Đối Thoại          Website: Doi-Thoai.com         Email: toasoandoithoai@yahoo.com


DÂN CHỦ, CHIỀU HƯỚNG TIẾN BỘ TẤT YẾU CỦA

VĂN MINH NHÂN LOẠI

  

Lịch sử của thế kỷ 20 vừa qua có nhiều trang đau thương và đẫm máu: hai cuộc Thế Chiến (1914-1918),( 1939-1945), sự xuất hiện của 2 chế độ độc tài, độc tài phát xít Ý-Đức, Mussolini-Hitler, và độc tài cộng sản. Hai trận thế chiến sát hại khoảng 60 triệu người, trong đó có hơn 6 triệu người Do Thái là nạn nhân của độc tài Hitler; còn nạn nhân của độc tài cộng sản lên tới cả 100 triệu người. Nhưng cũng có những trang sử tốt đẹp, đó là sự sụp đổ của 2 chế độ độc tài này và sự chiến thắng của chế độ dân chủ. Từ đó có người cho rằng chế độ dân chủ là chiều hướng tiến bộ tất yếu, là mô hình tổ chức nhân xã thích hợp của văn minh điện toán, tri thức hiện nay. Có phải thế không ?

 

I)                  Những trang sử đau thương của nhân loại ở thế kỷ qua

 

Thật vậy, thế kỷ 20 vừa qua có nhiều trang sử đau thương và đẫm máu: hai cuộc chiến tranh lớn nhất từ xưa tới nay, việc nhân loại dùng kết quả của khoa học để giết người hàng loạt và phá hủy môi sinh, môi trường, sự xuất hiện của 2 chế độ độc tài mà hậu quả của nó đã đưa đến cả trăm triệu người chết.

 Đại chiến Thứ Nhất (1914-1918) : Bùng nổ vào mùa hè 1914, do sự cạnh tranh của những Cường quốc Âu châu về kinh tế và chạy đua vũ trang, một bên là đế quốc Đức, đế quốc Áo Hung, đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ và Bảo gia Lợi, bên kia là khối đồng minh gồm có đế quốc Pháp, đế quốc Anh, đế quốc Nga, Nhật; Ý và Hoa Kỳ. Người ta thấy những kết quả của khoa học được xử dụng như sự xuất hiện của máy bay, tàu ngầm, xe tăng. Trận chiến kết thúc vào ngày 18/11/1918 với 10 triệu người chết và Hòa Ước được ký ở Versailles, Pháp, làm đảo lộn Âu Châu. Mặc dầu bị tàn phá dữ dội bởi cuộc chiến,  với sự sụp đổ của 3 đế quốc Đức, Áo Hung và Thổ Nhĩ Kỳ nhưng hậu quả tai hại nhất về sau này và có thể coi là một trong những nguyên do chính đưa đến sự ra đời của 2 chế độ độc tài: Độc tài cộng sản Nga, Lénine và độc tài Ý-Đức, Mussolini-Hitler.

