Đối Thoại                                            Website: Doi-Thoai.com                            Email: toasoandoithoai@yahoo.com


NGUYÊN VĂN  GHI LẠI  BUỔI PHỎNG VẤN CỦA WAHSINGTON POST

VỚI PHAN VĂN KHẢI TẠI HÀ NỘI NGÀY 16 THÁNG 6, 2005

Ðối Thoại chuyển dịch

The Washington Post (TWP):   Đây là lần dầu tiện một Thủ Tướng của Viêt Nam (VN) thăm viếng Hoa Kỳ (HK) sau 30 năm. Ông nghỉ sao về tầm quan trọng của chuyến công du này?

Phan Văn Khải (PVK):     Tôi nghỉ rằng cuộc viếng thăm HK của tôi rất quan trọng. Đây là lần đầu tiên một lãnh đạo cao cấp của một VN thống nhất thăm viếng HK sau 30 năm và đặc biệt sau 10 năm sau khi HK và VN nối lại bang giao.

Tôi nghỉ hai quốc gia trong 10 năm qua đã đạt được nhiều thành quả lớn lao. Mục đích của chuyến viếng thăm của tôi là nâng liên hệ giửa hai quốc gia lên mức độ cao hơn. Qua cuộc viếng thăm nầy tôi hi vọng sẽ xây dựng được sự hợp tác xây dựng và lâu bền giửa hai quốc gia. Mục đích tối hậu của chúng tôi là làm gia tăng thêm tình hữu nghị với HK.

TWP:   Đặc biệt điều gì ông sẽ hỏi TT Bush? Vấn đề nào dược coi là quan trọng nhất trong chương trình công du này?

PVK:  Vấn đề quan trọng nhất  là thiết lập một  cơ cấu làm việc cho sự liên hệ lâu dài trong Thế Kỷ 21. Vấn đề quan trọng thứ hai là tôi muốn TT Bush công bố hổ trợ cho VN được gia nhập Cơ Quan Mậu Dịch Quốc Tế (World Trade Union - WTO.)   Vấn đề thứ ba là được HK chính thức công nhận VN là một quốc gia có liên hệ mậu dịch thường trực (permanent normal trading relations) vì đây là điều kiện tiên quyết để đuợc trở thành một thành viên của WTO.   Vấn đề thứ tư là VN được công nhận là một quốc gia có nền kinh tế thị trường không bị hạn chế bởi luật Jackson-Vanick (Jackson-Vanick ngăn cấm một quốc gia không cho người dân có quyền di cư được hưởng “quy chế mậu dịch ưu đải” (the most favored nation trade status), thường được gọi là “quy chế tối huệ quốc.”   Vấn đề thứ năm là những vần đề còn lại sau chiến tranh. Chúng tôi muốn được HK giúp đở gở những bải mìn và giúp đở các nạn nhân bị nhiểm độc “hoá chất da cam” (Agent Orange.)  Đây là những vấn đề nhân đạo cho VN.

TWP:  Kể từ khi có quan hệ ngoại giao bình thường giửa hai nước, theo ông những thành quả quan trong nào đã đạt được? 

PVK:  Kể từ khi có Hiệp Ước Thương Mại Song Phương Mỹ-Việt (US-Vietnam Bilateral Trade Agreement –BTA),  mậu dịch song phương gia tăng từ 1.5 tỉ Mỹ Kim năm 2001 lên 6.4 tỉ Mỹ kim năm 2004, 20 lần cao hơn năm 1995.

Sự liên hệ phát triển giửa hai nước trong các lãnh vực về chính trị, ngoại giao, khoa học, kỷ thuật, chống khủng bố, và y tế.  Vấn đề nhân đạo cũng tiến triển tốt đẹp. VN đã tích cực sát cánh với HK trong việc tìm kiếm những hài cốt lính mỹ tại VN. HK cũng giúp VN  tháo gở các bải mìn, tìm hài cốt các lính VN bị mất tích trong thời chiến, và giúp đở những người tàn tật và các trẻ em trong những vùng bị chiến tranh tàn phá.

