Đối Thoại                                            Website: Doi-Thoai.com                            Email: toasoandoithoai@yahoo.com


Giáo sư Lawrence H. Summers, Hiệu trưởng, Đại học Harvard:

Trường đại học - nơi ý tưởng có quyền lực thống trị

 09:15' 27/06/2005 (GMT+7) VietNamNet

 

 

CỘNG SẢN VIỆT NAM RA LỆNH CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC NƯỚC NGOÀI PHẢI GIẢNG DẠY LÝ THUYẾT CỘNG SẢN

(Dich tin "Foreign Universities in Vietnam Are Ordered to Teach Communist Ideology" của DPV Martha Ann Overland từ Hà nội)

Nhà nước cộng sản Việt Nam (VN) đã ra lệnh cho tất cả sinh viên VN theo học ở các đại học do người nước ngoài quản trị phải học các môn học về lý thuyết cộng sản và  tư tưởng Hồ Chí Minh!

 Sắc lệnh đã được ban hành vào tháng tư nhưng mãi đến tuần lể ngày 6 tháng 6 mới được phổ biến công khai, sinh viên phải thi đủ điểm về các môn học "Triết Lý Marxist-Leninist", "Lý Thuyết Kinh tế  Marxist-Leninist", "Khoa Học Xã Hội Chủ Nghĩa", "Lịch Sử Đảng Cộng Sản VN", và "Tư Tưởng Hồ Chí Minh."

Tất cả công dân VN theo học các trường bắt đầu từ trung học trở lên,  công hay tư, từ lâu đã bị cưởng bách phải  học các môn này. Đây là lần đầu tiên các đại học do người nước ngoài làm chủ bị bắt buộc phải giảng dạy các môn về lý thuyết cộng sản.

Văn Đình Hưng, phụ tá Bộ Trưởng Giáo Dục và Huấn Luyện, nói rằng: "Học sinh là lực lượng nồng cốt của tương lai, và là tương lai của xã hội chủ nghĩa," Ưng tiếp: "Vì nền tảng phát triển của đất nước là xã hội chủ nghĩa, do đó lý thuyết và triết lý Marxist-Leninist cần phải được giảng dạy. Mặc dù hiện nay chúng ta đang áp dụng một phần của lý thuyết tư bản ... chúng ta vẫn phải dựa vào lý thuuyết xã hội vì thể chế chính trị của chúng ta được đặt nền tảng trên các định luật này.

Khoảng hơn chục đại học nước ngoài, như đại học Hawaii-Manoa, đã hợp tác các chương trình giảng dạy chung với các đại học của người Việt trong xứ. Bởi vì có quá nhiều luật lệ ràng buộc, cho nên chỉ có một số ít đại học nước ngoài đặt cơ sở tại VN. Sau 15 năm chờ đợi xin đựoc phép mở trường, một cơ sở giáo dục Mỹ - American Pacific University -  lần đầu tiên được cấp giấy phép mở trường tại VN vào tháng giêng, năm 2005.

Bình Thy Nguyễn Trần, một người Mỹ gốc Việt  về Sài Gòn để mở trường đại học, cảm thấy không hài lòng về việc bắt buộc phải dạy các môn học này. Tuy nhiên, bà Bình nói cũng không gì trở ngại.  Thay vì đưa các môn học này vào chương trình giảng dạy,bà Bình dự trù sẽ yêu cầu bộ giáo dục gởi những giáo sư điạ phương đến để giảng dạy các môn này.  Như vậy, trường sẽ thỏa mãn đòi hỏi nầy của nhà nước mặc dù các môn học về lý thuyết cộng sản được coi như là những môn "không bắt buột" (?)

Bà Bình nhấn mạnh: "Chúng tôi sẽ theo đúng các luật lệ trong nước. Chúng tôi chỉ để ý nhiều đến khả năng giảng dạy của giáo sư, và chúng tôi muốn họ phải là các giáo sư giỏi, còn các môn học về lý thuyết cộng sản chúng tôi để nhà nước lo liệu, chúng tôi không muốn dính dáng đến.