Thật vậy, gần cuối Đệ Nhất Thế Chiến, đế quốc Đức nhận thấy không thể đương đầu với 2 mặt trận cùng một lúc: mặt trận đông bắc với Nga và mặt trận tây nam với Pháp, nên đã tìm cách đưa Lénine từ Thụy Sỹ về Nga và giúp đỡ Lénine tất cả mọi phương diện để cướp chính quyền, vì Lénine thuyên bố: “ Hòa bình bằng bất cứ giá nào.”Việc Bộ Tham Mưu Đức đưa Lénine từ nước ngoài về cướp chính quyền nhằm 2 mục đích: 1) Chấm dứt mặt trận phía đông bắc để dồn lực luợng vào mặt trận tây nam; 2) Gây chia rẽ trong hàng ngũ Đệ Nhị Quốc Tế, để giảm áp lực chính trị xã hội tại 2 đế quốc Đức và Áo Hung, vì lúc này những đảng Dân Chủ Xã Hội hoạt động rất mạnh ở đây, vì họ biết rằng Lénine có hoạt động trong Đệ Nhị Quốc Tế, nhưng không bằng lòng với đường lối của tổ chức này. Chính vì vậy, sau khi đảo chính thành công, cướp quyền của chính phủ Dân Chủ Xã hội Nga cầm đầu bởi Kérenski , hai năm sau Lénine lập ra Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản. Ngay sau khi có chính quyền, Lénine giải tán quốc hội, được dân bầu lên một cách dân chủ, vì đảng Bolchévik của Lénine bị lâm vào thiểu số và đảng Menchévik chiếm đa số. Liền đó, Lénine cho thành lập tổ chức công an, mật vụ Tchéka, tiền thân của K.G.B. sau này, để đàn áp đối lập và bỏ tù những người khác chính kiến. Chính bà Rosa Luxembourg, người Ba Lan, một trong những lãnh tụ quan trọng của Đệ Nhị Quốc Tế, của đảng Dân Chủ Xã hội Đức, mà hậu thân vẫn còn đến bây giờ với thủ tướng trước đây 1 năm, Schroeder, đã không ngần ngại viết thư cho Lénine, trong quyển nhật ký của bà trước khi chết vào năm 1919 : “ Nhà nước và đảng độc tài mà anh ( bà gọi Lénine, vì 2 người là bạn) lập ra chẳng phục vụ công nhân và cũng chẳng phục vụ ai, vì nó đã đi sai với một trong những nguyên tắc chính của chủ nghĩa xã hội là tự do, dân chủ.” Những người của Đệ Nhị cho rằng cuộc cách mạng của Lénine là một cuộc cách mạng đẻ non, sớm muộn sẽ hoài thai. Ngày hôm nay chúng ta mới thấy những lời nói này là đúng. Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản do Lénine lập ra đã chia Đệ Nhị Quốc Tế thành 2, một phần ở lại Đệ Nhị, sau này đổi thành Quốc Tế Xã Hội, gồm những đảng Dân Chủ Xã Hội Đức, đảng Xã hội Pháp, đảng Xã hội Ý, đảng Lao Động Anh, một số đảng Xã hội ở Bắc Âu và thế giới, phần khác đi theo Đệ Tam.

 

   Đệ Nhất Thế Chiến không những là một trong những nguyên nhân xâu xa đưa đến việc nắm quyền của Lénine ở Nga, mà cũng còn là nguyên nhân giúp cho  Mussolini ở Ý và Hitler ở Đức nắm quyền. Trong thời gian Đại Chiến thứ nhất, nước Ý theo chế độ quân chủ lập hiến, quyền hành thực sự ở trong tay đảng Dân Chủ Xã Hội. Nước Ý chần chừ bước vào cuộc chiến; Pháp và Anh cố mua chuộc Ý bằng cách đưa ra nhiều lời hứa. Khi cuộc chiến gần kết thúc, Ý mới nhảy vào, vì vậy sau khi chiến thắng, tại Hội nghị Versailles, Ý bị coi thường và Anh, Pháp không giữ lời hứa. Dân chúng Ý bất mãn, Đảng Dân Chủ Xã Hội Ý bị phân làm 3. Hai người cùng là bạn với nhau và cùng giữ vai trò quan trọng trong đảng, đó là Mussolini, giữ chức vụ tuyên truyền, đại diện cho phe cực hữu, bỏ ra thành lập đảng Phát Xít; Gramsci, giữ chức vụ tổ chức hạ tầng, đại diện cho phe cực tả, bỏ ra thành lập đảng cộng sản; phần còn lại vẫn là đảng Xã Hội. Không phải chỉ riêng sự kiện Mussolini và Gramsci, nếu chúng ta nghiên cứu hành động của độc tài cộng sản và độc tài phát xít, thì chúng ta thấy rất có nhiều điểm tương đồng với nhau. Vì vậy có người nói độc tài phát xít và độc tài cộng sản là 2 anh em sinh đôi là vậy.

   Tháng 11/1921, Mussolini qui tụ những người và một số tổ chức nhỏ có cảm tình với ý thức hệ của mình, tức chủ nghĩa quốc gia cực đoan, tinh thần tôn thờ lãnh tụ, tinh thần tổ hợp ( corporatisme) và tinh thần chống cộng sản trong một đảng, mang tên là đảng quốc gia phát xít. Ngày 28/10/1922, Mussolini tổ chức một cuộc biểu tình khổng lồ ở Rome, một hình thức ép nhà vua Victor-Emmanuel I I I chỉ định mình thành lập chính quyền. Chính quyền được thành lập, rồi sau đó, Mussolini, dùng thủ đoạn, gần như làm một cuộc đảo chính trong quốc hội, ép trao toàn quyền cho mình vào năm 1925.

