phần I người viết đã trình bày rõ ràng lời kêu gọi của ông Võ Văn Kiệt xóa bỏ quá khứ hận thù quốc cọng rất phiến diện, không giải quyết rốt ráo toàn bộ vấn đề chính trị hiện nay tại Việt Nam. Phải đối diện với sự thật để giải quyết vấn đề quá khứ hận thù dân tộc mà người quốc gia chỉ là một bộ phận của dân tộc chứ không phải là tất cả. Có nhìn nhận như vậy, thì mới có thể đi vào thực tế đối thoại được.

Trong giai đoạn hiện nay chưa thể đi vào nội dung đối thoại hòa giải hòa hợp dân tộc, mà mới chỉ là giai đoạn chuẩn bị cho đối thoại (nếu có?) mà thôi.

Cuộc chơi nào cũng phải có qui luật tối thiểu của nó, vậy tại sao khi đề ra đối thoại mà lại không yêu cầu hai bên phải tôn trọng qui luật của sự đối thoại công khai và sòng phẳng?

Trước khi trả lời câu hỏi này, người viết trình bày hai ví dụ điển hình để rút kinh nghiệm thực tế.

- Thời niên thiếu:

Ở cái thời trẻ con còn tắm truồng ngoài đường phố, hai đứa trẻ cùng xóm, thân với nhau, chơi một trò chơi, nếu không đồng ý hai đứa trẻ này đều có thể tranh cãi, thậm chí nếu còn bất đồng thì phải nhờ người lớn giải quyết. Như vậy quy luật của cuộc chơi này là gì? Ðó là sự tôn trọng lẫn nhau và hai bên có quyền ngang nhau, nếu không đạt được thuận thảo thì phải nhờ đến trọng tài, chứ không ai có quyền dùng vũ lực đến trấn áp đối phương để áp đặt lý lẽ của mình lên đối phương.

- Quan hệ hợp tác quốc tế:

Trong đối tác song phương hay đa phương, mọi quốc gia đều phải giữ nguyên tắc tôn trọng chủ quyền lẫn nhau, có quyền đàm phán ngang nhau, nếu chưa đạt sự đồng thuận có thể nhờ đến cơ quan hòa giải quốc tế giải quyết.

Dựa trên nguyên tắc này, Việt Nam là nước kém phát triển về mọi mặt vẫn có thể đối thoại ngang tầm với những siêu cường cũng là kẻ thù trước đây như Pháp, Trung Quốc và Hoa Kỳ, và các nước khác nữa để đạt đến những thỏa hiệp thương mại và được chấp thuận trở thành hội viên thứ 150 của tổ chức WTO. Ðó là một thực tế minh chứng hùng hồn rằng sự tôn trọng chủ thể trong đối thoại là một điều không thể thiếu được trong đối thoại.

Nếu một bên không được tôn trọng, luôn luôn bị đe dọa trấn áp, thì không còn đối thoại nữa, mà là một sự thống trị, áp đặt tư tưởng như đã từng xảy ra trong thời thực dân xâm lược.

Trở về ý kiến của Ông Võ Văn Kiệt kêu gọi đối thoại, vấn đề chính không phải là người dân Việt và cộng đồng người Việt chống cọng không muốn đối thoại mà chính họ đã từng đề nghị đảng cọng sản đối thoại kể từ khi chấm dứt cuộc chiến cho đến nay, điển hình gần đây nhất trong vụ ông thủ tướng Phan Van Khải sang Mỹ người Việt hải ngoại cũng từng kêu gọi đối thoại theo những đề tài công khai và đưa trước, nhưng nhà nước CSVN vẫn trốn chạy trước đề nghị hợp tình hợp lòng dân đó. Dân oan nằm ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng và những lề đường Saigon hằng chục năm nay chờ đối thoại với nhà nước, mà sao nhà nước vẫn né tránh?

Và sắp đến đây ông Nguyễn Minh Triết sang Mỹ có sẵn sàng đối thoại với cọng đồng hải ngoại hay không?

Như vậy vấn đề còn lại là ở chỗ đảng Cọng sản có thiện chí, có muốn đối thoại hay không?