Trong những lãnh vực trong yếu như quốc phòng và an ninh,  chúng tôi cũng đồng ý với HK về áp dụng chương trình IMET (International Military Education Training)  để huấn luyện chuyên môn cho quân đội VN, bao gồm huấn luyện Anh ngữ,  quân y, và các lãnh vực quân sự khác. Sau những khoá huấn luyện như trên, chúng tôi sẽ thẩm định kết quả để quyết định gia tăng thêm các lãnh vực huấn luyện. Trong thời gian thăm viếng Hoa Thịnh Đốn  (Washington), tôi dự trù sẽ gặp Bộ Trưởng Quốc Phòng HK để bàn thảo vấn đề này.

Chúng tôi cũng dự trù đồng ý về hợp tác tình báo ở các toà Đại Sứ của chúng tôi ở Hoa Thịnh Đốn (HTĐ) và của HK ở Hà Nội, trong đó chúng tôi sẽ bổ nhiệm các chuyên viên về chống khủng bố,  tội phạm quốc tế và chuyển lậu tiền tệ để hai bên có thể gia tăng trong việc trao đổi tin tình báo.

TWP:  Hiển nhiên VN đang gia tăng liên hệ về quân sự và an ninh với HK. Có ý nghĩa quan trong gì trong việc trao đổi tin tình báo và tại sao bây giờ mới làm?

PVK:   Những tiến triển quan trọng trong liên hệ Mỹ-Việt trong 10 năm qua đã đem hai quốc gia gần lại hơn trong các vấn đề hợp tác trong đó phải kể đến vấn đề an ninh và quốc phòng, hai bên dự trù sẽ trao đổi các tin tức về chống khủng bố, tội phạm quốc tế và  chuyển lậu tiền tệ.

Khủng bố đã trở nên một đe dọa của toàn cầu. Vấn đề diệt trừ nạn khủng bố cho nhân loại và đem lại bình yên cho người dân vô tội đã trở thành một vấn đề cấp bách đòi hỏi hợp tác của nhiều quốc gia trong đó có VN. Chúng tôi đã cam kết hợp tác chặt chẻ với các quốc gia trong vùng và với HK trong việc chống nạn khủng bố. Cũng vậy, chúng tôi kêu gọi HK và các quốc gia khác hợp tác với VN để ngăn ngừa và trừng phạt những kẻ phá hoại chống lại VN.

TWP:  Trong lãnh vực thương mại và kinh tế, VN muốn gia nhập WTO vào cuối năm nay.  Được HK đồng ý là  điều kiện cần thiết cho việc này.  Ông có nghỉ rằng chuyến công du này sẽ giúp ông tiến gần hơn đến mục đích trên?  Ông có nghỉ rằng ông sẽ đạt được thành quả lớn?

PVK:     VN luôn luôn muốn kết thúc những cuộc thương thảo song phương. VN đem theo một phái đoàn hùng hậu  để thương thảo với HK. Chúng tôi mong rằng HK sẽ kết thúc việc thương thảo với VN càng sớm càng tốt.

TWP:   Ông nghỉ VN có nhiều triễn vọng gia nhập WTO năm nay?

PVK:  Tôi hi vọng VN sẽ gia nhập WTO năm nay. Tuy nhiên đây không phải là cơ hội duy nhất vì WTO mổi năm đều có buổi hội cấp bộ trưởng để duyệt xét thu nhận các quốc hội viên mới. Tôi muốn nhấn mạnh một điều rằng VN là hội viên của WTO sẽ có lợi cho cả HK và VN, đặc biệt thương mại HK sẽ có nhiều cơ hội tốt hơn để buôn bán  ở VN.

TWP:  VN đang tiến đến kinh tế thị trường (a market economy.) Tuy nhiên, vẫn còn nhiều lãnh vực làm nản long những người đầu tư, luật lệ thiếu thông suốt, han chế  quyền sở hữu của người nước ngoài, thiếu các dữ kiện về thi trường, đặc biệt  trong lãnh vực phục vụ tài chánh. Ông có kế hoạch nào để đẩy mạnh cải thiện các lãnh vực còn yếu kém này? Ông có những công bố nào về các vấn đề này không?

