Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Nguyễn Kiến Giang: Nhìn nhận thực trạng văn hoá Việt Nam hiện nay |
1 2
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7334&rb=0306
Tiểu luận này được viết theo yêu cầu của anh Trần Độ, chủ nhiệm đề tài “Thực trạng văn hóa Việt Nam”, trong khuôn khổ chương trình nghiên cứu “Văn hóa và phát triển”. Nó được dùng làm “đề dẫn” cho các cuộc thảo luận của nhóm đề tài. Trên cơ sở tiểu luận này và những ý kiến thảo luận nhóm, anh Trần Độ và tôi đã soạn thành một văn bản để nộp cho ban chủ nhiệm chương trình. Rồi nó cũng mất tăm như bao nhiêu ý kiến thảo luận khác, để chỉ còn lại những “kết luận” chung chung, vô thưởng vô phạt... Nhưng đối với anh Trần Độ và tôi, đó là một dịp để suy nghĩ và phát biểu những gì có thể và cần thiết. Có thể nói, đây là khởi đầu cho sự cộng tác tâm đầu ý hợp của anh Trần Độ và tôi.
Thật khó khăn - nhất là đối với
chỉ một người - khi phải đánh giá thực trạng văn hóa Việt Nam vào
thời điểm này (đầu những năm 90). Dưới đây, nhiều lắm cũng chỉ có
thể nêu lên một số nhận xét về một số mặt nào đó của đời sống văn
hóa. Ý định chủ yếu của chúng tôi là thử đưa ra một cách nhìn (một
cách tiếp cận) dựa vào sự vận động xã hội nói chung và của bản
thân văn hóa nói riêng. Đây tuyệt nhiên không phải là những kết luận,
dù chỉ là của chúng tôi, mà nhiều lắm cũng là những suy nghĩ, những
gợi ý. Các cuộc thảo luận về vấn đề này, nếu được tổ chức và
tiến hành nột cách tích cực và nghiêm túc, chắc chắn sẽ bổ sung và
sửa chữa nhiều cho những ý kiến nêu lên ở đây.
*
1. Bức tranh thực trạng văn hóa Việt Nam hiện nay rất phức tạp,
bao hàm những mâu thuẫn sâu sắc, khiến cho mọi lý giải giản đơn, một
chiều đều không thích hợp. Một nhận xét thường được nghe thấy: văn
hóa nước ta đang xuống cấp nghiêm trọng. Có đúng thế không? Theo
chúng tôi, để trả lời câu hỏi đó, phải lấy một chuẩn mực nào đó
làm căn cứ. Nhưng lấy chuẩn mực nào để nói rằng văn hóa đang xuống
cấp hay lên cấp? Hơn nữa, chuẩn mực ấy được lựa chọn dựa vào cái
gì?
Ý kiến của chúng tôi là: không phải văn hóa Việt Nam đang xuống cấp,
nó đang ở trong một thời kỳ chuyển tiếp về chất với những biểu hiện
ngược chiều nhau, trong đó xuất hiện những yếu tố có thể coi là
những tín hiệu của một sự phục hưng văn hóa Việt Nam trong thời đại
mới, và tất cả những điều đó diễn ra một cách tự phát, đầy những
xung đột sâu sắc và gay gắt giữa các xu hướng khác nhau. Văn hóa Việt
Nam đứng trước những nguy cơ lớn, những mối lo ngại lớn, nhưng cũng
đang hàm chứa những niềm hy vọng lớn, những triển vọng lớn. Chúng tôi
nói như vậy dựa vào mấy căn cứ chủ yếu:
2. Trước khi đi vào những điểm nói trên, xin nói ngay: khái niệm
văn hóa dùng ở đây chưa phải theo nghĩa một tập hợp những lĩnh vực
đời sống và hoạt động tinh thần, mà chủ yếu theo nghĩa một hệ
thống những giá trị tinh thần chi phối đời sống, tâm lý và hoạt động
của con người. Nói cách khác, ở đây chúng tôi không phân tích từng
lĩnh vực đời sống và hoạt động văn hóa, mà coi văn hóa như một tổng
thể, một cấu trúc mà hạt nhân là hệ giá trị tinh thần. (Nhưng chính
tổng thể văn hóa, cấu trúc văn hóa ấy cũng không có tính thuần nhất
về các yếu tố của nó, trước kia là thế và ngày nay hay sau này cũng
thế. Vấn đề đặt ra là phân biệt tính chất của các yếu tố ấy và nêu
được những yếu tố nào giữ vai trò chi phối - nhưng giá trị tinh thần,
văn hóa được toàn xã hội, hay đại bộ phận xã hội, thừa nhận).
3. Văn hóa Việt Nam đang chuyển từ nền văn hóa cũ sang nền văn
hóa mới, từ hệ giá trị tinh thần cũ sang hệ giá trị tinh thần mới.
Để hiểu được cái gì là mới, cần hiểu cái gì là cũ.
Về mặt thời gian, cũ là bao giờ? Có thể lấy Cách mạng tháng Tám
làm cái mốc để phân biệt văn hóa cũ và văn hóa mới ở nước ta. Cũng
có thể lấy việc giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước năm 1975
làm một cái mốc để phân biệt. Những sự kiện đó chắc chắn có ảnh
hưởng to lớn đến đời sống tinh thần và văn hóa của đất nước. Nhất
là khi lấy giá trị độc lập dân tộc làm căn cứ chủ yếu, thì rõ ràng
những sự kiện lớn lao ấy là những cái mốc không thể phủ nhận. Nhưng
vì đời sống tinh thần và văn hóa, những giá trị chi phối đời sống
tinh thần và văn hóa bao trùm lên mọi mặt đời sống xã hội và cá nhân
(từ sản xuất và tái sản xuất của cải vật chất, tái sản xuất con
người, cho đến những quan hệ giao tiếp giữa con người với nhau), nên
chỉ lấy một giá trị duy nhất (độc lập dân tộc) làm căn cứ là không
đủ. Nền văn hóa một nước và hệ giá trị tinh thần của nó có phạm vi
rộng hơn nhiều. Lấy một ví dụ: nếu trước khi giành được độc lập và
sau đó, đời sống tinh thần của nhân dân có mặt vẫn như cũ hoặc có
thay đổi phần nào nhưng căn bản vẫn sống với một nền sản xuất nhỏ,
với lao động thủ công là chính, với tâm thức (mentalité) của người
tiểu nông, với cộng đồng làng xã được tổ chức một cách khác nhau
nhưng vẫn lấy lợi ích cộng đồng làm giá trị chủ yếu, v.v..., thì
chưa thể nói tới hai nền văn hóa khác nhau về chất được.
Về mặt văn hóa, sự thể diễn ra phức tạp hơn nhiều. Mọi cách nhìn
giản đơn đều bị bật khỏi hiện thực vô cùng phức tạp. Chẳng hạn, nếu
lấy sự giao tiếp làm một nội dung cơ bản của văn hóa, thì việc sáng
tạo và phổ biến chữ quốc ngữ lại là một cái mốc hết sức quan
trọng. Hãy tưởng tượng xem, nếu chúng ta không có chữ quốc ngữ thì
việc phổ cập giáo dục sẽ khó khăn biết chừng nào. Chưa nói tới sự
phát sinh và phát triển của một số loại hình văn học nghệ thuật (như
tiểu thuyết, thi ca...) cũng khó đạt được những nhịp độ nhanh chóng
và những chiều sâu tinh tế như đã có từ nửa đầu thế kỷ XX ở nước
ta. (Chúng tôi không nói rằng không có chữ quốc ngữ, nước ta sẽ không
có các loại hình văn học nghệ thuật ấy - như trường hợp Trung Quốc,
Nhật Bản cho thấy với những văn tự truyền thống cũng có thể có
những thứ đó, ở đây chúng tôi chỉ muốn nói tới những nhịp độ và
những chiều sâu nào đó. Hay cũng có thể nêu lên một giả thiết ngược
lại: nếu vẫn duy trì chữ viết truyền thống - chữ Hán và chữ Nôm -
thì dễ bảo tồn văn hóa truyền thống hơn chăng? Xin để ngỏ vấn đề
này).
Theo ý chúng tôi, cái mốc để nền văn hóa cũ chuyển sang nền văn hóa
mới chính là hiện nay, vào chính thời điểm này, tức là
vào những năm 80-90 của thế kỷ này. Bởi vì, đến lúc này, sự vận
động xã hội Việt Nam mới thật sự có những chuyển biến về chất trong
tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội và cá nhân, từ kinh tế, chính
trị đến văn hóa, sự chuyển biến ở một lĩnh vực này chịu tác động
những chuyển biến trong các lĩnh vực khác, đồng thời cũng tác động
ngược lại một cách mạnh mẽ chưa từng thấy. Chúng tôi sẽ dần dần
chứng minh luận điểm này trong những đoạn dưới đây.
4. Như vậy, trong quan niệm của chúng tôi, trước thời điểm này
(những năm 80-90), nói chung đó là nền văn hóa cũ. Nhưng chính nền văn
hóa cũ ấy cũng không thuần nhất và trải qua những giai đoạn khác
nhau. Tạm thời có thể chia thành mấy giai đoạn:
4.1. Giai đoạn truyền thống thuần túy trước khi nước ta trở
thành một nước thuộc địa. Truyền thống không có nghĩa là chỉ có
tính chất nội sinh (endogène), chỉ sống bằng những giá trị tinh thần
của dân tộc mình. Không, truyền thống cũng có tính chất ngoại sinh
(exogène), có du nhập ảnh hưởng của những nền văn hóa bên ngoài. Nhưng
dù là nội sinh hay ngoại sinh, tất cả đều thuộc phạm trù truyền
thống (Khổng giáo và Phật giáo, chẳng hạn, đều là những giá trị
tinh thần nảy sinh và lan rộng trong xã hội truyền thống).
4.2. Giai đoạn thuộc điạ. Những mốc thời gian của giai đoạn
này, bắt đầu cũng như kết thúc, là không đơn nhất. Từ những nhượng
địa đầu tiên cho tới chế độ bảo hộ thiết lập trên cả nước (với
những sắc thái khác nhau: chế độ bảo hộ ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, chế
độ trực trị ở Nam Kỳ) là một khoảng thời gian khá dài, khoảng ba
mươi năm, kể từ hiệp ước 1858 đến hiệp ước 1883. Sự kết thúc của giai
đoạn này cũng trải ra một khoảng thời gian dài tương tự: năm 1945, khi
Cách mạng tháng Tám thành công; năm 1954 khi miền Bắc được giải phóng,
và năm 1975 khi cả nước hoàn toàn giải phóng. Như vậy, giai đoạn thuộc
địa mang tính tương đối thuần nhất trong khoảng nửa thế kỷ (từ 1895
khi bắt đầu thời kỳ khai thác thuộc địa lần thứ nhất đến 1945 khi
Việt Nam tuyên bố độc lập. Còn 30 năm trước đó và sau đó, đất nước
bị chia cắt thành những vùng khác nhau, đặc biệt từ 1954 đến 1975 bị
chia cắt thanh hai miền, có hai quốc gia xung đột nhau quyết liệt. Trong
những hoàn cảnh ấy, đời sống xã hội và văn hóa nước ta không thuần
nhất, nhiều yếu tố xen kẽ nhau, cùng tồn tại và mâu thuẫn nhau. Nhưng
nếu lấy khoảng thời gian nửa thế kỷ tương đối thuần nhất (1895-1945)
để xem xét, thì có thể nhìn thấy rằng các yếu tố truyền thống không
còn nguyên vẹn; một số yếu tố hiện đại đã xuất hiện (giao thương, đô
thị hóa, sự du nhập các giá trị văn hóa và tư tưởng phương Tây...).