   Nước Đức, sau khi thua trận Đệ Nhất Thế Chiến, phải chịu những khỏan bồi thường chiến tranh quá nặng nề do quyết định bởi những cường quốc thắng trận tại Hội nghị Versailles, đứng đầu là Pháp, làm cho lòng tự ái dân tộc Đức bị tổn thương; thêm vào đó, lại có cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1930, làm cho kinh tế Đức khó khăn , đưa đến tình trạng xã hội bất ổn, tình trạng chính trị chia rẽ. Lợi dụng tình thế đó, đảng Quốc Xã, nhất là từ khi Hitler lên lãnh đạo, đã khai thác lòng phẩn uất của dân, đưa ra ý thức hệ quốc gia cực đoan, dựa trên quyển sách Cuộc Chiến đấu của Tôi ( Mein Kampf ) của Hitler, chủ trương sự ưu việt của dòng giống Aryen, một chủ trương kỳ thị chủng tộc hoàn toàn phản khoa học, từ đó chủ trương tiêu diệt người Do thái, chủ trương không gian sinh tồn cho dân tộc Đức, mà theo Hitler, thì phải ngự trị Âu châu.Những chủ trương cuồng vọng này của Hitler đã đánh đúng lòng tự ái bị tổn thương của dân tộc Đức, chính vì vậy mà đã đưa ông lên nắm chính quyền. Cuộc nắm chính quyền của Hitler cũng tương tự như Mussolini, sau khi được chỉ định làm thủ tướng, ông đã cho người đốt quốc hội, rồi vu khống cho những tổ chức đối lập, đồng thời tổ chức những cuộc biểu tình, cho tay em đốt phá các cửa tiệm của người Do Thái, khơi dậy tinh thần quốc gia cực đoan, rồi tổ chức trưng cầu dân ý, để nắm trọn quyền vào năm 1934.

   Sự lên nắm chính quyền của Hitler đã là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến Đại Chiến Thứ Nhì (1939-1945).

 

   Người ta có thể nói là Đại Chiến Thứ Hai bùng nổ là do nước Đức của Hitler. Đức xâm chiếm Ba Lan tháng 9/1939, Pháp tháng 5/1940, rồi phần lớn Âu Châu, ngoại trừ Anh. Ngày 21/6/1941, Đức gửi quân xâm chiếm Nga. Hoa Kỳ nhảy vào vòng chiến ngày 7/12/1941, gỡ cho Anh đỡ phải chiến đấu đơn độc một mình. Nhờ sự kháng chiến của Nga, sự tham chiến và giúp đỡ vũ khí, quân trang của Hoa Kỳ; tình thế thay đổi. Nhật bị sa lầy ở Tàu; và Đức bị sa lầy ở Nga; rồi đưa đến chỗ cả 2 nước đều bại trận. Đại Chiến Thứ Hai gikhoảng 50 triệu người, riêng Hitler giết hơn 6 triệu người Do Thái, nhân danh ý thức hệ phát xít, đề cao chủng tộc Aryen, một lý thuyết hoàn toàn phản khoa học.

 

   Như trên chúng ta đã nói, Đại Chiến Thứ Nhất là một trong những nguyên do chính giúp Lénine, Mussolini và Hitler lên nắm chính quyền. Đệ Nhị Thế Chiến cũng vậy, đã giúp Hồ chí Minh, Mao Trạch Đông cướp chính quyền ở Việt Nam và Tàu. Chính Mao, khi tiếp tướng Mountbatten, Phó vương Ấn Độ, Tổng Tư Lệnh Quân đội Đồng minh ở Đông Nam Á, có nói : “ Chính nhờ Đệ Nhị Thế Chiến và cuộc Chiến Trung- Nhật mà đảng Cộng Sản Tàu mới có được chính quyền.”

   Các nước Đông Âu sau Đệ Nhị Thế Chiến bị bắt buộc theo cộng sản là vì bị dưới gót giày của quân đội gọi là giải phóng, nhưng trên thực tế, là quân đội chiếm đóng Liên Sô.