VN đã tiến đến một nền kinh tế thị trường kể từ khi áp dụng chương trình "đổi mới" vào năm 1986, giống như chương trình đổi mới "Perstroika của Liên Bang Sô Viết cũ. Với luật mới về thương mại, đầu tư nước ngoài đã tăng mạnh và kinh tế VN gia tăng đều đặn ở mức độ 7%,  được ghi nhận   là một trong những mức độ tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới. Tuy nhiên, không thấy có dấu hiệu nào làm giảm bớt ảnh hưởng về quyền lực của đảng CSVN. Ở VN, kiểu xã hội chủ nghĩa và kiểu tư bản Tây Phương  hiên hữu song đôi. Trông có vẽ suông chảy, nhưng thật sự không phải như vậy. Có những lúc hai tư tưởng đối chọi công khai. Và thường là ở trong lớp học.

Hoa Phạm, sinh viên năm thu tư đại học "Mở Rộng Hà Nội," nói với nụ cười có vẽ châm  biếm: " Trong nước vẫn dạy rằng chủ nghĩa xã hội đang thắng thế và chủ nghĩa tư bản đang giãy chết! Hoa tiếp: "Trong nước không ai để ý đến họ dạy cái quái quỷ gì."

Bà Hoa trong khi nắm chặt điện thoại cầm tay đắt tiền hiệu Nokia giải thích rằng bà không phản đối gì việc giảng dạy về Hồ Chí Minh hoặc Karl Marx. Tuy nhiên, thay gì dạy về sự đóng góp của họ với lich sử,  các môn học này chỉ có mục đích nhồi sọ sinh viên mà thôi. Bà Hoa  nói tiếp: "Chúng tôi chỉ được dạy những điểm được coi là tốt của họ và không được hỏi bất cứ câu hỏi gì. Trong thời đại ngày nay, chúng tôi thấy thật sự cần tìm hiểu thêm về những lý thuyết khác." ./.

 

 

Ngày 24/6, trong thời gian Thủ tướng Phan Văn Khải đến thăm Trường Đại học Harvard, Giáo sư Lawrence H. Summers, Hiệu trưởng nhà trường đã trả lời phỏng vấn TBT VietNamNet Nguyễn Anh Tuấn về vấn đề toàn cầu hoá và nguyên nhân  thành công của nền giáo dục đại học Hoa Kỳ.


Tổng biên tập VietNamNet (VietNamNet): Việt Nam đã theo con đường của các nước Đông Á thành công trong việc sử dụng chiến lược phát triển dựa vào xuất khẩu. Tuy vậy, những bất cân đối toàn cầu vô cùng lớn hiện nay, ví dụ như thâm hụt thương mại gia tăng của Hoa Kỳ, có thể gây ra những khó khăn nghiêm trọng cho chiến lược này. Ông có những gợi ý gì về những bước đi mà Việt Nam có thể tiến hành để khai thác lợi ích của tăng trưởng xuất khẩu nhưng vẫn có thể tránh được tác động của khả năng bất ổn có thể xảy ra tới đây?

LAWRENCE H. SUMMERS: Điểm then chốt đối với Việt Nam là tập trung vào việc đa dạng hóa cơ sở xuất khẩu để có được một số lượng lớn các mặt hàng xuất khẩu sang một số lượng lớn quốc gia. Đa dạng hóa là điều thiết yếu. Đảm bảo có lượng dự trữ ngoại hối đáng kể cũng là điểm quan trọng. Kinh nghiệm cho thấy một cơ chế tỷ giá hối đoái có tính linh hoạt cao sẽ tốt hơn một cơ chế kém linh hoạt trong việc phản ứng hiệu quả các cú sốc quốc tế.