Trong giai đoạn này, đời sống văn hóa nước ta diễn ra theo những “trục”
khác nhau nhưng hỗ trợ nhau. Một mặt, nổi bật lên trên tất cả là cuộc
đấu tranh dai dẳng và quyết liệt giữa chế độ thực dân và các giá
trị dân tộc. Mặt khác, điều rất đáng ngạc nhiên là trong đời sống văn
hóa, người Việt Nam đã làm một bước nhảy vọt lớn: chuyển từ văn hóa
truyền thống sang một nền văn hóa mang không ít yếu tố hiện đại. Mà
chỉ trong vòng có vài thập kỷ!
4.3. Giai đoạn 1945-1975. Đây là giai đoạn xã hội và văn hóa Việt
Nam bị chia đôi một cách rõ rệt nhất. Trong kháng chiến chống Pháp
(1945-1954), đó là sự chia cắt giữa vùng do chính quyền Việt Nam kiểm
soát và văn hóa của vùng gọi là “tạm bị chiếm” do Pháp kiểm soát,
chủ yếu là ở các thành phố lớn (Hà Nội, Huế, Sài Gòn...). Nhưng văn
hóa kháng chiến cũng thâm nhập khá sâu ở vùng này. Và thật ra, do
thời gian ngắn ngủi, văn hóa vùng “tạm bị chiếm” chưa hình thành như
một thứ văn hóa có màu sắc riêng. Phải đến sau đó, khi đất nước tạm
chia làm hai miền theo hiệp định Geneve, dần dần hình thành hai thứ văn
hóa khác nhau. Ở miền Bắc là “văn hóa xã hội chủ nghĩa”. Còn ở miền
Nam là văn hóa thường được gọi là “văn hóa thực dân mới”. Có những
hiện tượng đan xen nhau (“văn hóa giải phóng” ở miền Nam. Và ngay trong
văn hóa miền Nam, cũng có những xu hướng khác nhau, trong đó có cả xu
hướng dân tộc. Xu hướng này có khi khoác những cái áo khác nhau (một
người trí thức miền Nam cho biết rằng, để chống lại “văn hóa Hoa Kỳ”,
người ta đã nấp dưới cái vỏ “văn hóa Trung Quốc” và “văn hóa Pháp”).
Những tìm tòi về triết học, văn học, nghệ thuật đã xuất hiện, trong
đó có những tìm tòi theo hướng hiện đại và cũng đã đạt tới những
thành công nào đó.
Còn ở miền Bắc, toàn bộ đời sống văn hóa được hướng theo công cuộc
giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ Quốc, đặc biệt là trong
thời kỳ tập trung toàn bộ sức mạnh vào cuộc chiến tranh chống Mỹ
(1965-1975). Trong thời kỳ này, cần ghi nhận một nét mới không chỉ có
ảnh hưởng chính trị mà có ảnh hưởng lớn cả về mặt văn hóa: chủ
nghĩa Mác - Lênin được đặt lên vị trí hệ tư tưởng chính thống một
cách tuyệt đối. Như sau này sẽ thấy, tác động của chủ nghĩa Mác -
Lênin đối với các mặt đời sống xã hội và văn hóa mang những tính
chất khác nhau, có cả ý nghĩa tích cực lẫn tiêu cực.
4.4. Giai đoạn sau giải phóng, từ năm 1975 đến giữa những
năm 80, khi bắt đầu công cuộc đổi mới. Trong giai đoạn này, nổi bật lên
mâu thuẫn giữa những yêu cầu bình thường hóa đời sống con người và
phát triển kinh tế, hiện đại hóa kinh tế và xã hội, với sự duy trì
và tăng cường mô hình “chủ nghĩa xã hội nhà nước”, mà hậu quả là
một sự đổ vỡ toàn diện, đưa xã hội vào trạng thái khủng hoảng nặng
nề và sâu sắc. Những giá trị cũ mất chỗ đứng và ảnh hưởng, trong
khi những giá trị mới chưa kịp hình thành và phát triển.
Sự phân chia hết sức sơ lược trên đây cho thấy nền văn hóa cũ mang
những yếu tố rất khác nhau, thậm chí xét về mặt hình thức là đối
lập nhau (chẳng hạn, những giá trị “vô sản”, “xã hội chủ nghĩa” do
chủ nghĩa Mác - Lênin đề xướng đối lập với những giá trị truyền
thống xưa), nhưng trên thực tế, nhìn chung, những giá trị truyền thống
vẫn chiếm địa vị ưu thế.
Xin nói ngay một điều để tránh hiểu lầm. Chúng tôi không hiểu “truyền
thống” như một cái gì kém và xấu. Cũng như không đồng nhất “hiện
đại” với cái gì hay và tốt, nói chung. Giá trị học (axologie) không
có những thước đo đúng, sai, tốt xấu. Nó coi các giá trị như một
hiện thực xã hội (Durkheim và Weber, các nhà xã hội học đầu tiên nói
tới khái niệm “giá trị” đều coi các giá trị khắc sâu vào các cá
nhân và được họ chia sẻ và đồng hóa như những cái bảo đảm cho sự
thống nhất xã hội).
5. Những giá trị đặc trưng của nền văn hóa cũ gần như bao giờ
cũng có những biến thể có thể có của chúng, dưới tác động của yếu
tố này hay yếu tố khác, có khi ngược lại với những giá trị vốn có.
Trong lịch sử xa xưa, đã từng xẩy ra như vậy trong các quá trình tiếp
nhận văn hóa (acculturation) của một cộng đồng người nào đó. Chẳng
hạn, trong lĩnh vực tín ngưỡng, khi chuyển từ những hình thức tín
ngưỡng dân gian sang những hình thức tín ngưỡng tôn giáo, đã có những
“đụng đầu”, những xung đột gay gắt. Nhưng, rốt cuộc, một sự đồng hóa
từ cả hai phía đã xẩy ra. Tín ngưỡng dân gian (đa thần, vật linh) tiếp
nhận một số giáo lý tôn giáo nào đó làm của mình, ngược lại, tôn
giáo cũng “kết nạp” một số yếu tố dân gian vào “hệ thống của mình.
Trong một ngôi chùa Phật, có thể thấy bên cạnh các pho tượng Phật cả
những tượng Ngọc hoàng Thượng đế, Thượng mẫu, v.v... Kitô giáo, khi du
nhập vào Việt Nam cũng chấp nhận bàn thờ tổ tiên trong các gia đình
tín đồ, mà việc thờ cúng tổ tiên là đi ngược lại giáo lý Kitô giáo.
Cũng có thể nói như vậy, ở một mức độ nhất định, về sự kết hợp
chủ nghĩa cộng sản (dưới dạng chủ nghĩa Mác - Lênin) với những giá
trị tinh thần truyền thống. Sự kêu gọi đoàn kết các tầng lớp bị áp
bức (Vô sản toàn thế giới, liên hiệp lại!) chuyển thành sự cố
kết làng xã (tình làng nghĩa xóm), thành khẩu hiệu đoàn kết
dân tộc (Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết), cùng có một điểm
chung từ trong chiều sâu tâm thức cộng đồng. Chủ nghĩa vô thần tưởng
như xóa sạch sành sanh mọi biểu hiện tôn giáo và tín ngưỡng, và trên
thực tế, có lúc điều đó đã xẩy ra, nhưng chính tâm thức tín ngưỡng,
tôn giáo ấy lại biểu hiện ở thái độ của nhiều đảng viên cộng sản
đối với chính học thuyết của mình: biến nó thành một thứ giáo lý,
với một niềm tin tuyệt đối có tính tiên thiên (a priori), biến sinh
hoạt tư tưởng của một chính đảng thành sinh hoạt giáo hội. Hơn nữa,
còn áp đặt học thuyết của mình lên toàn xã hội như một hệ tư tưởng
thống trị, điều mà chính Marx đã kịch liệt bác bỏ. ở đây, những mâu
thuẫn và xung đột giữa cái “mới” và cái “cũ” chỉ là về mặt hình
thức, còn về thực chất lại đồng hóa lẫn nhau, và trong sự đồng hóa
ấy, yếu tố truyền thống vẫn giữ ưu thế. Ngày nay cũng vậy, nếu có
ai đó một mực đề cao cái hiện đại và bài xích cái truyền thống,
với một thái độ cực đoan (hoặc là - hoặc là), thì xét đến cùng, đó
không phải là mới, mà về thực chất vẫn là theo tâm thức cũ (tâm thức
độc tôn).
Vậy thì, những đặc trưng cơ bản của hệ thống giá trị truyền thống,
hạt nhân của văn hóa cũ, là những gì? Nói cách khác, những giá trị
nào tạo nên sự cố kết, thống nhất của xã hội truyền thống?
5.1. Con người tồn tại trong tự nhiên, vì thế bao giờ quan hệ
giữa con người và tự nhiên cũng là một mặt cơ bản - nếu không nói là
cơ bản nhất - của đời sống tinh thần con người. Trong những nền văn
minh xa xưa, vũ trụ (tự nhiên) là một sự huyền bí tuyệt đối, đồng
thời cũng là một quyền năng tuyệt đối, đối với con người. Con người
chưa có và cũng chưa thể có thái độ (hay tâm thức) chinh phục tự
nhiên, mà chỉ có thể có thái độ nương nhờ tự nhiên, khuất phục trước
những sức mạnh tự nhiên. Tất cả các tín ngưỡng xa xưa của con người,
kể cả con người Việt Nam) đều mang một nét chung: sùng bái, thờ cúng
tự nhiên. Không chỉ trong hoạt động lao động sản xuất, mà cả về các
mặt sinh hoạt khác (cư trú, chữa bệnh...), con người đều cầu xin tự
nhiên giúp đỡ. Tất cả các vật tự nhiên (một hòn đá, một cây to, một
hốc núi...) đều được linh thiêng hóa. Cho đến trước cách mạng, ở
nhiều vùng người ta không dám xâm phạm tự nhiên (các lùm lòi là chốn
huyền bí, một cây to cây nhỏ đều có thần hay có “ma”...). Ngay hiện
nay, ai đến bệnh viện Huế cũng đều nhìn thấy một hiện tượng có vẻ
khác thường: mỗi gốc cây quanh vườn bệnh viện đều có một nắm hương
thờ. Thờ cúng tự nhiên, phục tùng tự nhiên để được yên ổn, được phù
hộ là một nét căn bản trong tâm thức con người, do đó, là một giá
trị tinh thần cơ bản của đời sống con người. ở Việt Nam, trời
là khái niệm tối thượng và toàn hiện (omniprésent). Lạy Trời, nhờ
Trời, ơn Trời, v.v..., nằm trong ngôn ngữ hàng ngày của mọi người.
Trời là tự nhiên, là vũ trụ trong tâm thức Việt Nam. (Dù có lúc “oán
Trời” hay giễu Trời - con cóc là cậu ông Trời - thì không phải
vì vậy mà hạ thấp Trời). Có thể nói rằng trong quan hệ người - tự
nhiên truyền thống, không phải không có những xung đột, nhưng con người
bao giờ cũng chịu khuất phục và ở thế “nhờ vả”. Tâm thức truyền
thống ấy lại được củng cố bởi ý niệm “thiên mệnh” của Nho giáo. Và
cả sau này, khi tiếp xúc với chủ nghĩa Mác - Lênin, tâm thức phục
tùng Trời ấy là cơ sở hết sức thuận lợi để tiếp nhận những “qui
luật” phổ biến được chủ nghĩa Mác-Lênin nêu lên như những giá trị
tuyệt đối, không cưỡng được, và từ đó coi những gì thể hiện
những “qui luật phổ biến” ấy (đảng, lãnh tụ...) không khác gì Trời.