   Ở Việt Nam, Hồ chí Minh, đuợc huấn luyện bởi Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, ở trường Đông Phương, được tổ chức này gửi về; lợi dụng cuộc đình công của công chức Hà Nội đòi tăng lương, đảng Cộng sản đã trà trộn người vào đoàn biểu tình, cướp một vài công sở ngày 19/8/1945, rồi tiến tới cướp chính quyền.

 

  Nếu chúng ta nghiên cứu  chế độ độc tài phát xít và độc tài cộng sản, thì chúng ta thấy những điểm tương đồng như sau : (1)

 

1)     Cả hai đều độc đảng, độc đoán, độc tài, dựa vào một ý thức hệ nhà nước, bắt buộc; cộng sản thì dựa vào ý thức hệ của Marx, bề ngoài thì nói tới thế giới đại đồng, nhưng bên trong là chủ nghĩa dân tộc, nhất là vào thời kỳ Thế Chiến Thứ Hai với Staline, qua quan niệm “ Cộng Sản trong một quốc gia ( Le Communisme dans un seul Etat) ; phát xít Đức thì dựa vào  ý tưởng của Hitler, kỳ thị người Do Thái, chủ trương dân tộc cực đoan, cho rằng chủng tộc Aryen là ưu việt; Ý thì qua tư tưởng của Mussolini cũng đề cao tinh thần chủ nghĩa dân tộc cực đoan, muốn trở về thời đế quốc La Mã.

2)     Cả hai đều dùng độc đảng để quản chế hóa và quân đội hóa dân.

3)     Cả 2 đều độc quyền bạo lực, độc quyền phương tiện truyền thông.

4)     Cả 2 lúc đầu thì dùng thiểu số để khủng bố đa số; sau đó lại dùng đa số khủng bố lại thiểu số.

5)     Cả 2 đều giết người không gớm tay. Chính vì vậy mà Hitler đã giết hơn 6 triệu dân Do Thái. Nhưng cộng sản đã giết nhiều hơn và có đặc điểm là không những giết người ngoài, mà giết chính dân mình qua những cuộc đấu tố, đánh tư bản mại sản, qua những vụ thanh trừng ngay chính trong nội bộ của mình.

 

Nạn nhân của những chế độ cộng sản trên thế giới, theo những nhà sử học Courtois, Margolin v.v.. trong Quyển Sách Đen của Chủ nghĩa Cộng sản ( Le Livre noire du Communisme), cũng như theo tài liệu phụ của Nghị quyết 1481, được Hội Đồng Âu Châu gồm 46 nước chấp nhận ngày 24/1/2006, với 99 phiếu thuận và 42 phiếu chống, đã lên án chủ nghĩa cộng là một chủ nghĩa sát nhân, thì nạn nhân của chủ nghĩa này lên tới cả trăm triệu người, được chia ra như sau : Liên sô: 20 triệu; Trung Cộng : 65 triệu; Việt Nam 1 triệu; Bắc Hàn : 2 triệu; Căm Bốt : 2 triệu; Đông Âu: 1 triệu; Châu Mỹ La tinh: 150 000; Phi Châu: 1,7 triệu; A Phú Hãn: 1,5 triệu.

   Quả thật lịch sử của thế kỷ 20 vừa qua có nhiều trang sử đau thương và đẫm máu: gần 200 triệu người chết vì 2 cuộc thế chiến và vì 2 chế độ độc tài phát xít và cộng sản. Tuy nhiên thế kỷ 20 không phải chỉ có những trang sử đau thương, mà cũng có những trang sử vui mừng. Đó là sự chiến thắng của chế độ dân chủ, và sự sụp đổ của những chế độ độc tài. Những chế độ độc tài, dù là tả hay hữu, bề ngoài có vẻ vững chắc, nhưng sụp đổ một sớm một chiều, như chúng ta đã thấy sự sụp đổ của chế độ Liên Sô và Đông Âu; vì ước vọng thầm kín của người dân, dù sống ở bất cứ đâu cũng là được có tự do, có thể trao đổi thông tin với nhau, không bị cấm đoán, ép buộc. Niềm ước vọng này đã trở thành những sợi dây vô hình nối kết họ lại với nhau, nối kết người trong nước, nối kết người ngoài nước với  người trong nước; và sợi dây vô hình này, nếu có dịp, thì cũng là sợi dây giật sập những chế độ độc đoán, độc tài. Chính vì vậy mà có người đã nghĩ rằng chế độ dân chủ là chiều hướng tiến bộ tất yếu của văn minh nhân loại. 