VietNamNet: Chúng ta nói rằng là chúng ta đang sống trong một thế giới mà toàn cầu hóa là điều tất yếu. Tuy vậy, ở Hoa Kỳ và châu Âu, chúng ta thấy có những lực lượng đáng kể cưỡng lại toàn cầu hóa. Việc biểu quyết đầy khó khăn về Khu vực Thương mại Tự do Trung Mỹ, các tranh cãi về xuất khẩu của Trung Quốc và sự kiện bỏ phiếu “không” đối với Hiến pháp Cộng đồng châu Âu (EU) ở Pháp và Hà Lan là những ví dụ tiêu biểu. Điều gì tạo ra thái độ tiêu cực đối với toàn cầu hóa ở các nước giàu và Việt Nam có thể rút ra những gì từ các quan điểm này?

LAWRENCE H. SUMMERS: Lý do chính yếu gây ra tư tưởng bảo hộ ở các nước đã phát triển là sự kết hợp của yếu tố chính trị và thái độ bàng quan. Những đối tượng bị thua thiệt từ sự cạnh tranh của nhập khẩu biết họ là ai. Họ tổ chức lại, gây áp lực lớn và chống lại việc mở cửa thị trường, chống lại tự do hóa thương mại. Những ai hưởng lợi, trong đó có người tiêu dùng, các doanh nghiệp sử dụng lao động và xuất khẩu, thấy khó có thể nhận diện ra chính mình, khó tổ chức và khó gây áp lực. Đây là một vấn đề nghiêm trọng nhưng tôi tin rằng cuối cùng thì thế giới cũng có nhiều khả năng tiến theo hướng tự do hóa.

Đối với tôi, chưa có gì đảm bảo là những sự kiện trong EU sẽ không thúc đẩy xu thế ủng hộ tự do hóa cho các quốc gia ngoài EU bởi vì chúng ta phải tính tới một trở ngại là một cơ cấu Brussels mạnh hơn sẽ chỉ đạt được tính đoàn kết và đồng thuận thông qua việc gia tăng bảo hộ.

VietNamNet: Toàn cầu hóa đã đi liền với sự gia tăng sự bất bình đẳng về thu nhập ở cả Hoa Kỳ và Việt Nam. Ông có cho rằng toàn cầu hóa tạo ra bất bình đẳng? Nếu vậy thì có thể làm gì để giảm tình trạng này mà không làm mất đi những lợi ích của nó?

LAWRENCE H. SUMMERS: Toàn cầu hóa không nhất thiết làm gia tăng bất bình đẳng. Việc tạo ra nhiều việc làm trong khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo ở các nước đang phát triển là cách thức rất quan trọng để phát triển một tầng lớp trung lưu; đó làm điểm then chốt để thúc đẩy xã hội. Điều này cũng đúng với việc gia tăng trình độ giáo dục. Những bằng chứng tốt nhất cho thấy rằng không hề có một mối tương quan có hệ thống giữa đẩy mạnh tăng trưởng thông qua mở cửa và thay đổi về mức độ bất bình đẳng.

VietNamNet : Ông là người đứng đầu một trường đại học lớn trên toàn cầu và hệ thống giáo dục đại học ở Hoa Kỳ đang là mẫu hình thực tế trên thế giới. Đâu là những yếu tố cho sự thành công của mô hình giáo dục đại học của Hoa Kỳ? Sự thành công này có được duy trì không hay ông thấy những mô hình khác sẽ thay thế nó? Dường như phát triển các trường đại học đỉnh cao rất tốn kém. Ông có những lời khuyên nào cho các quốc gia như Việt Nam vốn sẽ thu được lợi ích từ những trường đại học như thế này, nhưng gặp nhiều khó khăn trong việc xây dựng chúng?

LAWRENCE H. SUMMERS: Thành công của giáo dục đại học tại Hoa Kỳ phản ánh nhiều thứ. Nó phản ánh một sự cam kết đầu tư nguồn lực. Nó phản ánh một văn hóa ở các trường đại học trong đó có ít sự chi phối của cơ quan quyền lực tập trung; thay vào đó là một cơ chế cho phép tất cả các ý tưởng có thể nảy nở.