Một học thuyết khoa học - ít ra nó tự coi là thế - khi cắm vào mảnh
đất tâm thức truyền thống như của nước ta, lại chưa trải qua giai đoạn
tư duy duy lý, thì những gì là “khoa học” (hay được coi như vậy) đều
biến thành tín ngưỡng theo lối truyền thống.
5.2. Quan hệ cá nhân - xã hội trong hệ giá trị truyền thống ở
nước ta, cũng như trong mọi xã hội truyền thống khác, dựa trên nguyên
tắc (chuẩn mực) cá nhân tồn tại vì cộng đồng, cho cộng đồng,
mà không phải ngược lại như trong xã hội hiện đại. Nói cụ thể hơn,
con người chỉ tồn tại với tư cách một bộ phận cộng đồng mà không
phải với tư cách cá nhân. Hay nói như Mác, trong các xã hội truyền
thống, con người được nuôi dưỡng bằng cái “cuống nhau” nối liền với
cộng đồng; cắt “cuống nhau” ấy đi, cá nhân không thể tồn tại được
nữa. Lợi ích cộng đồng bao giờ cũng đặt trên lợi ích cá nhân. Ý thức
cộng đồng bao giờ cũng lấn át ý thức cá nhân. Cá nhân tuy không phải
là con số không đối với cộng đồng, nhưng dù giá trị của cá nhân lớn
đến mấy đi nữa thì vẫn phải phục tùng cộng đồng. Không thể đứng cao
hơn cộng đồng, thậm chí không thể khác với cộng đồng, với điều
đó ý thức cộng đồng trở thành ý thức bình quân, cào bằng, san phẳng
mọi cá tính con người. Ý thức cộng đồng, do đó, cũng tạo ra thái độ
thụ động của cá nhân. Tất nhiên, vì địa vị cá nhân trong cộng đồng
không giống nhau - vì các xã hội truyền thống được tổ chức theo những
thứ bậc nhất định (ban đầu là hệ thứ bậc về tuổi tác, về dòng họ,
sau đó là cả hệ thứ bậc về quyền lực), nên những cá nhân chiếm địa
vị cao trong hệ thứ bậc ấy nắm quyền chi phối cộng đồng; ý kiến và
ý chí của họ được đồng nhất với ý kiến và ý chí của cộng đồng.
Tất cả những cái đó được củng cố thêm bởi Nho giáo với quan niệm kỷ
cương, thứ bậc vô cùng chặt chẽ của nó. Ý thức cộng đồng ở nước ta
còn được củng cố hơn nữa bởi những nhu cầu đoàn kết, thống nhất dân
tộc chống ngoại xâm. Sức mạnh chống ngoại xâm trước hết là sức mạnh
thống nhất của cộng đồng. Ý thức đó còn được củng cố bởi “nền văn
minh lúa nước”, khi mọi người được huy động vào đắp đê phòng lụt, vào
những công trình thủy lợi, vào cả những lúc thời vụ bận rộn nhất. Ý
thức cộng đồng truyền thống ấy được phát huy đến tình độ cao nhất
trong mấy chục năm cách mạng và kháng chiến. Chỉ cần lấy một ví dụ
nhỏ cũng đủ thấy ý thức cộng đồng tác động như thế nào trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ vừa qua: vào giữa những năm 60, nhiều người -
trước hết là chính những nông dân xã viên - bắt đầu thấy rõ cách tổ
chức hợp tác xã nông nghiệp hồi đó là không thích hợp với nền sản
xuất tiểu nông, kìm hãm sản xuất nông nghiệp, tạo nên tình hình “cha
chung không ai khóc”, mảnh đất rất thuận lợi cho mọi tệ hại lãng phí
và tham ô. Nhưng chính các hợp tác xã lại có tác dụng rất lớn trong
việc huy động nhân lực, vật lực ở nông thôn trong chiến tranh (cả các
đơn vị trực chiến của dân quân làng xã cũng do các hợp tác xã đài
thọ).
5.3. Trên cơ sở những giá trị ấy, một giá trị truyền thống
khác được đẻ ra và ăn sâu vào tâm thức con người trong quan hệ giữa dân
và nhà nước. Chỉ kể từ khi có nhà nước tự chủ (thế kỷ X), gần một
nghìn năm (cho tới Cách mạng tháng Tám 1945), dân Việt Nam luôn luôn
sống dưới chế độ quân chủ, mọi công việc lớn nhỏ đều do nhà vua định
đoạt, nhất là dưới những triều đại tập quyền cao độ. Người dân bao
giờ cũng mang thân phận thần dân đối với nhà vua. Và thần dân
là đồng nghĩa với phục tùng tuyệt đối. Thần dân không có quyền lựa
chọn người cai trị mình, chỉ có thể nuôi hy vọng trên đầu mình là
những “đấng minh quân” có các “tôi hiền” giúp việc cai trị. Có được
“vua giỏi tôi hiền” (hay “minh quân lương tướng”) là dân cảm thấy
sung sướng. “Vua hỏng tôi hư”, dân cũng đành cam chịu.
Sau chế độ tập quyền lâu đời ấy, là chế độ thực dân. Tất nhiên,
người dân vẫn nằm trong địa vị thần dân, và bây giờ còn cộng thêm địa
vị những kẻ mất nước, làm nô lệ cho nước ngoài. Trong những điều
kiện ấy không thể nói tới địa vị công dân và nền văn hóa công dân.
Nhưng có một điều cần nói rõ. Địa vị thần dân chủ yều là trong lĩnh
vực chính trị (quan hệ dân - nhà nước), còn trong lĩnh vực văn hóa
thì có khác. Ngoài thứ văn hóa chính thống (của các thế lực thống
trị hay do các thế lực đó chi phối), vẫn tồn tại văn hóa không chính
thống, gồm cả bác học và dân gian. Thứ văn hóa không chính thống này,
miễn là không trực tiếp đụng tới chính quyền thống trị, vẫn có
những biểu hiện riêng của người dân: tín ngưỡng, tôn giáo, tình cảm
con người... dưới những thể loại văn học nghệ thuật khác nhau. Nhà
nước không trực tiếp chi phối lĩnh vực văn hóa riêng tư này (chữ “riêng
tư” ở đây không chỉ nói tới cá nhân mà cả những cộng đồng nhất định
(làng xã, nghề nghiệp...). Trong di sản văn hóa của chúng ta, ngoài
những yếu tố tích cực của văn hóa chính thống - ngày nay chúng ta
nhìn nhận chung một cách rộng rãi hơn, có quan điểm lịch sử hơn,
chính những di sản của văn hóa không chính thống (tất nhiên không phải
là tất cả) là những yếu tố có sức sống nhất của dân tộc (chỉ cần
nhìn tới kho tàng truyện cổ, ca dao, dân ca, cũng đủ thấy sự phong phú
và sức sống của văn hóa không chính thống như thế nào, chưa nói tới
cả một nền văn học hiện đại, mà một phần lớn của nó là không chính
thống, ra đời từ nửa đầu thế kỷ này). Tóm lại, trừ những gì trực
tiếp đụng tới quan hệ dân - nhà nước ra, người dân có thể sống một
đời sống văn hóa riêng của mình ở những mức độ nhất định.
Sở dĩ phải nói tới điều đó, vì với chính quyền được dựng lên sau
cách mạng, đời sống văn hóa của người dân có những thay đổi lớn. Lúc
đầu, đúng là có một sự giải phóng thật sự về chính trị và văn hóa
đối với người dân. Khái niệm “công dân” chính thức xuất hiện. Nhiều
yếu tố văn hóa dân tộc được khẳng định và phục hồi. Trong đời sống
văn hóa của người dân, không tồn tại ranh giới giữa “chính thống” và
“không chính thống”. Nhưng do hoàn cảnh chiến tranh liên miên, phải tập
trung lực lượng toàn dân tộc vào các cuộc đấu tranh cứu nước và giữ
nước, nhất là do sự độc quyền lãnh đạo (trên thực tế là độc quyền
thống trị) được thiết lập trong tất cả các lĩnh vực đời sống
con người, từ sản xuất vật chất đến đời sống tinh thần, từ cá nhân
đến tập thể, cộng đồng (nhớ rằng từ nhiều năm nay, trong các văn bản
chính thức của đảng và nhà nước đều ghi rõ: đời sống tinh thần và
tư tưởng ở nước ta phải lấy hệ tư tưởng Mác - Lênin làm cơ sở, phải
thiết lập sự thống trị của hệ tư tưởng này trong đời sống tinh thần
và tư tưởng của nhân dân), do những điều đó và những điều khác nữa,
đời sống văn hóa của nhân dân chịu sự chi phối gần như tuyệt đối của
nhà nước. Không còn văn hóa chính thống và không chính thống, vì trên
thực tế chỉ có văn hóa chính thống mới được phép tồn tại, tất cả
các yếu tố văn hóa không chính thống (tín ngưỡng, tôn giáo, nghệ
thuật độc lập...) đều bị coi là không hợp pháp, ít ra cũng bị coi là
lạc hậu, cần phải bài trừ. Đời sống văn hóa và tinh thần của con
người bị khuôn vào những qui tắc, lề lối ngặt nghèo, do những trung
tâm nào đó đề ra và mọi người phải tuân theo. Nói cách khác, đời
sống tinh thần và văn hóa cũng bị “nhà nước hóa” nặng nề, không kém
đời sống kinh tế và chính trị, nếu không muốn nói là còn nặng nề
hơn, và có thể nói đời sống tinh thần và văn hóa bị chính trị hóa
cao độ. Tình hình đó lại càng ngăn cản sự hình thành và phát triển
của văn hóa công dân. Dù rằng, trong thực tế, văn hóa công dân vẫn hình
thành, chỉ có điều là nó không được coi là chính thống và hợp pháp
và dễ bị đàn áp.
5.4. Một đặc trưng khác của văn hóa truyền thống là sức ì
rất lớn của nó. Điều này thật dễ hiểu; một khi cá nhân còn phụ
thuộc vào cộng đồng, người dân vẫn còn là “thần dân” (dưới những
biến thể khác nhau), thì không thể nói tới tính năng động của cá nhân
và của xã hội trong lĩnh vực văn hóa (với bản chất của nó, văn hóa
vốn đã có sức ì lớn hơn các lĩnh vực khác). Khả năng tiếp nhận
những biến đổi của văn hóa truyền thống thường không lớn. Tất nhiên,
nó không đứng nguyên về nội dung và hình thức. Ở những thời điểm nhất
định, đã diễn ra những biến đổi nhất định và hai lực tác động trực
tiếp tới những biến đổi đó là ảnh hưởng bên ngoài (của những nước,
nhưng cộng đồng phát triển cao hơn về văn hóa) và từ trên xuống (của
giới thống trị). Trong văn hóa truyền thống, ít có những vận động từ
dưới lên.
Những biến đổi trong lĩnh vực văn hóa ở nước ta nói chung không xóa
bỏ những nền móng trước đó. Có những trường hợp tưởng như đã xóa
sạch cái cũ (khi thay đổi triều đại, chẳng hạn), nhưng thật ra vẫn
giữ nguyên nó dưới một hình thức mới, có khi còn làm cho cái cũ bền
vững hơn. Xung đột giữa cái cũ và cái mới (cái mới đích thực chứ
không phải cái mới bề ngoài) nói chung diễn ra không quyết liệt lắm,
vì cái mới thường phải được thể hiện dưới làn vỏ của cái cũ. Sự
từ giã cái cũ (đối với Nho giáo đầu thế kỷ này là một ví dụ)
thường là tương đối êm thấm. Người ta vẫn thắp hương khấn vái Khổng
tử, nhưng không làm theo Khổng tử từng câu từng chữ như trước kia. Vì
thế, cái cũ lại có cơ hội và điều kiện để xuất hiện trở lại dưới
những hình thức mới.