PVK:     Tôi nhỉ rằng trong vòng 20 năm  kể từ khi phát động chiến dịch “đổi mới” vào năm 1986, VN đã đạt được nhiều thành quả lớn. Các thành quả quan trọng nầy đã được ghi nhận, và cũng chính nhờ chính sách dối ngoại và đối nội minh bạch và phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Trong 20 năm đổi mới chúng tôi học được nhiều bài học quan trọng giúp chúng tôi tiếp tục để đạt được thành công.  Sự cởi mở chính trị và kinh tế phải hoà nhịp chặt chẻ với nhau. Trong 20 năm đổi mới, vấn đề “đầu tư trực tiếp từ ngoại quốc” (Foreign Direct Investment – FDI) có nhiều tiến bộ đáng kể. Hơn 30 tỉ Mỹ kim đã được đầu tư vào khoảng 300 kế hoạch. Ngoài ra, “tài trợ phát triển từ nước ngoại” (Overseas Development Assistance – ODA)  lên đến 23 tỉ Mỹ kim… từ các nguồn viện trợ chính như Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) và Nhật Bản. Với sự gia tăng toàn cầu và cạnh tranh về thương mại và đầu tư, VN bắt buộc phải cố gắng gia tăng đổi mới để có thể hấp dẫn được đầu tư trực tiếp từ ngoại quốc.

Chúng tôi nhất quyết dẹp bỏ những trở ngại làm cản trở FDI. Hàng năm chính phủ tổ chức những buổi hội về đầu tư để lắng nghe và thu thập những phê bình và lo lắng từ giới đầu tư hầu cải thiện cách thức đầu tư để thêm hiệu quả. Cũng vậy, hàng năm chúng tôi có hai buổi hội với các nguồn viện trợ tại VN, trong buổi hội năm nay chúng tôi ghi nhận có ít than phiền hơn các lần hội trước.

Mức độ kinh tế gia tăng khoảng 7,5 phần trăm mổi năm, trong đó xuất cảng gia tăng khoảng 16 phần trăm mổi năm trong vòng 10 năm vừa qua nhờ vào việc xử dụng hiệu quả các nguồn tài trợ  phát triển từ nước ngoài (ODA), đã làm các nguồn tài trợ rất hài lòng. Các nguồn viện trợ đã ghi nhận chương trình giúp đở dân nghèo của VN đã được thi hành rất hiệu quả. Theo Ngân Hàng Thế Giới, VN đã tạo kỷ lục về giảm nghèo cho các quốc gia khác noi theo.

TWP:  Ông biết rằng sự cởi mở  chính trị phải được đi song hành với cởi mở kinh tế. Du khách dến VN thấy rỏ sự tiến bộ về kinh tế. Tuy nhiên cùng lúc, các phân tích gia đã ghi nhận mức độ cởi mở cho tự do chính trị còn quá chậm. Ông có thể giải thích về sự khác biệt này được không?

PVK:    Ông có biết tại sao chúng tôi đã đạt được thành công về đổi mới kinh tế? Sự đổi mới chính trị là nền tảng cho đổi mới kinh tế. Trong quá khứ VN áp dụng “kinh tế tập trung” (centrally planned economy.) Sau đó, hệ thống kinh tế thị trường đã được đưa vào VN. Đây không phải thuần tuý chỉ có đổi mới về kinh tế mà là một quyết định quan trọng dựa vào  đổi mới về chính trị. Ông có thể thấy rằng “dân chủ” đã được mở rộng và phát triển ở VN. Trong quá khứ kinh tế VN chỉ có hai lãnh vực, nhà nước và hợp tác xã. Ngày nay VN có nhiều lãnh vực kinh tế, và dân chúng được phép phát triển thương mại ở nhiều lãnh vực khác nhau. Vì vậy, các nguồn tài nguyên trong nước từ nhiều lãnh vực khác nhau phải được tận dụng để bảo đảm sự phát triển kinh tế nhanh chóng.