Một khi đảng Cọng sản chấp nhận đối thoại với dân tộc nói chung và cọng đồng người Việt quốc gia nói riêng, thì đảng cọng sản phải tôn trọng những nguyên tắc tối thiểu như sau:

1)- Tôn trọng chủ thể đối thoại:

Như trên đã nói, nhằm mục đích xóa bỏ hận thù dân tộc, như vậy chủ thể đối thoại với đảng cọng sản là người dân Việt trong và ngoài nước, họ là người có quyền lên tiếng nói trong ôn hòa và bất bạo động về bất cứ một lãnh vực nào đó cho dù là khác biệt thì không thể căn cứ vào đó để mà đe dọa, trấn áp tù đày họ.

Xét lại trong thực tế đảng cọng sản đã làm được điều này chưa? Hiện nay tất cả những người lên tiếng về dân chủ nhân quyền cho Việt Nam, cũng như những dân kêu oan vẫn bị tù đày trấn áp, thì làm sao thực hiện được sự đối thoại sòng phẳng, thưa ông Vỏ Văn Kiệt?

2)- Phương tiện đối thoại:

Ðiều cơ bản để đối thoại đó là quyền tự do ngôn luận được ghi rõ rằng trong hiến pháp, chỉ có thể thực hiện điều này qua báo chí tư nhân, thế mà ông Nguyễn Tấn Dũng đã công khai cấm báo chí tư nhân lại còn rêu rao đó là ý nguyện của đa số người dân là một sự dối trá trâng tráo của một vị lãnh đạo nhà nước không thể chấp nhận được. Hiện nay hệ thống báo đài đều là của nhà nước, vậy người dân trong và ngoài nước muốn đối thoại sẽ thực hiện ở đâu?

Mục đích đối thoại là để hòa giải dân tộc vậy, mọi người dân đầu có quyền thông tin đầy đủ và tham gia cuộc đối thoại đó. Vì vậy cuộc đối thoại phải diễn ra ở trong nước và phải được phổ biến công khai trên báo đài trong đó có báo chí tư nhân. Ðảng Cọng sản đã sẵn sàng chấp nhận điều đó hay không?

Nếu người dân không được biết và không được đối thoại công khai thì tất cả mọi cuộc đối thoại ( nếu có?) xảy ra không hội đủ hai tiêu chuẩn này có ý nghĩa gì không?

3)- Chứng tỏ thiện chí đối thoại:

Tóm lại, tôi hoàn toàn tán đồng với ông Võ Văn Kiệt về lời kêu gọi đối thoại để đi đến hòa giải hòa hợp. Thế nhưng trước khi đi vào đối thoại, đảng cọng sản phải thể hiện thiện chí của mình bằng hành động thực tiễn , nói theo ngôn ngữ bình dân là: “có thấy mới tin” như sau:

-         Trả tự do cho tất cả những người đang bị giam giữ dù có án hay chưa dưới cái tội chống phá nhà nước. Họ thực sự chỉ là những người nói lên ý kiến khác biệt của mình với nhà nước, một cách ôn hòa và bất bạo động. Trả lại quyền tự do ngôn luận cho người dân, thể hiện quyền này là tư nhân được quyền ra báo.

-         Và trả lại quyền học tập sự thật cho sinh viên học sinh. Sinh viên học sinh là tương lai của đất nước họ có trách nhiệm và phải biết sự thật về lịch sử đất nước. Cụ thể là đảng phải đưa chính trị ra khỏi học đường bằng cách dẹp bỏ guồng máy chính trị đảng ra khỏi nhà trường, trả môn học Mac Lê Nin trở về đúng giá trị triết học của nó. Sinh viên học sinh cũng là người dân là thế hệ sinh sau chiến tranh, không hận thù dân tộc, thì không ai được quyền mang hận thù giai cấp choàng lên đầu họ và họ cũng có quyền tham gia đối thoại công khai và sòng phẳng. Nhà nước đã từng phán xét rằng miền nam Việt nam đã bị đế quốc Mỹ xâm lược, nhưng sinh viên học sinh ở miền Nam trước 30- 4- 75 vẫn có quyền tổ chức sinh hoạt công khai hội thảo, xuống đường vẫn có quyền nói lên ước vọng hòa bình của mình trong một chế độ chủ chiến dưới sự bảo vệ của luật pháp. Thế thì tại sao hòa bình đã ba mươi hai năm nay, mà sinh viên học sinh lại không được quyền góp ý xây dựng và phát triển cho quê hương mình? Ðó là một nghịch lý không thể chấp nhận được.