Nói chung, trong văn hóa truyền thống, quá khứ đè nặng lên hiện tại
và thậm chí còn ảnh hưởng khá lớn đến tương lai, hay nói như Mác,
cái chết túm chặt lấy cái đang sống (le mort saisit le vivant). Hướng
về cái cũ, về những giá trị cũ là mô-típ chủ đạo của nó.
5.5. Nói chung, các nền văn hóa truyền thống đều đóng khung vào
một không gian nhất định và thường dị ứng với những giá trị bên
ngoài. Văn hóa truyền thống Việt Nam cũng theo qui luật ấy. Thái độ
dè dặt, nghi ngờ đối với những gì bên ngoài khiến cho việc tiếp nhận
chung không diễn ra nhanh chóng. Nhưng nằm ở một mảnh đất giao thoa của
các nền văn hóa lớn (Trung Quốc, ấn Độ, phương Tây...), ở Việt Nam
không thấy có thái độ bài ngoại về văn hóa. Khả năng tiếp nhận văn
hóa bên ngoài của dân tộc Việt Nam - ngay cả trong văn hóa truyền thống
- đã tỏ ra khá lớn. Chính khả năng ấy đã tạo ra một sức sống mạnh
mẽ. Nhưng đó thường là sự tiếp nhận một chiều. Nhận, nhưng
không có gì nhiều để tác động trở lại đối với văn hóa bên ngoài.
Trình độ thấp hơn của văn hóa dân tộc (từ tôn giáo, triết học đến
khoa học, kỹ thuật) dễ đưa tới sao chép những khuôn mẫu bên ngoài, tới
lề thói giáo điều. Yếu tố này càng tăng lên rất nhiều, khi tiếp nhận
một hệ tư tưởng được coi là có tính quốc tế như chủ nghĩa Mác -
Lênin. Cũng do trình độ thấp, nên sự tiếp nhận văn hóa bên ngoài nói
chung dễ trở thành sao chép những yếu tố thực hành, hơn là tiếp nhận
những yếu tố tinh hoa, thực chất. Phật giáo vào nước ta bằng những
nghi thức hơn là bằng những giáo lý cao siêu của nó. Và gần đây, đối
với chủ nghĩa Mác - Lênin cũng na ná như vậy, có khi càng như vậy.
(Trên thực tế, những kinh nghiệm áp dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào
thực tiễn ở Liên Xô, Trung Quốc cũng được tiếp nhận như những khuôn
mẫu hành vi hơn là chính nội dung và thực chất lý luận của nó).
Ở đây, có lẽ nên xem xét kỹ hơn về tính dân tộc trong hệ giá trị tinh
thần truyền thống. Một số ý kiến, khi nói tới truyền thống tinh thần
của dân tộc, đã đặt yêu nước (hay sau này còn dùng chủ nghĩa
yêu nước) lên thành giá trị cao nhất. Đó là điều không ai chối
cãi. Nhưng, thứ nhất, yêu nước không phải là độc quyền của dân tộc
Việt Nam và, thứ hai, nội hàm của khái niệm yêu nước được hiểu theo
những lối khác nhau, nên khó có thể chấp nhận nó như một khái niệm
khoa học. Về mặt chính trị, yêu nước là bảo vệ chủ quyền quốc gia
và độc lập dân tộc, và về mặt này cũng đồng nghĩa với chống ngoại
xâm. Nhưng về mặt văn hóa thì yêu nước là gì? Chúng ta gặp phải một
hiện tượng không đơn giản. Một mặt, những ký ức lịch sử, những tình
cảm gắn bó với quê hương, những di sản văn hóa từ xưa để lại - tất
cả tạo thành một ý thức dân tộc sâu lắng và thậm chí thành một thứ
vô thức trong mỗi con người Việt Nam. Coi ý thức dân tộc chỉ là ý
thức về quyền lợi dân tộc là quá chật hẹp. Ý thức dân tộc còn có
nội dung tâm linh của nó, bắt nguồn từ những gì dân tộc coi là thiêng
liêng nhất, những gì đã kết tụ thành tâm hồn dân tộc. Mặt khác, trong
lĩnh vực văn hóa, ý thức dân tộc chưa bao giờ ngăn cản người Việt
tiếp nhận những giá trị cao hơn của bên ngoài. Vì vậy, sự đồng hóa
những giá trị văn hóa ấy nhằm làm phong phú thêm văn hóa dân tộc vốn
có là một yếu tố không thể tách rời của lòng yêu nước, của ý thức
dân tộc. Điều này cần được chú trọng khi đề xướng việc bảo vệ bản
sắc dân tộc. Đánh giặc giữ nước thì kiên cường khó ai vượt qua, nhưng
lấy những yếu tố, những giá trị văn hóa bên ngoài bồi đắp cho nền
văn hóa của mình thì cũng khiêm nhường rất mực. Chủ nghĩa hư vô dân
tộc (phủ nhận mọi giá trị văn hóa dân tộc) cũng như chủ nghĩa độc
tôn dân tộc đều xa lạ với những giá trị tinh thần truyền thống của
dân tộc.
Cũng cần nói thêm một chút về những giá trị nhân văn và dân
chủ trong văn hóa truyền thống nước ta. Không ai phủ nhận những yếu
tố nhân văn và dân chủ của nó, cũng như của mọi nền văn hóa trên thế
giới. Nhưng say sưa tới mức khẳng định có một nền văn hóa truyền
thống nhân văn và dân chủ thì không thể chấp nhận. Ở nước ta, chủ
nghĩa nhân văn và dân chủ chưa bao giờ là những trào lưu chủ đạo trong
văn hóa như những trào lưu được toàn xã hội - đặc biệt là các thế
lực thống trị - chấp nhận. Trong lịch sử văn hóa loài người, chủ
nghĩa nhân văn, chủ nghĩa dân chủ (và kèm theo đó là chủ nghĩa duy
lý) chỉ có thể ra đời trên những mảnh đất lịch sử nhất định. ở Tây
Âu, phải tới thời Phục hưng cho tới Thế kỷ Khai sáng (tức từ thế kỷ
XV-XVI đến thế kỷ XVIII), những giá trị đó mới hình thành như những
trào lưu văn hóa chủ đạo. Không phải chỉ lấy một câu “thương người
như thể thương thân” hay một châm ngôn “dân vi quí” (hay “dĩ dân
vi bản”) để khẳng định sự tồn tại của chủ nghĩa nhân văn và chủ
nghĩa dân chủ trong văn hóa truyền thống. Chừng nào cá nhân con người
chưa tự ý thức được về giá trị tối thượng của nó với tư cách một
con người và một công dân, và hành động với ý thức đó một cách đầy
đủ, chừng đó chưa thể nói tới chủ nghĩa nhân văn và chủ nghĩa dân
chủ. Đối với văn hóa truyền thống, đó là những giá trị mới mẻ và,
như đã thấy, khó có thể “chung sống” với những giá trị chính thống.
6. Một lần nữa, xin lưu ý: ngay cả khi một số giá trị mới đã
được du nhập vào văn hóa của đất nước, tưởng như những giá trị đó
sẽ lật nhào những giá trị cũ, nhưng ngay cả khi đó những giá trị
mới dễ có nguy cơ bị những giá trị cũ “đồng hóa”. Xin lấy phương chân
“dân tộc, khoa học, đại chúng” được Đề cương văn hóa Việt Nam
(năm 1943) đề xướng như những giá trị chủ yếu của nền văn hóa mới để
phân tích. Chưa cần bàn luận về xuất xứ của phương châm đó từ đâu tới
(thật ta, đó là phương châm của nền “văn hóa dân chủ mới” do Mao Trạch
Đông nêu lên trong Bàn về chủ nghĩa dân chủ mới năm 1940), chỉ
cần theo dõi những biến hóa của những phương châm này trong thực tiễn
xây dựng văn hóa mới ở nước ta, cũng có thể thấy rằng hơn một nửa
thế kỷ thực hiện nó, văn hóa Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi cái khung
truyền thống. Tính dân tộc trong văn hóa vẫn còn là một sự tìm kiếm
mơ hồ, ngoài nội dung chống ngoại xâm của nó. Tính khoa học lại càng
mơ hồ hơn nữa; càng đề cao tính khoa học bao nhiêu thì lại càng rơi
vào tính phi khoa học bấy nhiêu (với những thất bại của mô hình gọi
là đi theo “chủ nghĩa xã hội khoa học”). Còn đại chúng? Đại chúng
vẫn chưa thoát khỏi thân phận “thần dân”, và dân chủ hóa vẫn còn là
một mục tiêu không dễ dàng đạt tới.
Như vậy, nền văn hóa truyền thống chẳng có gì thay đổi hay sao? Có,
có những thay đổi và những thay đổi quan trọng, nhưng chưa đủ để phá
vỡ các giá trị truyền thống, chưa đủ để làm một cuộc cách mạng đối
với nó. Khi nói phá vỡ văn hóa truyền thống hay làm một cuộc cách
mạng đối với nó, chúng tôi tuyệt nhiên không nghĩ rằng phải từ bỏ,
phải xóa sạch mọi giá trị truyền thống. Trong văn hóa truyền thống,
có những giá trị vô cùng bền vững đang và sẽ tồn tại lâu dài, nếu
không nói là vĩnh hằng. Những yếu tố văn hóa tâm linh, chẳng hạn,
thuộc về những giá trị như vậy. Có lúc chúng ta (và cả nhiều nước
khác) tưởng rằng có thể xóa bỏ đời sống tâm linh của con người bằng
chủ nghĩa duy lý triệt để, bằng chủ nghĩa khoa học, bằng những mô
hình công bằng xã hội đẹp đẽ (xây dựng “thiên đường trên trái đất” để
con người không hướng tới thiên đường hứa hẹn ở bên kia thế giới),
nhưng hóa ra đời sống tâm linh là một mặt không thể xóa bỏ khỏi sự
tồn tại của con người, hay như bây giờ người ta nói, một thuộc tính
bản thể (ontologique) của chính con người. Một điều nghe có vẻ lạ
lùng nhưng lại đang là một sự thật lớn của con người: nền văn minh
loài người càng đi xa, lại càng trở về với nguồn ban đầu của nó.
Nguồn: Những bài viết của Nguyễn Kiến Giang trong thập niên 90 được đăng rải rác trên báo chí trong ngoài nước, được chuyền tay hoặc chưa công bố, nay được tập hợp thành loạt bài “Suy tư 90” cho bản đăng chính thức trên talawas, với sự hiệu đính cuối cùng của tác giả.
Loạt bài: Suy tư 90
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14
5.6.2006
1 2
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7335&rb=0306
7.