 

II)               Trang sử tốt đẹp của thế kỷ qua, chế độ dân chủ, chiều hướng tiến bộ tất yếu của văn minh nhân loại (2)

 

   Chế độ dân chủ chúng ta có thể định nghĩa nhiều cách khá nhau; nhưng cũng có thể định nghĩa giản tiện là một chế độ mà trong đó những quyền tự do căn bản của con người, đi từ quyền tự do sinh sống, tự do mưu cầu hạnh phúc, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng v.v.., được bảo đảm và tôn trọng (3). Văn minh cũng vậy, chúng ta có thể định nghĩ nhiều cách, nhưng cũng có thể định nghĩa là tích lũy tất cả những thành quả việc làm của con người trong một xã hội, từ thế hệ này qua thế hệ khác, để cải tiến đời sống của nó trên 2 phương diện vật chất và tinh thần. Về vật chất thì khi đói, con người có cơm ăn, khi lạnh có áo mặc, khi bệnh có thuốc uống. Về tinh thần, thì đời sống con người càng ngày càng xa rời đời sống cầm thú, những giá trị tinh thần được nâng cao, những quyền căn bản của nó được tôn trọng. Chính vì vậy mà chế độ dân chủ là một chế độ đi đúng chiều hướng tiến bộ của văn minh nhân loại, khác hẳn với những chế độ độc đoán, độc tài, tả cũng như hữu.

   Thật vậy, một số nhà nhân chủng học, sử gia, kinh tế gia chia lịch sử nhân loại ra làm 5 thời kỳ văn minh:

1)     Văn minh chẩy hái: con người hái trái cây, săn bắn chung quanh

    hang lỗ của mình để sống;

2)     Văn minh du mục: nhưng rồi trái cây và thú để săn bắn cũng khan hiếm, con người phải đi xa để kiếm ăn, nó bước sang thời kỳ du mục. Cao điểm của văn minh du mục là đế quốc Mông Cổ với   Thành Cát Tư Hãn vào đầu thế kỷ 13. Nhưng rồi đi xa để kiếm ăn,   thức ăn cũng khan hiếm, con người bước sang thời kỳ văn minh nông nghiệp hay dịnh cư;

      3) Văn minh định cư: Dù đi xa để kiếm ăn, thức ăn cũng khan hiếm, con người bắt buộc trồng trọt và nuôi xúc vật để sinh sống. Chính vì vậy mà chúng ta thấy những nền văn minh lớn của nhân loại lúc đầu thường xuất phát từ những lưu vực các con sông lớn, vì nơi này đất phì nhiêu, có nước để tưới cây, cho người và xúc vật uống; như văn minh Ai cập ở đồng bằng sông Nil, văn minh Ấn Độ ở đồng bằng sông Hằng v. v..

      4)Văn minh thương mại : Chính nhờ văn minh định cư nông nghiệp mà con người có thể thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của mình. Và một khi những nhu cầu thiết yếu được thỏa mãn, con người muốn những nhu cầu xa xỉ, chẳng hạn khi có vải để mặc, nhưng muốn mặc lụa, thì nó trao đổi vải, hay một thứ khác với người dệt lụa. Chính vì vậy mà có con đường Tơ Lụa nối liền Đông và Tây.

       5)Văn minh tri thức, điện toán: Trong thời kỳ văn minh thương mại, con người đã phát minh ra máy hơi nước, máy nổ, điện, điện thoại, rồi máy điện toán, con người không cần đi xa để trao đổi, mà có thể ngồi một chỗ để trao đổi, con người bước sang nền văn minh ngày hôm nay là nền văn minh tri thức, điện toán.