Yếu tố trọng yếu tạo nên thành công của các trường đại học Hoa Kỳ là sự cam kết đề cao quyền lực thống trị của các ý tưởng chứ không phải là ý tưởng cho rằng phải có quyền lực thống trị. Nếu một sinh viên sau đại học trẻ tuổi đã học tập, nghiên cứu ở Harvard được 18 tháng chứng minh rằng cách diễn giải sách giáo khoa của một giáo sư kỳ cựu là sai thì hành động này đều được tất cả hoan nghênh; và thường thì người đầu tiên đưa ra lời chúc mừng chính là người có công trình đã được sinh viên đó sửa sai. Duy trì nhiệt huyết này, sự va chạm này của các quan điểm và sự tuân thủ này về nguyên tắc thống trị của các ý tưởng là điểm then chốt tạo nên thành công của chúng tôi.

Một yếu tố quyết định nữa là các trường đại học cạnh tranh mãnh liệt với nhau để có được các sinh viên tốt nhất, các giảng viên trẻ tốt nhất và sự trung thành của các nhà tài trợ. Thành công không đến từ việc lặp đi lặp lại những điều chính thống, mà đến từ việc tạo dựng ra ý tưởng mới. Không có môi trường cạnh tranh, thì xu hướng tự lặp lại, tự bằng lòng với những gì đã có sẽ có thể thống trị.

Sau cùng, quản lý một trường đại học là một vấn đề tinh tế. Như chúng ta thường chứng kiến ở các nước khác cũng như ngày càng thấy rõ trong giáo dục đại học công ở Hoa Kỳ, các nỗ lực quản lý mọi mặt hoạt động xã hội của những cơ quan chính quyền lớn đều đi đến kết cục thất bại. Tính sáng tạo bị đẩy lùi thay vì được thu hút, cảm hứng bị đè bẹp và kết quả thu được là sự thất vọng. Đồng thời, chúng ta cũng thấy rằng một đội tuyển không thể được quản lý bởi những tuyển thủ của mình. Ở rất nhiều nơi, các trường đại học được quản lý bởi những lãnh đạo hàn lâm do giảng viên, sinh viên và nhân viên hành chính bầu ra. Khi đó, quyền lực của lãnh đạo để áp đặt tiêu chuẩn cao bị giảm thiểu và tầm nhìn của lãnh đạo để đảm bảo khả năng đổi mới trong dài hạn bị hạn chế.

Thành công phụ thuộc vào giải pháp dung hòa. Lãnh đạo phải mạnh nhưng không quan liêu. Lãnh đạo phải nhận ra rằng những ý tưởng tuyệt với nhất đến từ các học giả sáng tạo, chứ không phải từ các giám đốc quản trị. Và lãnh đạo phải biết rằng nếu mọi thứ đều là ưu tiên thì sẽ chả có gì là ưu tiên. Bởi vì ưu tiên, giống như năng lượng và giống như vốn, phải được tiết kiệm.

 

"Xây dựng ĐH đẳng cấp quốc tế: Cơ chế cần thiết nhất"

23:05' 26/06/2005 (GMT+7)

(VietNamNet) - Bộ trưởng Cao Đức Phát không chỉ tháp tùng chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ và Canada của Thủ tướng Phan Văn Khải với tư cách Bộ trưởng Bộ NN và PTNT, mà ông còn là cựu học viên của ĐH Harvard. Trong dịp trở lại trường cũ, ông đã dành cho VietNamNet một cuộc phỏng vấn riêng.

>> Bấm vào đây để nghe nội dung cuộc phỏng vấn

-Thưa Bộ trưởng Cao Đức Phát, anh vốn là một cựu học viên của Harvard. Lần này trở lại trường với tư cách là chính khách, là người đại diện thuộc phái đoàn của Thủ tướng Phan Văn Khải, anh có cảm xúc gì?