Văn hóa Việt Nam cho đến nay vẫn
chưa vượt khỏi cái khung của văn hóa truyền thống - nhận xét ấy không
hề mâu thuẫn với việc khẳng định sự tồn tại của những yếu tố
hiện đại của văn hóa Việt Nam trong thế kỷ XX này. Cũng không làm
giảm bớt tầm quan trọng của những yếu tố hiện đại. Ở những mức độ
nào đó, văn hóa Việt Nam đang cố bắt kịp trình độ (hay “tính”) hiện
đại của các nền văn hóa tiên tiến trên thế giới. Và những thành tựu
về mặt này quả không ít. Chỉ trong vòng mấy chục năm, như đã nói,
chúng ta đã có những thể loại văn học nghệ thuật hiện đại: tiểu
thuyết, thơ mới, kịch nói, hội họa, ca khúc trữ tình..., mà trong văn
hóa truyền thống chưa từng có mặt. Báo chí và xuất bản cũng là
những phương tiện hiện đại để trao đổi và truyền bá những sản phẩm
tinh thần và văn hóa của xã hội. Các trào lưu tư tưởng hiện đại - từ
triết học đền nghệ thuật - đã len lỏi và tìm được chỗ đứng chân ở
nước ta. Vân vân và vân vân. Chứng minh sự tồn tại của những yếu tố
văn hóa hiện đại ấy là không cần thiết: sự tồn tại của chúng rõ như
ban ngày. Nếu có điều gì cần nói thêm, thì đó là văn hóa Việt Nam
có khả năng khá dồi dào trong việc tiếp nhận mọi trào lưu và xu
hướng văn hóa hiện đại, cả về chiều rộng cũng như về chiều sâu. (Tất
nhiên, khi nói như vậy, chủ yếu là nói tới giới tinh hoa (élite) của
đất nước, vì ở đâu cũng vậy, giới tinh hoa bao giờ cũng đóng vai trò
chi phối đời sống văn hóa và tinh thần của một dân tộc. Ngay cả một
học thuyết mang tính giai cấp chặt chẽ như chủ nghĩa Mác, sự tiếp
nhận và truyền bá nó cũng phải thông qua một bộ phận của giới tinh
hoa ấy).
Đối lập với những đặc trưng của văn hóa truyền thống, các yếu tố văn
hóa hiện đại mang theo những giá trị mới:
Các yếu tố hiện đại ấy không
thuần nhất, có khi ngay trong một mặt nào đó cũng có những quan niệm
ngược nhau. Ý thức về cá nhân và giải phóng cá nhân, chẳng hạn, có
thể biểu hiện thành hai dạng khác nhau: hoặc là đặt cá nhân lên trước
xã hội, hoặc là lấy sự giải phóng xã hội làm tiền đề cho sự giải
phóng cá nhân. Nhưng cá nhân, với tư cách một thực thể, đã được tính
đến mà không bị xóa bỏ như trong xã hội truyền thống. Cũng có thể
nói như vậy đối với nhiều yếu tố hiện đại khác. (Chú ý: khái
niệm “hiện đại” dùng ở đây chỉ có tính ước lệ, trong mối quan hệ
đối lập với khái niệm “truyền thống”. Bản thân khái niệm “hiện đại”
cũng trải qua những biến đổi căn bản, gắn liền với những trình độ
văn minh hiện đại khác nhau - văn minh công nghiệp và văn minh hậu công
nghiệp, tạm gọi như thế. Có những yếu tố của văn minh hiện đại công
nghiệp đã bị văn minh hiện đại hậu công nghiệp phủ định. Cũng có
những yếu tố truyền thông bị văn minh hiện đại công nghiệp phủ định
hoàn toàn, lại tìm thấy chỗ đứng trong văn minh hiện đại hậu công
nghiệp. Vấn đề này sẽ còn được quay trở lại sau này).
Sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của các yếu tố hiện đại trong
văn hóa Việt Nam là những hiện thực có thể sờ thấy, nhưng như đã
nói, chưa đủ để làm cho văn hóa Việt Nam thành một nền văn hóa thật
sự hiện đại.
Vì mấy lẽ:
Chính lúc này, vào những thập
kỷ cuối thế kỷ XX này, cuộc sống dân tộc và vận mệnh dân tộc đang
đặt ra sự lựa chọn gay gắt chưa từng thấy: sự “chung sống tương đối êm
thấm” giữa văn hóa truyền thống và văn hóa hiện đại không thể kéo
dài được nữa; sự chuyển biến từ cái cũ sang cái mới không thể trì
hoãn được nữa, nếu không muốn duy trì tình trạng lạc hậu và “lạc
điệu” của nền văn hóa nước ta trong bối cảnh của những bước đi gia
tốc của văn hóa và văn minh thế giới hiện nay.
8. Chưa lúc nào như bây giờ, những xung đột trong lĩnh vực văn
hóa ở nước ta lại diễn ra quyết liệt đến thế. Và vì cái cũ tuy có
yếu đi nhưng vẫn còn đó, với những sức mạnh không thể coi thường, còn
cái mới tuy xâm nhập vào cuộc sống một cách mãnh liệt, ồn ào, nhưng
chưa được khẳng định vững chắc, nên bộ mặt văn hóa nước ta hiện ra
thật hỗn độn, khó phân định cái gì là cái gì (một nhà văn hôm trước
viết một bài “rất đổi mới”, hôm sau đã lên giọng bảo thủ không kém
những kẻ bảo thủ rồi). Có thể tạm dùng một từ để chỉ trạng thái
đó: khủng hoảng. Đúng vậy, văn hóa nước ta đang khủng hoảng,
diễn ra song song với trạng thái khủng hoảmg xã hội - kinh tế, mặt
này vừa là hệ quả vừa là nguyên nhân của mặt kia.
Nhưng nếu chỉ dừng lại ở cái từ “khủng hoảng” trần trụi ấy, rõ
ràng là chưa đủ, vì riêng từ này mới nói lên phần nào trạng thái
nhiễu loạn, hay nói theo xã hội học, trạng thái “loạn cương” (anomie),
mà chưa chỉ ra được nội dung và đặc trưng của trạng thái khủng hoảng
đó. Hơn nữa, từ “khủng hoảng” thường được tiếp nhận theo ý nghĩa tiêu
cực, trong khi trạng thái khủng hoảng hiện nay trong lĩnh vực văn hóa
mang theo không ít những yếu tố tích cực, đáng đặt hy vọng. Hai mặt
này thường mằm trong mối quan hệ phản ứng với nhau đôi khi thật quyết
liệt. Người ta thường phàn nàn về sự suy đồi, bại hoại của những
giá trị đạo đức ở con người, đó đúng là một hiện thực bi đát thật.
Nhưng có bao giờ văn học Việt Nam lại tập trung vào chủ đề thân phận
con người và chiều sâu đạo đức của nó như hiện nay không? Hãy đọc dù
chỉ là một số truyện ngắn thôi, cũng đủ thấy sự phản ứng đối với
tình trạng băng hoại đạo đức ở con người được biểu hiện quyết liệt
và sâu sắc như thế nào. Không cường điệu một chút nào, văn học Việt
Nam hiện nay đang làm công việc “thanh lọc” về mặt đạo đức một cách
bén nhạy nhất, có hiệu quả nhất, dù có ý thức hay không.
Sự chuyển biến về mặt văn hóa ở nước ta hiện nay biểu hiện rõ nhất
ở sự thay thế các giá trị tinh thần cũ của xã hội bằng những giá
trị tinh thần mới. Đó là sự thay thế về hệ giá trị mà không
phải lúc nào cũng có thể nhận ra thực chất của nó. Bởi vì, không
phải lúc nào những giá trị mới cũng xuất hiện dưới cái vỏ mới, mà
trong một số trường hợp, lại xuất hiện dưới những hình thức cũ, có
khi rất cũ. Ngược lại, những giá trị cũ có khi lại đội lốt những
cái mới, thậm chí cái được coi là “tiến bộ” nhất.
Xin minh họa những điều vừa nói bằng mấy ví dụ lấy từ cuộc sống
hằng ngày.
Trong những năm gần đây, hiện tượng quay về với đời sống tâm linh, với
thờ cúng, với mồ mả, với gia phả... lan rộng chưa từng thấy. Bằng con
mắt rất cũ (“duy vật vô thần”), có thể kết luận ngay đó là sự phục
hồi của mê tín dị đoan, cần trừ bỏ bằng mọi cách, kể cả bằng quyền
lực hành chính. Thoạt nhìn có vẻ là thế. Nhưng đi sâu vào thực chất,
chưa hẳn là thế. Sự chú trọng nhiều hơn tới cá nhân mình, tới dòng
dõi cha ông mình, tới những gì của mình, không giống của người
khác, không hòa chung vào cộng đồng đến mức đánh mất cá nhân mình
đi - đó là biểu hiện, dù còn ở dạng tiêu cực, của sự khẳng định
cá nhân. Đó là ý thức cá nhân được khẳng định như một giá trị tinh
thần, do đó, như một giá trị văn hóa. Chưa nói tới một vấn đề có
liên quan với hiện tượng đó: không chỉ ở nước ta, mà cả ở các nước
phát triển khác, vấn đề đời sống tâm linh được đặt ra như một vấn đề
của chính sự sống con người, một vấn đề có tính vĩnh cửu như chính
sự sống và cái chết của con người. Ở nơi nào, ở người nào đời sống
tâm linh càng bị chối bỏ bao nhiêu thì nó lại “quay trở lại” càng
mạnh mẽ bấy nhiêu. Trong khi đó, một phương tiện rất hiện đại, như
tivi, có khi được dùng để chuyển tải và truyền bá những giá trị
tinh thần rất cũ: sự phục tùng mù quáng, sự tôn thờ các thần tượng,
dù đó có thể là những thần tượng cũng “rất hiện đại” (các siêu sao,
các hoa hậu...).
Khủng hoảng văn hóa mang thêm một nội dung khác nữa: nó phá vỡ nền
văn hóa chung và tạo ra nhiều thứ văn hóa khác nhau, đối lập nhau trong
cùng một thời điểm. Văn hóa không có tính thống nhất nữa, nó mang
rất nhiều bộ mặt. Hệ giá trị tinh thần thống nhất mất đi,
nhường chỗ cho nhiều hệ giá trị rất khác nhau. Không chỉ có sự khác
nhau, đối chọi nhau ở từng vùng, thành phố hay nông thôn, ở từng lứa
tuổi, mà thậm chí ở từng gia đình... Chưa bao giờ sự xung đột về hệ
giá trị lại trở nên gay gắt như hiện nay. Nếu trước đây có thể nghĩ
tới (và trên thực tế đã diễn ra) một sự “chung sống” tương đối êm
thấm và kéo dài của các hệ giá trị đối lập nhau, thì bây giờ dưới
sức ép của sự phát triển gia tốc trên thế giới và cả ở nước ta,
khó hình dung được một sự “chung sống” như vậy. Trong rất nhiều trường
hợp, những xung đột ấy mang tính phủ định lẫn nhau quyết liệt, không
điều hòa. Lý tưởng cách mạng bị “lý tưởng tiền” phủ định; “tất cả
vì mọi người” bị “tất cả vì mình” phủ định; chủ nghĩa độc tôn dân
tộc bị chủ nghĩa hư vô dân tộc phủ định...
Ở đây, cần nhấn mạnh sự xuất hiện và gia tăng của một số yếu tố
cực đoan và bệnh lý (pathologique) trong hành vi của một số
người, tuy không nhiều nhưng lại tác động lớn tới không khí đạo đức
của xã hội): trò đánh thầy, con đánh mẹ, đâm chết nhau chỉ vì một
duyên cớ nhỏ nhặt, dùng xương động vật làm giả hài cốt liệt sĩ, đào
mả lấy xương làm giả hài cốt lính Mỹ bán cho người vượt biên, v.v...
và v.v... Nhiều thói xấu và tệ nạn xã hội hiện lên dưới bộ mặt
trâng tráo, vô sỉ (cynique). Người ta ngang nhiên chiếm đoạt tài sản nhà
nước cũng tức là của dân, ngang nhiên hợp thức hóa sự chiếm đoạt ấy.