-         Ðề nghị cuối cùng, một thực tế không ai chối cãi,thế hệ trong chiến tranh của cả hai bên đều đang bước vào ngưỡng cửa xưa nay hiếm, dù muốn hay không thế hệ này cũng phải bàn giao sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước lại cho thế hệ sau chiến tranh, vậy tại sao không tạo một diễn đàn đối thoại công khai và tự do để cho các thế hệ sau chiến tranh được giao lưu, tìm hướng phát triển tốt đẹp cho đất nước. Ðó chính là bước chuẩn bị tốt đẹp để cho thế hệ này nhận lãnh trọng trách đối với tương lai đất nước. Ðảng cọng sản cấm đoán điều này, thì chính đảng cọng sản là một vật cản trên đà phát triển đất nước. Phải chăng đã đến lúc đặt vật cản này vào đúng vị trí lịch sử của nó hay chưa?

4)- Trưng cầu dân ý:

Cuối cùng, nếu tất cả cuộc đối thoại này không đạt được sự đồng thuận thì phải giải quyết ra sao?

Trong sinh hoạt dân chủ chỉ có một cách hữu hiệu nhất để giải quyết sự bất đồng này đó là “Trưng cầu dân ý” với sự giám sát của quốc tế.

Kỹ sư Ðỗ Nam Hải là người đưa ra ý kiến trưng cầu dân ý về những vấn đề bức xúc của giới trẻ nhằm cải thiện cho chế độ, không hề tỏ ý lật đổ chế độ bằng bạo lực, như vậy là một thiện chí, một dấn thân dũng cảm của người trí thức trong giai đoạn hiện nay. Tại sao đảng cọng sản lại tìm mọi cách cô lập kỹ sư Hải từ kinh tế, phương tiện thông tin, đe dọa khủng bố tinh thần ông Hải và cả gia đình họ, đảng cọng sản đã sai lầm đẩy ông Hải từ vị trí của một công dân thiện chí xây dựng chế độ tốt đẹp hơn bằng một phương cách sinh hoạt dân chủ, sang một vị trí đối kháng như hiện nay.

Trở lại quá khứ sai lầm về hệ tư tưởng chuyên chính vô sản, những ai không vô sản đều là địch. Thậm chí đối với những người đã từng đi cùng với đảng cọng sản trong chặng đường “chống Mỹ cứu nước?” trong thành phần thứ 3 và Mặt trận giải phóng miền Nam, nhưng không vô sản cũng đều là kẻ địch(?).Tại sao không cho họ lên tiếng nói, cho dù khác biệt thì có đáng tội hay không để bị trù dập, cô lập rồi tiêu diệt như đã xảy ra trong quá khứ, như trường hợp ông Trương Như Tản, ls. Nguyễn Hữu Thọ, ls. Trương Ðình Dzu, Nguyễn Văn Hảo.. v.v..

Người quốc gia chống cọng cũng có nhiều khuynh hướng khác biệt nhau từ chống cộng ít, đến nhiều, từ cương quyết kiên định lý tưởng đến xu thế hòa hoãn, tất cả giờ đây góp tiếng nói trong hòa bình, bất bạo động thì có cần xua đẩy họ vào vị thế mãi mãi đối nghịch nữa hay không?

Người dân oan vô tội, đòi hỏi quyền lợi chính đáng bắt nguồn từ những sai lầm của nhà nước, đảng cọng sản có cần dồn ép họ vào con đường đối lập chính trị để đàn áp tù đày họ hay không? như trường hợp ls. Bùi Kim Thành, Hồ Thị Bích Khương và nhiều người khác nữa.