Bộ trưởng Cao Đức Phát: Tôi rất vinh dự được tháp tùng Thủ tướng trong chuyến viếng thăm chính thức tới Hoa Kỳ lần này. Với tư cách vừa là một đại diện trong đoàn của chính phủ, lại đã có một thời gian học tập ở nước Mỹ, tôi thấy chuyến đi này có những kết quả rất tốt đẹp, đánh dấu mốc mới trong quan hệ giữa hai nước chúng ta. Tôi rất phấn khởi với những kết quả đạt được của chuyến đi. Những kết quả ấy đem lại triển vọng mới trong quan hệ hợp tác giữa hai nước trong đó có lĩnh vực Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Trong chuyến đi, tôi cũng có dịp quay trở lại trường ĐH Harvard, nơi tôi đã học tập và được tham dự những buổi làm việc của Thủ tướng với các nhà khoa học của trường ĐH Harvard. Một lần nữa, tôi cảm thấy rằng ở ĐH Harvard cũng như một số trường ĐH khác ở Mỹ mà đoàn đã đến, có tập trung nhiều nhà khoa học với trình độ cao, có nhiều tri thức uyên bác mà chúng ta có thể tranh thủ nhằm hỗ trợ cho quá trình phát triển trong nước.

- Anh có một chút gì kỷ niệm cá nhân hay cảm xúc cá nhân về chuyến đi này hay không?

Bộ trưởng Cao Đức Phát: Tôi cũng rất phấn khởi về chuyến đi vì được gặp lại những bạn bè từng giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian tôi học tập ở đây. Đặc biệt, tôi rất cảm động khi thấy họ rất phấn khởi, mừng rỡ trước những kết quả đạt được trong chuyến thăm của Thủ tướng nước ta. Họ cũng rất hy vọng rằng chuyến viếng thăm sẽ mở đầu cho một thời kỳ quan hệ phát triển mới giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.

- Hôm nay, trong buổi thảo luận tại trường ĐH Harvard của chúng ta có toát lên một ý là phải xây dựng một trường ĐH đẳng cấp quốc tế ở VN. Theo anh, việc đó có khả thi không?

Bộ trưởng Cao Đức Phát: Việc xây dựng những trường ĐH chất lượng cao để đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc xây dựng đất nước là hết sức cần thiết đối với chúng ta. Tuy nhiên, đây là một quá trình mà chúng ta phải phấn đấu càng sớm càng tốt để có những trường ĐH với chất lượng cao như thế ở đất nước chúng ta.

- Anh là người từng được học tập ở một trường ĐH hàng đầu quốc tế như Harvard. Theo anh, muốn xây dựng một trường ĐH đẳng cấp quốc tế như vậy, Việt Nam chúng ta  hiện này cần gì nhất?

Bộ trưởng Cao Đức Phát: Điều quan trọng trước hết là chúng ta cần phải có một cách nhìn nhận phù hợp về việc xây dựng một trường ĐH kiểu mới ở đất nước chúng ta. Với cách nhìn phù hợp như vậy, cũng cần phải có một cách làm, một cơ chế phù hợp. Xuất phát từ cách làm, cơ chế đó, sẽ có một nguồn nhân lực cũng như nguồn tài chính cần thiết để xây dựng trường ĐH. Có ý kiến cho rằng vấn đề đầu tiên là nguồn vốn, chúng tôi cũng cho rằng vốn là cần thiết. Song theo tôi, yếu tố cần đầu tiên là nhìn nhận vấn đề một cách phù hợp.

- Việc cho ra đời những trường ĐH đẳng cấp quốc tế đòi hỏi phải có chính sách rất ưu đãi. Chẳng hạn như với các khu kinh tế thì có khu kinh tế mở, khu kinh tế đặc biệt, phải chăng để thành lập những truờng ĐH đẳng cấp cao ở Việt Nam, chúng ta cũng cần phải có một chính sách đặc biệt?