Tệ tham nhũng tàn phá cơ thể xã hội như chứng hoại thư. Tình trạng
loạn cương trở thành phổ biến, khi những vi phạm về đạo đức và luật
pháp được coi là “bình thường”, khi những hành vi của các cá nhân
không còn được điều tiết bằng những chuẩn mực, những qui tắc chung
nữa, mà chỉ là hoặc chủ yếu là theo những ham nuốn không giới hạn
của cá nhân. Ở một mức độ nào đó, những ham muốn bệnh hoạn trở
thành những “qui tắc”, những “chuẩn mực” chi phối hành vi con người.
Khủng hoảng xã hội và văn hóa đang đưa xã hội tới một trạng thái
nguy hiểm đối với toàn xã hội và đối với các cá nhân, khi con người
rơi vào chỗ “không có niềm tin, không có luật pháp” (sans foi ni
loi), theo cách nói của người Pháp. Nói đúng hơn, niềm tin trong nhiều
trường hợp biến thanh niềm tin giả vờ, và luật pháp cũng biến thành
luật pháp giả vờ.
Tâm lý giả vờ, oái oăm thay, lại được không ít người coi là một thứ
giá trị mới để tồn tại yên ổn và để tiến thân nhanh chóng. Cộng với
tâm lý đó là tâm lý chụp giựt, mạnh ai nấy được, bất chấp
lương tâm, luật pháp, đang trở thành một “nếp sống mới”.
Tất nhiên, bên cạnh những xu hướng cực đoan và bệnh hoạn ấy, cũng đang
tồn tại những xu hướng lành mạnh về đạo đức và hành vi, những sức
mạnh tiềm tàng chống lại cái xấu, cái ác trong xã hội, và không nên
đánh giá thấp những sức mạnh này. Những yếu tố đạo đức và văn hóa
lành mạnh ấy chưa đủ sức trở thành “dòng chủ lưu” của đời sống tinh
thần toàn xã hội, nhưng đó chính là niềm hy vọng của đất nước trong
tương lai. Mà ngay hiện nay, chúng cũng đã tạo thành một đập chắn
đáng kể, không để cho những yếu tố cực đoan và bệnh hoạn tha hồ
hoành hành. Cái khó là những yếu tố lành mạnh, do nhiều hạn chế
khách quan và chủ quan (đặc biệt là chưa có những thể chế dân chủ
vững chắc và ý thức công dân sâu sắc) nên thường biểu hiện nửa vời,
không triệt để.
Hơn nữa, những yếu tố lành mạnh có khi lại chứa đựng những nội dung
đầy mâu thuẫn. Ý muốn làm trong sạch xã hội về văn hóa và đạo đức
chưa cắt đứt với ý thức “thần dân”, hay vừa muốn có dân chủ lại vừa
sợ dân chủ dẫn tới tình trạng vô chính phủ, hỗn loạn. (Trong nhận
thức của một số người, chưa có sự phân biệt rõ ràng hai khái niệm
“dân chủ” và “vô chính phủ”. Trong lịch sử, không có và không thể có
một thứ “dân chủ vô chính phủ” nào cả, vì dân chủ bao giờ cũng bao
hàm chế độ Nhà nước pháp quyền, trong đó tất cả các công dân
đều phải tuân theo pháp luật, không có ngoại lệ; vô chính phủ là sự
phủ định dân chủ như nước và lửa. Kinh nghiệm cho thấy những ai sợ dân
chủ thường ghép hai khái niệm ấy với nhau, lấy cớ đề phòng vô chính
phủ để hạn chế và bóp nghẹt dân chủ. Cũng có thể nói như vậy về
cách nói “dân chủ nhưng phải có lãnh đạo”, không hiểu rằng dân chủ là
một hình thức tự tổ chức của xã hội về tất cả các mặt đời sống
của nó, nghĩa là dân chủ đã bao hàm trong bản thân nó yếu tố lãnh
đạo, chứ không phải loại bỏ lãnh đạo - vấn đề chỉ là sự lãnh đạo
bắt nguồn từ đâu, do dân, vì dân, của dân hay ngược lại).
Tình trạng nửa vời, “nhập nhằng” ấy càng làm cho sự phân hóa của
các hệ giá trị hiện có trở nên không rõ ràng, điều đó chỉ có lợi
cho cái xấu, cái ác đang lộng hành, đang ăn sâu và lan rộng trong xã
hội, nhất là khi cái xấu, cái ác đội lốt cái “mới”.
9. Cuối cùng, còn một đặc trưng hết sức quan trọng nữa của
khủng hoảng văn hóa ở nước ta hiện nay (nói là cuối cùng, nhưng về ý
nghĩa lại đứng hàng đầu). Đó là sự hòa lẫn văn hóa và chính trị,
trong đó chính trị vừa trực tiếp quyết định văn hóa, vừa bao trùm lên
cả văn hóa. Trong các xã hội công dân, chính trị chỉ là một lĩnh vực
đời sống xã hội, chỉ tác động tới các quan hệ giữa nhà nước và
người dân. Các lĩnh vực đời sống xã hội khác tuy cũng chịu ảnh
hưởng của chính trị đến một mức độ nào đó, và đến lượt chúng, lại
tác động ngược lại đối với chính trị, nhưng mỗi lĩnh vực có tính
độc lập riêng. Đặc biệt, văn hóa là lĩnh vực có tính độc lập cao hơn
tất cả. Nhưng trong xã hội nước ta, văn hóa phụ thuộc hoàn toàn, hoặc
gần như hoàn toàn, vào chính trị. Nói như vậy có nghĩa là khủng
hoảng văn hóa không tách rời khỏi đời sống chính trị của xã hội.
Chúng tôi không bàn tới tất cả những vấn đề có liên quan với mối quan
hệ này, mà chỉ nêu bật lên một điểm: hệ tư tưởng chính trị của Đảng
cộng sản từ lâu đã được nhiều người coi là giá trị chính thống cuả
mình, nó đảm nhận vai trò “chất kết dính” xã hội, thống nhất xã
hội trong một thời gian tương đối dài, nhất là trong các cuộc kháng
chiến chống ngoại xâm, hệ tư tưởng đó cũng đang khủng hoảng sâu sắc
trước những chuyển biến sâu sắc của xã hội. Ngay trong lĩnh vực văn
hóa, hệ giá trị ấy không còn được thừa nhận phổ biến như trước nữa.
Trong lĩnh vực này, hệ giá trị ấy không còn chi phối một cách đơn
nhất và tuyệt đối, và trong một số hoạt động văn hóa (văn học, âm
nhạc, hội họa...) chính hệ giá trị chính thống đang phải tự điều
chỉnh, tự thích nghi với những xu hướng sáng tạo và thưởng thức mới
của đông đảo công chúng, đặc biệt ở lớp trẻ. Như vậy mâu thuẫn ngày
càng sâu sắc giữa hệ giá trị chính thống và các hệ giá trị khác
đang hình thành tự phát và mạnh mẽ trong xã hội là một trong những
biểu hiện chủ yếu, đồng thời cũng là một trong những nguyên nhân chủ
yếu của khủng hoảng văn hóa và tinh thần ở nước ta.
10. Việt Nam đã từ lâu không còn là một nước tự cô lập với các
quá trình chung của thế giới. Những giao lưu kinh tế và văn hóa trên
thế giới ngày càng gia tăng về cường độ cũng như về nội dung. Những
khái niệm “quốc tế hóa” và “toàn cầu hóa” (còn gọi là “thế giới
hóa”) phản ảnh những hiện thực cơ bản và phổ biến của loài người
hiện nay, không một nước nào có thể tách khỏi những hiện thực ấy
được. Đây không còn là sự trao đổi giữa những giá trị riêng biệt như
trước, mà là sự hòa lẫn, hội nhập của các giá trị. Không còn là
sự vận động một chiều (từ các nước tiên tiến sang các nước lạc hậu
hơn), mà là hai chiều (tác động qua lại giữa các nước có trình độ
phát triển khác nhau, có những nền văn hóa khác nhau).
Trong quá trình giao lưu ấy, các giá trị tích cực cũng như tiêu cực
đều có mặt. Có thể có những giá trị thích hợp với nơi này nhưng
lại không thích hợp với nơi khác vẫn được truyền bá như những giá
trị phổ biến. Chẳng hạn, về mặt tiêu dùng: những vật tiêu dùng hiện
đại và sang trọng là kết quả của một trình độ phát triển cao, tạo
thành “xã hội tiêu dùng” ở các nước phương Tây, nhưng ở những nước
phát triển thấp cũng đang trở thành những nhu cầu rộng rãi, không chỉ
là những nhu cầu có thật, mà còn là nhu cầu “xài sang” (consommation
de prestige), gây nên một “sức ép tiêu dùng” giả tạo, lôi cuốn cả những
kẻ không có tiền, chạy theo những vật tiêu dùng bằng bất cứ giá nào,
kể cả tội lỗi. Giao lưu quốc tế, do đó, cũng là một yếu tố tạo nên
khủng hoảng tinh thần và văn hóa ở nước ta. Nói như vậy, tuyệt nhiên
chúng tôi không có ý nói rằng giao lưu quốc tế là nguyên nhân gây ra
khủng hoảng văn hóa để đi tới chủ trương “đóng cửa”. Không một người
nào, dù bám giữ cái cũ đến đâu, lại không nhìn thấy tính tất yếu
của giao lưu quốc tế trong thời đại hiện nay. Hơn nữa, chỉ có thông qua
giao lưu quốc tế, nước ta mới có thể đạt tới những trình độ phát
triển cao hơn, mới có thể hội nhập với nền văn minh mới của loài
người. Nói giao lưu quốc tế là một yếu tố của khủng hoảng văn hóa
và tinh thần ở nước ta, chúng tôi chỉ muốn nói rằng: cả những yếu
tố văn hóa tích cực lẫn tiêu cực từ bên ngoài đều có thể là những
chất xúc tác gây ra những vận động “trái khoáy” trong nước. Những yếu
tố văn minh (chẳng hạn, sự phát triển vũ bão của công nghệ tin
học) làm nổi rõ tình trạng lạc hậu và lạc điệu của ta hiện nay.
Những yếu tố không văn minh (như du lịch sex) làm xói mòn những
giá trị đạo đức của con người. Cả hai mặt tác động tích cực và tiêu
cực từ bên ngoài ấy bồi thêm một lớp vào trạng thái khủng hoảng văn
hóa ở nước ta, trộn lẫn với những yếu tố khủng khoảng bên trong, tạo
thành một lực cộng hưởng làm nhiễu loạn đời sống văn hóa và tinh
thần trong nước như chưa từng thấy.
Nói cách khác, khủng hoảng văn hóa ở nước ta có những yếu tố ngoại
sinh (exogène). Nhưng những yếu tố ấy chỉ có tác động mạnh mẽ khi
kết hợp được với những yếu tố nội sinh (endogène). Sự thật là ở
trong nước đã hình thành những nhóm người có xu hướng và cũng có
lợi ích (vật chất cũng như tinh thần) sẵn sàng tiếp nhận và du nhập
những yếu tố bên ngoài, đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa.
Sẽ hết sức thiếu sót nếu không đề cập một yếu tố nữa về mặt quốc
tế của khủng hoảng văn hóa và tinh thần hiện nay ở nước ta: đó là
sự khủng hoảng tư tưởng và chính trị của chủ nghĩa xã hội, thể
hiện ở sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở một loạt nước
Đông Âu, ở Liên Xô và Mông Cổ. Khỏi phải phân tich kỹ ảnh hưởng của
tình hình ấy dối với nước ta lớn đến mức nào. Chỉ nói riêng về
những giá trị tinh thần gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đã thấy rõ
một thử thách to lớn đang đặt ra đối với sự tồn tại (hay không tồn
tại) của những giá trị ấy. Ở một số người, những giá trị ấy bị
phủ nhận hoàn toàn. Ở một số người khác, tuy không bị phủ định như
vậy nhưng đã bắt đầu bị hoài nghi. Những giá trị ấy còn được bảo
vệ về cơ bản chỉ ở một số ít người chủ yếu là ở những người do
địa vị của họ gắn bó chặt chẽ với bộ máy quyền lực của chế độ
xã hội chủ nghĩa và ở một số người cộng sản lão thành.