Ðây chính là những thất bại. Không thể để sai lầm tiếp nối sai lầm tái diễn , nếu đảng cọng sản muốn đối thoại thì phải chứng tỏ thiện chí của mình chấp thuận nguyên tắc: “nếu không giải quyết được trong đối thoại thì phải đi đến việc trung cầu dân ý”Ô. Và những ý kiến của thiểu số cũng không vì thế mà bị tiêu diệt, mà họ có quyền bảo lưu ý kiến của mình. Lịch sử đã từng chứng minh rằng ý kiến ngày hôm nay đúng nhưng không có nghĩa mãi mãi là đúng.

Phải có sự đảm bảo tôn trọng những nguyên tắc tối thiểu, và đảng cọng sản phải chứng tỏ thiện chí của mình như đề nghị trên, thì mọi cuộc đối thoại mới có ý nghĩa và đi đến kết quả mong muốn là : “Hòa giải hòa hợp dân tộc” chứ không phải là hòa giải hòa hợp quốc cọng.

 

III/- Ý kiến về bầu cử và tự ứng cử

Thiên Ðức

Cũng trong cuộc phỏng vấn này, ông Vỏ Văn Kiệt tỏ ý đồng thuận với đảng và nhà nước tổ chức bầu cử, qua những động tác hiệp thương 1, 2, 3 là được. Ðến đây tôi thật sự hoàn toàn thất vọng về ông. Trong những lần góp ý kiến đại hội đảng X, dù muốn dù không ông cũng đã gây được một ít niềm tin hy vọng cho những ai còn ưu tư đến đất nước, trong đó có cá nhân người viết. Thế nhưng, ý kiến của ông bằng lòng với hiện trạng tổ chức bầu cử đã hoàn toàn đánh mất niềm tin hiếm hoi đó.

Thật vậy, cùng với loạt bài viết đối thoại với Trần Mạnh Hảo có đề tài:
“Nhà nước Việt Nam chống lại hiến pháp”, tôi cũng đã từng chứng minh đầy đủ qua bài viết “Quốc hội phản bội hiến pháp” với chứng cứ và văn bản luật pháp theo chi tiết từng tiểu mục

I/- Vi hiến về quyền bầu cử:

II/- Vi hiến về quyền ứng cử

III/- Vi hiến về bản chất đại biểu quốc hội.

IV/- Quốc hội phản bội hiến pháp qua việc trốn tránh trách nhiệm trước cử tri

Tôi tin rằng ông và đảng csvn biết rõ ràng về sự thật đó, thế nhưng ông giả như không biết để hoàn toàn đồng ý việc làm của chế độ, đã chứng minh ông là kẽ đồng hành hay là kẽ đồng lõa với những sai lầm đó, chứ ông đâu có thật tình mong muốn lên tiếng nói công đạo cho người tự ứng cử.

Thiết tưởng ông và đảng cọng sản có thể tham khảo đầy đủ nội dung loạt bài viết trên như là một hình thức phản đối ý kiến đồng tình của ông đối với việc tổ chức bầu cử hiện nay. Tôi thấy không cần thiết để lập lại vấn đề này. Và tôi sẽ đối thoại cùng ông về ý kiến có nên khuyến khích người tự ứng cử hay không?

Theo ông thì nên khuyến khích hơn nữa người tự ra ứng cử, thế nhưng ông không đề ra một biện pháp nào cải thiện phương cách tổ chức bầu cử hiện nay, vì thế đã có người nhận định là ông nêu ý kiến chỉ nhằm “đấm bóp” thời cuộc hơn là thực tâm mong muốn cải thiện cuộc bầu cử hoàn chỉnh hơn.

Trái lại, đối với ý kiến cá nhân tôi sự khuyến khích người tự ứng cử, chỉ là trò múa rối mà thôi. Thực vậy, cuộc bầu cử 20 - 5 - 2007 không phải là cơ hội cho người tự ứng cử dấn thân đem tài năng phục vụ đất nước, vì theo cơ chế hiện nay không dành cho người tự ứng cử một chút ánh sáng hy vọng nào để có thể công khai đi vào ngưỡng cửa quốc hội.