Bộ trưởng Cao Đức Phát: Tôi không là chuyên gia về giáo dục, nhưng với hiểu biết của tôi, tôi thấy rằng cũng cần phải có những chính sách phù hợp để tạo điều kiện cho các trường ĐH phát triển mạnh mẽ hơn. Nhưng chính sách đặc biệt không có nghĩa là bao cấp nhiều hơn.

- Không phải chính sách bao cấp mà là các cơ chế, chính sách quản lý thông thoáng. Chẳng hạn như có thể cho những nguồn vốn nước ngoài đầu tư vào chương trình, tổ chức tự quyết của đại học như mô hình của nước ngoài. Theo ông, giữa điều kiện này với điều kiện tài chính hay các điều kiện khác, điều kiện nào quan trọng hơn?

Bộ trưởng Cao Đức Phát: Theo tôi, yếu tố về cơ chế quan trọng hơn.

- Trở về vấn đề nông nghiệp. Lâu nay, nền nông nghiệp của chúng ta đã gặt hái được rất nhiều thành công từ thị trường Mỹ và cũng gặp phải không ít chuyện "nhức đầu". Qua chuyến đi này, anh có định mở thêm những hướng mới để sản phẩm nông nghiệp của chúng ta vào được thị trường này trong thời gian tới hay không? Và anh có chuẩn bị hay lường trước những giải pháp để chúng ta hạn chế hoặc thắng trong những cuộc tranh chấp có thể xảy ra không?

Bộ trưởng Cao Đức Phát: Trong chuyến đi này, chúng tôi có ký một hiệp định hợp tác giữa Bộ Nông nghiệp VN và Bộ Nông nghiệp Mỹ. Có thể nói, đây là bước mở đầu cho một quá trình hợp tác trên nhiều lĩnh vực. Việc hợp tác giữa hai bộ không chỉ về khoa học kỹ thuật, và những vấn đề liên quan trực tiếp đến sự phát triển của hai ngành mà còn góp phần thúc đẩy thương mại và đầu tư, trước hết trong lĩnh vực nông nghiệp - phát triển nông thôn. Tuy nhiên, để phát huy được những cơ hội đã mở ra, chúng ta phải làm rất nhiều việc trong đó vấn đề lớn đặt ra là nâng cao sức cạnh tranh của những mặt hàng nông sản. Theo tôi thì có rất nhiều việc phải làm để nâng cao khả năng cạnh tranh của mặt hàng nông sản VN, nhưng điểm quan trọng là phải đẩy mạnh ứng dụng KHKT trong nông nghiệp. Tôi tin rằng khi chúng ta có được khả năng cạnh tranh cao, chúng ta cũng sẽ tránh bớt được những rủi ro trong thị trường quốc tế.

- Trong đội ngũ cán bộ của Bộ nông nghiệp & phát triển nông thôn hiện nay, anh thấy thiếu nhất yếu tố gì?

Bộ trưởng Cao Đức Phát: Hiện nay, để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh trong ngành nông nghiệp, vấn đề lớn thứ nhất đang đặt ra là thiếu cán bộ KHKT với trình độ cao để có thể dẫn dắt, thúc đẩy nghiên cứu và chuyển giao KHKT, tiếp cận với trình độ của khu vực và quốc tế. Thứ hai, chúng ta thiếu những doanh nhân được đào tạo và có trình độ để lãnh đạo doanh nghiệp ở tầm quốc tế, để cạnh tranh có hiệu quả một khi chúng ta tham gia WTO cũng như cạnh tranh quốc tế về lâu dài. Thứ ba, chúng ta cũng cần có nhiều nhà quản lý hiểu biết, với những kiến thức phù hợp với quá trình quản lý kinh tế mới để thúc đẩy quá trình đổi mới trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn.

- Xin cảm ơn anh. Chúc anh gặt hái thêm nhiều thành công!