Ở nước ta, sự phủ định những giá trị tinh thần từng được coi là
chính thống ấy - ở đây là những giá trị gắn liền với chủ nghĩa xã
hội - không diễn ra dưới những hình thức đấu tranh tư tưởng và chính
trị quyết liệt như đã xẩy ra ở một số nước xã hội chủ nghĩa. Giống
như đầu thế kỷ này đối với Nho giáo, người ta từ bỏ những giá trị
của chủ nghĩa xã hội “không kèn không trống”, bằng cách không nói
nhiều tới chúng và hành động ngược lại với chúng (một ví dụ: kinh
tế thị trường, một “húy kị” lớn đối với lý thuyết và thực tiễn
của chủ nghĩa xã hội, đã được chấp nhận chính thức). Những sự giải
thích “mới” về chủ nghĩa xã hội không có sức thuyết phục, chủ yếu
chỉ có tác dụng “tự trấn an” đối với một số người.
11. Như vậy, khủng hoảng tinh thần và văn hóa ở nước ta không
chỉ phản ảnh những hiện thực riêng biệt của xã hội nước ta, một xã
hội đang chuyển từ trạng thái cũ sang trạng thái mới, mà còn phản
ảnh cả những hiện thực của các nước thuộc hệ thống xã hội chủ
nghĩa trước đây (thường được gọi là “chủ nghĩa xã hội hiện thực”.
Không chỉ có thế. Nếu xem xét thật kỹ, dưới hai lớp ấy còn có một
lớp rộng lớn và sâu sắc hơn nhiều: khủng hoảng của loài người, của
con người với tư cách một tộc loại (espece).
Như đã biết, loài người đã vươn tới một trình độ văn minh cao hơn
trước nhiều với những phát minh khoa học và công nghệ mới, với sự tự
giải phóng và phát triển của con người với tư cách cá nhân. Nhưng
chính trình độ văn minh mới ấy đã và đang đưa con người tới một ngã
ba đường hết sức nguy hiểm, mà bất cứ một lựa chọn sai lầm nào cũng
đều dẫn tới những hậu quả khó lường trước được, kể cả nguy cơ tự
hủy diệt của con người với tư cách tộc loại như một số nhà tư tưởng
lên tiếng báo động. Chưa bao giờ người ta bàn luận nhiều về “thảm họa
con người” (catastrophe anthropologique) như bây giờ.
Một mặt, con người có những khả năng chưa từng thấy trong việc tạo ra
của cải vật chất, vật phẩm tiêu dùng phong phú. (Hơn nữa, nếu trước
đây, mọi phát minh và sáng kiến của con người là nhằm đáp ứng những
nhu cầu vốn có của bản thân mình bằng những phương tiện khác nhau,
thì bây giờ con người đi tới chỗ tạo ra những nhu cầu mới, chưa
từng có (kể cả nhu cầu “hồi sinh”, nhu cầu tiếp xúc với những nền
văn minh ngoài trái đất...). Nhưng mặt khác, cũng chính những khả năng
mới ấy của con người cũng đặt nó trước nguy cơ phụ thuộc vào những
phương tiện sống mới và tự biến mình thành một con số không (xem J.
Attali, Những đường chân trời).
Một mặt, con người có nhiều khả năng hơn trong việc “chinh phục tự
nhiên”, nhưng mặt khác, cũng lại có nhiều khả năng hơn về phá hoại tự
nhiên, đến mức tạo ra những nguy cơ về môi trường sinh thái đe dọa ngay
chính sự tồn tại của con người.
Một mặt, con người có những vật phẩm tiêu dùng vô cùng phong phú, đa
dạng và tiện lợi, nhưng mặt khác sự trống rỗng về tinh thần của con
người cũng xuất hiện và tăng lên chưa từng thấy.
Một mặt, con người có ý thức mạnh hơn về tự do cá nhân và đạt tới
sự tự do ấy trên những phạm vi ngày càng rộng lớn, nhưng mặt khác,
con người cũng lại “tự do” hơn đối với trách nhiệm đạo đức cá nhân
trước cộng đồng, trước xã hội.
Vân vân... và v.v...
Trí tuệ hay bản năng? Cộng đồng hay “cái Tôi”? Tự khuôn mình vào kỷ
cương hay tha hồ phóng túng? Chạy theo của cải vật chất hay những giá
trị tinh thần? Hòa hợp với tự nhiên hay hủy hoại tự nhiên để rồi tự
hủy hoại cả chính mình? Toàn cầu hay quốc gia?... Vô số những câu hỏi
đặt ra trước con người có liên quan trực tiếp với số phận của nó.
Đừng tưởng rằng những vấn đề này là của nơi khác mà không phải của
nước ta, của xã hội ta. Ở những mức độ nào đó, có ý thức hay không,
đó cũng là những vấn đề của con người Việt Nam lúc này. (Nhớ rằng
“con người Việt Nam” là sự kết hợp của cái phổ biến “con người” và
cái đặc thù “Việt Nam”). Không có cái gì có liên quan với vận mệnh
con người lại xa lạ với con người Việt Nam cả.
Tóm lại, khủng hoảng văn hóa và tinh thần ở nước ta là một tập hợp
của ba trạng thái (ba lớp) khủng hoảng: khủng hoảng của văn hóa và
những giá trị tinh thần truyền thống của xã hội Việt Nam, khủng
hoảng của chủ nghĩa xã hội và khủng hoảng của văn minh loài người
hiện nay. Nói cách khác, đó là tiêu điểm của cả ba trạng thái khủng
hoảng ấy. Không nhìn thấy rõ điều đó, sẽ dễ dàng tưởng rằng chỉ
bằng một vài chủ trương và biện pháp nào đó là có thể giải quyết
được vấn đề (vừa không tưởng, vừa hời hợt).
12. Vậy thì, trong xã hội nước ta hiện nay, những giá trị cơ
bản nào đang chi phối đời sống văn hóa và tinh thần của con người?
Không dễ dàng đưa ra một sự trả lời thật rành rọt. Như trên đã nói,
xã hội nước ta đang nằm trong trạng thái nhiễu loạn và hỗn tạp. Các
quá trình phân hóa xã hội (hay phân tầng xã hội - stratification
sociale, nói theo ngôn ngữ xã hội học) đang diễn ra một cách ngoắt
nghoéo và có lẽ còn lâu mới hoàn thành. Trong nhiêu trường hợp, thật
khó xếp những người nào đó vào một phạm trù xã hội nào, vì chính
bản thân họ mang những mâu thuẫn nội tại chưa được giải quyết dứt
khoát. Một viên chức, chẳng hạn, có thể kiếm được những nguồn thu
nhập hợp pháp hay bất hợp pháp ngoài tiền lương của anh ta (có khi
gấp nhiều lần tiền lương). Sự phân chia xã hội theo những phạm trù
cũ: giai cấp công nhân, giai cấp nông dân tập thể, tầng lớp trí thức
xã hội chủ nghĩa, không còn thích hợp nữa với một nền kinh tế thị
tường đang hình thành. Các nhóm xã hội trở nên đa dạng hơn. Một tầng
lớp kinh doanh tư nhân đang xuất hiện với những bộ phận rất khác nhau.
Ngay trong những người lao động làm thuê cũng có những bộ phận có
nguồn thu nhập rất khác nhau (quốc doanh, tư doanh, liên doanh với nước
ngoài, “xuất khẩu lao động”...). Sự phân hóa ấy cũng đang diễn ra trong
“giai cấp nông dân” cũng như trong “tầng lớp trí thức”. Trừ một bộ
phận nhỏ ra, nói chung trong xã hội chưa có những “cương vị xã hội”
(statuts sociaux) vững bền và ổn định. Xã hội chưa hình thành những
nhóm xã hội (giai cấp, tầng lớp) với những lợi ích tương đối thuần
nhất. Mà một khi chưa có những nhóm xã hội có lợi ích giống nhau
thì khó mà nói tới những hệ giá trị của họ, vì lợi ích là một
trong những cơ sở chủ yếu của sự hình thành hệ giá trị văn hóa và
tinh thần.
Tình trạng nhiễu loạn ấy trong đời sống văn hóa lại càng “rối” hơn
nữa. Vì ở đây, ngoài lợi ích ra, còn có những tâm lý, những sở
thích, những xu hướng bắt nguồn từ những lĩnh vực khác, “ngoài kinh
tế”, theo lứa tuổi, theo nơi cư trú (thành thị, nông thôn, miền núi...),
theo những ảnh hưởng tiếp nhận từ bên ngoài... Lớp trẻ thành thị,
chẳng hạn, rất thích nhạc rock, một thứ nhạc tạo nên một cuộc
“cách mạng” trong âm nhạc, vì nó xóa nhòa ranh giới phân biệt chủng
tộc, văn hóa và ngôn ngữ, dựa vào những thành tựu của “công nghiệp âm
thanh”, vang lên khắp thế giới và biến thành tài sản tinh thần chung.
Không thể không chào mừng hiện tượng văn hóa của thời đại ấy. Nhưng
cũng không thể hoan nghênh những xu hướng cực đoan và bệnh hoạn ở một
lớp người trẻ tuổi, khi họ hướng quá sâu vào những phim bạo lực và
khiêu dâm, vào những sản phẩm văn hoa rẻ tiền (thật ra là những sản
phẩm “phản văn hóa”) làm thui chột năng lực mỹ học của con người.
13. Nhân đây, cũng xin nói đôi chút về đời sống văn hóa trong nền
kinh tế thị trường.