Thật vậy, nhân loại đã ra khỏi nền văn minh định cư nông nghiệp, với sức lao động bắp thịt, chân tay làm chính, để bước vào cuộc cách mạng kỹ nghệ thứ nhất với sự dùng máy hơi nước để khai thác tài nguyên thiên nhiên, từ đầu thế kỷ thứ 18 đến cuối thế kỷ 19. Sang đầu thế kỷ 20 và đến giữa thế kỷ 20, con người dùng máy nổ để cách mạng hóa công nghiệp. Cuộc cách mạng thứ ba là cuộc cách mạng hậu công nghiệp bắt đầu từ giữa thế kỷ 20 cho tới ngày nay, với sự xuất hiện của máy điện toán, thô sơ lúc đầu và được dùng vào quân sự, sau đó được hoàn hảo và thâu nhỏ, dùng vào kinh tế.. Chính nhờ vậy mà khác với thời sản xuất dây chuyền Taylor của thời kỳ công nghiệp phôi thai; người ta chuyển dần từ hình thức qui mô, đại chúng, sản xuất hàng loạt sản phẩm có tính cách đồng dạng, sang phương thức sản xuất gọn, nhẹ, với máy điện toán tri thức thông minh hơn, nhằm cung cấp hàng hóa có tính chất cá biệt, cho một thị trường càng ngày càng phân tán nhỏ, đòi hỏi nhiều hơn, nhằm thỏa mãn nhu cầu người dân càng ngày càng khó  khăn và đa dạng hơn. Ngày hôm nay, máy điện toán đã đi vào mọi khâu của tiến trình sản xuất kinh tế, từ vấn đề hùn vốn, lập hãng xưởng cho tới khi sản xuất hàng và bán  ra thị trường. Chính vì vậy mà ở nền văn minh tri thức điện toán ngày hôm nay, sản xuất kinh tế đã chuyển từ bắp thịt, chân tay lên trí não. Những động tác rập khuôn, dây chuyền của thời công nghiệp phôi thai được thay thế bằng những công tác tinh vi hơn, đòi hỏi tri thức, phát minh, sáng kiến nhiều hơn.Bởi lẽ đó mà mô hình tổ chức nhân xã dân chủ được coi là mô hình thích hợp cho nền văn minh tri thức điện toán, vì chỉ dưới chế độ dân chủ, con người mới có thể trao đổi dễ dàng thông tin, những công trình nghiên cứu; lúc đó mới có phát minh, sáng kiến. Với thời kỳ văn minh này, với cuộc cách mạng tin học, điện toán, còn được gọi là cách mạng trí tuệ, yếu tố quyết định trong sản xuất kinh tế không còn là những đất đai, hầm mỏ nằm trong lòng đất, không ở chân tay, mà chính là nằm trong đầu óc con người. Về vấn đề quản trị xí nghiệp ngày hôm nay, thông tin, tri thức được coi là yếu tố quyết định nhất.

  Từ đó, những chế độ độc tài, hữu hay tả, hạn chế thông tin, kiểm soát sự trao đổi, ngôn luận của con người, là những chế độ đi ngược lại trào lưu tiến bộ của văn minh nhân loại. Những chế độ này đã bị và sẽ còn bị đào thải.

 

 Thế kỷ 20 vừa qua, nhân loại có nhiều trang sử đau thương và đẫm máu, với 2 cuộc thế chiến, với sự xuất hiện của 2 chế độ độc tài, độc tài phát xít và độc tài cộng sản, với gần 200 triệu người chết. Chế độ phát xít không còn nữa. Chế độ cộng sản đã sụp đổ ngay chính ở cái nôi của mình là Liên Sô và Đông Âu. Dân tộc Nga và Đông Âu đã can đảm đứng lên lật qua trang sử cộng sản, đau thương và đẫm máu. Dân tộc Việt Nam hãy can đảm đứng lên, noi gương họ, lật qua trang sử cộng sản đau thương và đẫm máu của mình, viết lên trang sử mới, tạo dựng một chế độ dân chủ, mô hình tổ chức nhân xã thích hợp với chiều hướng tiến bộ của văn minh tri thức điện toán hiện nay của nhân loại.

 

                                                Paris ngày 04/06/2006

 

                                                      Chu chi Nam

  

(1)              Xin xem thêm bài của tác già trên những báo Việt ngữ hải ngoại: Đi tìm một thể chế chính trị thích hợp cho Việt Nam và những nước Á Phi, Nam Mỹ chậm tiến.

(2)               Xin xem : Chế độ độc tài phát xít, độc tài cộng sản và chế độ dân chủ, chế độ nào phục vụ người dân, Phải chăng chế độ dân chủ và kinh tế thị trường là mô hình tổ chức nhân xã cuối cùng của nhân loại.

(3)              Xin xem bài: Tư tưởng của Marx phản văn hóa, phản văn minh.