Cửa ngỏ đi vào quốc hội của người tự ứng cử thật sự khép chặt từ khâu thăm hỏi xin đơn ứng cử cho đến khâu cuối cùng kết quả đếm phiếu. Người viết sẽ lần lượt trình bày tuần tự từng giai đoạn như sau:

1)- Tại sao cơ cấu và ấn định trước tỷ lệ người tự ứng cử hay người ngoài đảng trước khi tổ chức hiệp thương bầu cử?. Quy định những chỉ tiêu từ 10% - 20% cho người ngoài đảng trước khi tiến hành tổ chức bầu cử là những bằng chứng hùng hồn để chứng minh cuộc bầu cử hiện nay là mị dân, hoàn toàn xảo trá vì đã áp đặt kết quả phải đạt được trước khi tiến hành bầu cử.

Một trận đấu nếu áp đặt tỷ số thắng bại trước, tất yếu cầu thủ hai bên phải bán độ đã bị chế tài hình sự. Thế thì tại sao quốc hội chưa bầu lại áp đặt công khai kết quả ai là người phải thắng cử để giữ chức vụ nào đó trong cơ cấu và thành phần ngoài đảng là bao nhiêu?

Ðể đạt được điều này, tất yếu ủy ban bầu cử từ trung ương đến địa phương đều phải tham gia trò chơi gian lận đó. Là một hình thức bán độ bầu cử thiệt hại cho quyền lợi dân tộc nguy hại hơn cả các cầu thủ bóng đá bán độ.

2)- Nộp đơn và rút đơn ứng cử.

Những người tuyên bố tự ứng cử đã gặp rất nhiều khó khăn về phía chính quyền địa phương ví dụ anh Phạm Hùng Vỹ từ khi tuyên bố tự ứng cử, đã bị áp lực của công an khu phố và địa phương đe dọa gia đình và bản thân người tự ứng cử để rút lui ý định ứng cử, là một bằng chứng sống không thể chối cải được.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/05/02/Self-nominated_candidate_for_national_assembly_election_TMi/

Nếu là người tự ứng cử trong đảng thì sẽ gặp khó khăn từ phía đảng do đó bắt buộc phải rút đơn như ông Ðặng Hùng Vỏ, ông Trương Ðình Tuyển...

Khuyến khích người ứng cử, tại sao Nông Ðức Mạnh lại tuyên bố : “Chúng ta không cho phép trò chơi dân chủ lọt vào quốc hội mới”. Lời tuyên bố đó như là một hiệu lệnh thanh lọc thẳng tay bằng những biện pháp đe dọa, trấn áp, giam giữ, tù đầy , những thành phần bất đống chính kiến trước thời gian nộp đơn ứng cử để họ không còn cơ hội tham gia ứng cử. Thế mà ông không hề lên tiếng phản đối hành vi này trái lại ông đồng tình cho là được.

3)- Lấy ý kiến địa phương, với số đại diện cử tri chọn lọc của ủy ban bầu cử địa phương là một hình thức loại bỏ những ứng cử viên không đồng hành với chế độ trước khi bầu cử chính thức. Ðiều tệ hại hơn nữa khi biểu quyết bằng cách công khai đưa tay để quyết định số phận người tự ứng cử là hoàn toàn vi phạm nguyên tắc luật pháp và hiến pháp đó là bầu phiếu kín Ví dụ trường hợp ls. Lê Công Ðịnh, ông Cù Huy Hà Vũ...

Một vấn đề tranh cãi về pháp lý ở đây, việc lấy ý kiến cơ sở hay địa phương có phải là một hình thức bầu cử sơ bộ, trước khi bầu cử chính thức hay không? Vì những người tự ứng cử có kết quả dưới 50% đều bị loại ra khỏi các vòng hiệp thương. Như vậy đã trái với nguyên tắc bầu cử trực tiếp theo hiến pháp đ.7 và luật bầu cử đ.1.