Để bảo đảm kinh tế thi trường phát triển, chúng tôi cũng cố gắng sửa đổi căn bản pháp lý. Với nhu cầu cải thiện hệ thống pháp lý, vai trò của Quốc Hội đã thay đổi đáng kể. Quốc Hội  vừa đóng vai trò lập pháp, vừa đóng vai trò giám sát. Tính cách Dân chủ và tự do trong việc bầu cử Quốc Hội đã được cải thiện đáng kể.

Trong quá khứ, các điều kiện (bầu cử và ứng cử) rất khác biệt. Tôi muốn nhấn mạnh rằng “tự do” và “dân chủ” là mục tiêu tối hậu của đấu tranh cách mạng  và đã được ghi vào hiến pháp của chúng tôi.

(Ghi Chú của Người Dịch: Đây là một ngụy biện trắng trợn của Phan Văn Khải vì làm gì có Dân Chủ và Tự Do khi hiến pháp của CSVN vẫn còn có Điều 4 bảo đảm quyền tuyệt đối của đảng Cộng Sản Việt Nam! Đọc giả có thể đọc Điều 4 dẫn chứng ở đây:

Điều 4 của Hiến Pháp 1992: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.” )   

Nếu ông gặp dân chúng ở VN, ông có thể thấy rằng họ rất là thỏa mãn với những tiến bộ về vật chất cũng như tinh thần.

TWP: Ông nói đến nhân quyền, làm tôi nhớ lại ông đã từng nói với TT Clinton rằng: “Khái niệm về nhân quyền ở VN khác với khái niệm nhân quyền ở HK. Ông có thể giải thích điều này được không?

PVK:   Theo tôi  thì mục đích cuối cùng của hai quốc gia cũng giống nhau thôi. Nhân quyền cũng đã được nói đến trong bản tuyên ngôn độc lập của chủ tịch Hô Chí Minh. Trong đó CT Hồ Chí Minh đã trích dẫn Bản Tuyên Ngôn Độc Lập 1776 của HK: Mọi người sinh ra đều bình đẳng và có quyền sống, tư do và theo đuổi hạnh phúc của mình. Hai quốc gia HK và VN có hai nguồn lịch sử khác nhau, thể chế chính trị cũng khác nhau,  điều kiện kinh tế cũng khác nhau. Theo tôi mục tiêu sau cùng về nhân quyền thì cũng giống nhau thôi, tuy nhiên, chúng ta có thể có những bước khác nhau dẫn đến mục những tiêu sau cùng. Ở VN, người dân có quyền cao nhất”để  quyết định vận mạng của   đất nước.

Quốc Hội là cơ cấu đại diện có quyền cao nhất của người dân. Và vì vậy, tất cả luật lệ được ban hành bởi Quốc Hội phải dựa vào ý kiến của người dân. Nhà nước cũng ban hành các nghi quyết  dựa trên dân chủ của người dân bình thường. Những quyết định của địa phương, làng , xã đều có sự tham gia của dân.

Nhiều người chỉ trích VN không có tự do và dân chủ, chỉ có một thể chế độc đảng.  Như ông đã biết, mục tiêu tối hậu của chúng tôi là duy trì sự ổn định chính trị và phục vụ quyền lợi của dân. Trong 70 năm qua, đảng đã dồn hết nổ lực đem lại phúc lợi cho dân, điều này đã được ghi nhận bởi toàn thể  dân chúng trong nước. Ở VN, không cần phải có đa dảng bởi vì quần chúng VN vẫn luôn  tin tưởng mãnh liệt vào đảng CSVN. Tuy nhiên, chúng tôi hiểu rằng mục tiêu của đảng là đem lại phúc lợi cho dân bằng không đảng sẽ không còn được tín nhiệm nữa.

 

(Còn Tiếp)