4)- Hiệp thương là một hình thức gạt bỏ những ứng cử viên không đồng quan điểm với đảng cs. Thật vậy thành phần trong những lần hội nghị hiệp thương là ai? Ðều là những đảng viên cs đại diện cơ quan đoàn thể được chọn lọc, thì người tự ứng cử ngoài đảng làm sao có cơ may qua được cửa ải các lần hiệp thương này? Con số người tự ứng cử là 238 ban đầu giờ đây chỉ còn lại 30 người tức là 1/8 (tức là 3,4% trên tổng số 876 ứng cử viên được công bố sau cùng) đã chứng minh sự thật đó.

Người tự ứng cử dù có lọt qua được vòng cuối hiệp thương cũng khó mà có kết quả thắng cử bởi vì :

-         Ứng cử viên không có quyền chọn lựa đơn vị bầu cử, ủy ban bầu cử có toàn quyền phân phối ứng cử viên về các đơn vị bầu cử mà không cần theo một tiêu chuẩn nào cả. Vì thế ủy ban bầu cử có thể nắm chắc kết quả bầu cử qua công việc phân phối ứng cử viên xuống đơn vị bầu cử. Thật vậy ủy ban bầu cử muốn loại một người nào chỉ cần đưa người đó đến một đơn vị xa lạ, khác tôn giáo, chánh kiến hay có những đụng chạm từ trước thì người ứng cử viên sẽ không còn cơ may nào trúng cử. Ở khía cạnh pháp lý, điều này đã hạn chế quyền bầu cử của người dân, vì làm như vậy người dân chỉ có thể bầu những người mà họ không hề biết gì cả, thay vì bầu cho người mà họ đã từng tín nhiệm (vì người được tín nhiệm đã được ủy ban bầu cử phân phối ở đơn vị khác).

-         Ứng cử viên không được tranh cử nghĩa là không được tự ý đi vận động riêng rẽ, tất cả công việc này đều do ủy ban bầu đảm trách. Như vậy người tự ứng được điều đến một đơn vị dân cư xa lạ, thì ai biết mà bầu. Trong khi đảng viên được đề cử chí ít cũng được người trong đảng biết và rỉ tai nhau bầu chọn.

-         Ðiểm cuối cùng tại thùng phiếu và khi kiểm phiếu đều không có quan sát viên của người tự ứng cử ngoài đảng, thì điều gì sẽ xảy ra nếu kết quả bầu cử xảy ra ngoài ý muốn của ủy ban bầu cử? Trời biết, đất biết, nhưng người tự ứng cử không bao giờ biết ngoại trừ một điều là biết mình bị thất cử.

Trong thực tế đã chứng minh, có nhiều hộ không đi bầu, hay đi bầu trễ đến thùng phiếu thì được thông báo là có người bầu thế rồi, vậy những phiếu bầu thế đó bầu cho ai? Ðó cũng chính là câu trả lời cho câu hỏi vì sao có kết quả 100% đi bầu và 100% cho ứng cử viên vậy.

Tóm lại khuyến khích người tự ứng cử nhưng lại không mở sinh lộ cho họ bước vào tòa nhà quốc hội, thì chỉ là trò múa rối hay là những tên lót đường để cho cử tri nhắm mắt gạch cho xong chuyện mà thôi.

Qua ba bài viết trên, thiết nghỉ ông Vỏ Văn Kiệt có thể nhìn lại mình về những lời kêu gọi vừa qua đã thật tâm chưa?, và ông đã làm hết khả năng của mình để bảo vệ cái đúng của mình hay chưa? Tôi tin rằng ông và tất cả người đảng viên cọng sản còn tỉnh táo sáng suốt nhận ra đâu là sự thật và đâu là xảo trá, bằng vào khả năng của mỗi người có thể làm hơn thế nữa để cho tầng lớp kế thừa sau chiến tranh có thể xây dựng phát triển đất nước một cách hài hòa trong dân chủ, tự do. Một đất nước Việt Nam không còn hận thù quốc cọng, hận thù dân tộc, và nhất là không còn máu, nước mắt, hận thù giai cấp do quí vị để lại cho tầng lớp con em cọng sản kế thừa. Ðó chính là điều mong ước duy nhất muốn đạt được của loạt bài đối thoại công khai và sòng phẳng này vậy.