Những hiện tượng nhiễu loạn trong đời sống văn hóa hiện nay thường bị
đổ tội cho kinh tế thị trường, dường như thị trường là thủ phạm gây
ra những hiện tượng đó. Nhiều người lên tiếng phê phán gay gắt cái họ
gọi là “thương mại hóa” văn hóa và nghệ thuật. Ở đây, có một sự lẫn
lộn về nguyên nhân và bối cảnh. Đúng là có hiện tượng thương mại hóa
các sản phẩm văn hóa (sách, phim, âm nhạc, mỹ thuật...) và xu hướng
này có cơ phát triển ngày càng mạnh. Những người sáng tác, biểu
diễn đang tìm mọi cách hướng tới công chúng tiêu dùng sản phẩm văn
hóa bằng chính tiền của họ, hay còn gọi là “công chúng có sức mua”
sản phẩm văn hóa. Làm thế nào khác được khi hầu hết các nguồn tài
trợ theo kiểu bao cấp bị cắt đi? Mà cắt là đúng, tuy cắt hết chưa
hẳn đã đúng. Những sản phẩm văn hóa bao cấp rõ ràng đã bị giảm sút
rất nhiều về tính nghệ thuật và cả “tính tư tưởng” của chúng. Công
chúng gần như chỉ được hưởng những sản phẩm sáo mòn, nghèo nàn cả
về nghệ thuật lẫn tư tưởng. Bởi vì những người sáng tạo ra chúng,
trừ một số rất ít trường hợp, không phải hướng về công chúng, mà
trước hết hướng về những người, những cơ quan có tiếng nói quyết
định về bao cấp, từ mức lương của các văn nghệ sĩ đến các kế họach
xuất bản, trình diễn. Nghệ thuật bị bứng khỏi mảnh đất nuôi sống nó
là công chúng, không thể tránh khỏi nguy cơ khô cằn và khuôn sáo. Cả
nghệ thuật lẫn những người làm nghệ thuật đều bị “quan liêu hóa” ở
những mức độ đáng lo ngại. Bỏ bao cấp đối với các sản phẩm văn hóa,
đặt chúng vào các quan hệ thị trường (mua-bán theo giá trị) chính là
đem lại nhựa sống cho chúng. Và như đã thấy, trong thời gian gần đây,
rõ ràng nghệ thuật phần nào có sức sống hơn, gần với công chúng hơn,
với “đời thường” hơn. Sản phẩm nào được công chúng hưởng ứng thì
sống, sản phẩm nào không được công chúng chấp nhận thì chết. Sản
phẩm văn hóa, giống như mọi sản phẩm khác, chịu tác động khắc nghiệt
của qui luật cung-cầu. Tình hình đó không phải chỉ nước ta mới có,
mà ở tất cả các nước theo kinh tế thị trường đều có. Những sản
phẩm mà ở nước ta thường được gọi là “sách đen”, “phim đen”... có mặt
ở nhiều nước khác, kể cả những nước có trình độ phát triển cao về
văn hóa, bên cạnh những sản phẩm được coi là “tử tế”. Bởi vì những
sản phẩm “đen” ấy thật ra vẫn có nhu cầu. Cấm lưu hành công khai,
chúng sẽ đi vào “bí mật”, càng khó kiểm soát hơn. (ở Phần Lan, người
ta tính có khoảng 10% số người tiêu dùng có “nhu cầu” về những sản
phẩm đó, nếu cứ để bán chúng một cách công khai thì cũng chỉ có số
người này lui tới để mua, còn 90% khác thì dửng dưng, hoàn toàn không
bận tâm và để mắt tới). Nói như vậy, không có nghĩa là cho phép và
khuyến khích những sản phẩm “đen”, làm ngơ trước ảnh hưởng xấu của
chúng tới công chúng, nhất là lớp trẻ. Chỉ có điều là đừng ngạc
nhiên trước “sức tiêu thụ” của chúng trong xã hội và đừng tìm cách
giải quyết vấn đề thuần túy bằng những biện pháp hành chính (trừ
những người phạm pháp rõ ràng cần phải xử lý thật nghiêm).
Tất cả vấn đề là ở công chúng và những nhu cầu của công chúng. Khi
trình độ văn hóa của công chúng được nâng cao - và điều này diễn ra
một cách tự nhiên - thì thị trường văn hóa sẽ có những sản phẩm văn
hóa đích thực nhiều hơn. Chưa nói tới sự thẩm định thế nào là sản
phẩm văn hóa “đích thực”, bởi vì những chuẩn mực đánh giá thường
hết sức khác nhau và trong nhiều trường hợp, ranh giới giữa “đích
thực” và “không đích thực” rất khó phân biệt. Chẳng hạn, những sách
báo về tính dục và khiêu dâm là thuộc hai phạm trù rất khác nhau,
nhưng lại dễ lẫn lộn. Cũng vậy, những sách báo bàn về đời sống tâm
linh của con người rất dễ lẫn lộn với những sách báo “mê tín dị
đoan”...
Hiện tượng đáng lo ngại hiện nay là: những kẻ có tiền thường ít có
nhu cầu tiêu dùng văn hóa, hoặc chủ yếu hướng tới những sản phẩm văn
hóa rẻ tiền, thấp kém, còn những người hướng tới sản phẩm văn hóa
có giá trị, ở trình độ cao, lại thường không có tiền. “Ai trả tiền,
kẻ đó làm chủ” - câu nói đó hoàn toàn thích hợp với đời sống văn
hóa nước ta hiện nay. Để giải quyết mâu thuẫn này, không thể chỉ dùng
biện pháp hạn chế sự tiêu dùng của loại công chúng có tiền nhưng lại
có thị hiếu văn hóa thấp kém, mà phải làm sao cho những người có nhu
cầu văn hóa lành mạnh, đích thực, có tiền để tiêu dùng những sản
phẩm văn hóa loại này. Trong một số lĩnh vực cần thiết (nhạc giao
hưởng là một ví dụ), nhà nước phải tài trợ những hoạt động văn hóa
thuộc loại đó để công chúng có thể với tới được. Ngay ở nhiều nước
có kinh tế thị trường phát triển cao, sự tài trợ của nhà nước đối
với loại hoạt động văn hóa này cũng rất lớn và ngày càng tăng thêm
(ở Pháp, các quĩ tài trợ cho các dàn giao hưởng, các bảo tàng nghệ
thuật, các tượng đài... hàng năm đều tăng). Đến một lúc nào đó,
những người kinh doanh văn hóa sẽ tự điều chỉnh về mặt này, bằng
cách lấy tiền lãi từ những sản phẩm bán chạy nhất (best-sellers),
bù cho những sản phẩm chắc chắn thua lỗ về tài chính.
Kinh tế thị trường, như vậy, không đối lập về nguyên tắc với đời sống
văn hóa như có người tưởng (họ thường nói tới “mặt trái của thị
trường”), mà vấn đề chỉ là làm thế nào để đời sống văn hóa thích
nghi ngày càng tốt đẹp với kinh tế thị trường. Và đó là một quá
trình lâu dài, thường là hàng chục năm. Hốt hoảng, sốt ruột cũng như
bỏ mặc, thủ tiêu vai trò của nhà nước trong lĩnh vực này đều dẫn
tới những hậu quả không mong muốn.
14. Xin trở lại với chủ đề hệ giá trị văn hóa và tinh thần
hiện nay. Như trên đã nói, xã hội nước ta chưa đi tới chỗ phân hóa
thành các nhóm xã hội với những lợi ích, những xu hưóng của chúng
một cách dứt khoát, rõ ràng. Khó có thể qui hệ giá trị này cho nhóm
xã hội này, hệ giá trị kia cho nhóm xã hội kia... Càng không thể coi
một nhóm xã hội nào đó mang hệ giá trị văn hóa và tinh thần cao hơn
các nhóm xã hội khác (theo kiểu trước đây, coi giai cấp công nhân là
“tiên phong”, là “cách mạng nhất”, “tiên tiến nhất”). Trong hoàn cảnh
nhiễu loạn như hiện nay, các giá trị khác nhau nằm chồng chéo nhau cả
trong mỗi tầng lớp, mỗi thế hệ, thậm chí một tổ chức (kể cả tổ
chức đảng), mỗi gia đình (kể cả những gia đình có “truyền thống cách
mạng”).
Nhưng như vậy phải chăng trong xã hội hiện nay không tồn tại những hệ
giá trị khác nhau một cách tương đối rõ nét tuy có sự trộn lẫn nhau?
Không phải thế. Có những hệ giá trị văn hóa và tinh thần khác nhau,
đối lập nhau đang tồn tại trong xã hội. Chỉ bằng những quan sát hàng
ngày, có tính chất kinh nghiệm, nhất là về mặt tâm lý xã hội, cũng
đủ khẳng định điều đó.
Về đại thể, có thể phân biệt ba hệ giá trị cơ bản như sau:
Cuộc đấu tranh giữa ba hệ giá
trị ấy diễn ra một cách gay gắt trong hoàn cảnh khủng hoảng về xã
hội và văn hóa, và khủng hoảng chỉ có thể chấm dứt khi cuộc đấu
tranh ấy kết thúc với vị trí ưu thế của hệ giá trị cách tân - phục
hưng.
Xét trên bình diện toàn xã hội, hệ giá trị truyền thống vẫn còn duy
trì vai trò chính thống, nhưng đang mất uy tín dần. Nó không được ủng
hộ mạnh mẽ và rộng rãi như trước, đặc biêt trong các giới trí thức,
thanh niên và kinh doanh. Tư thế chung của nó là cố thủ hơn là tiến
công (tuy đôi khi có những cuộc phản kích quyết liệt, nhưng không có
hiệu quả mấy). Trong số những người mang hệ giá trị bảo thủ - truyền
thống, cũng đang diễn ra một sự phân hóa. Ngoài một số ít người cố
thủ đến cùng do không vượt qua được sức ỳ tâm lý của họ, một số
người dần dần tiếp nhận hệ giá trị cách tân - phục hưng, nhưng cũng
có một số người khác lại chuyển sang hệ giá trị hãnh tiến (số
người này trên lời nói dường như vẫn bảo vệ hệ giá trị thứ nhất,
nhưng trong hành động thì lại theo hệ giá trị thứ ba, mà chủ yếu đó
là những người có chức quyền). Sự suy yếu của hệ giá trị này - và
có thể nói tới sự phá sản của nó trong tương lai không xa - không có
nghĩa là nó đã mất hết sức mạnh. Nó vẫn còn có tác động kìm hãm
những bước phát triển của xã hội, nhưng rõ ràng nó không có tương
lai.
Hệ giá trị thứ hai (cách tân - phục hưng) là niềm hy vọng chủ yếu,
nếu không phải là duy nhất, đối với sự phát triển văn hóa và xã
hội. Nhưng hiện nay, nó chưa thể trở thành một sức mạnh chi phối đời
sống văn hóa và tinh thần của xã hội. Một mặt, nó gặp sức chống
đối mạnh mẽ của các hệ giá trị khác, mặt khác nó cũng chưa hình
thành đầy đủ, hoàn chỉnh.
Trong khi đó, hệ giá trị thứ ba đang đặt đời sống văn hóa và tinh
thần của con người vào những nguy cơ lớn của sự băng hoại. Tính chất
nguy hiểm của nó là ở chỗ chủ nghĩa ích kỷ cực đoan, chủ nghĩa hoan
lạc (hédonisme) của nó hiện ra như một phản ứng “triệt để” đối với
chủ nghĩa khắc kỷ, chủ nghĩa khổ hạnh thuộc giá trị truyền thống -
bảo thủ; còn tư duy đầu cơ, “chụp giựt”, kiếm tiền bằng mọi giá (kể
cả ăn cắp) lại hiện ra như một phản ứng đối với tư duy “bao cấp”, phi
kinh tế trước đây, như một thứ “năng lực mới” của con người. Ở một ý
nghĩa nào đó, là thế thật (cực đoan này chống lại cực đoan kia như
một phản ứng tự nhiên), nhưng xét kỹ, đó không chỉ là một phản ứng
mà còn là một khuynh hướng xã hội bắt nguồn từ mảnh đất hiện thực,
nhất là trong những điều kiện khủng hoảng hiện nay.
Tất cả các hệ giá trị nói trên đang và sẽ đấu tranh với nhau dưới
nhiều hình thức, mà trung tâm của cuộc đấu tranh ấy là giá trị con
người, nói cụ thể hơn, giá trị con người Việt Nam. Nếu hệ
giá trị truyền thống - bảo thủ cắt xén, bóp méo con người với tư
cách cá nhân, chà đạp lên nó, thì hệ giá trị hãnh tiến lại phá hủy
nhân cách và tâm hồn con người. Hệ giá trị cách tân - phục hưng, muốn
có ưu thế đối với hai hệ giá trị kia, thì phải đi tới một quan niệm
về giá trị con người Việt Nam hôm nay, lấy quan niệm đó làm cơ sở,
làm cho nó thấm sâu vào mọi hoạt động văn hóa (và không chỉ là văn
hóa) khác nhau. Đáng mừng là xu hướng ấy đã xuất hiện trong nhiều
tác phẩm văn học nghệ thuật gần đây.
*
Chuyên đề này chưa bàn tới những vấn đề có liên quan với sự nghiệp
xây dựng văn hóa hiện nay và sau này. Xin dành những vấn đề ấy cho một
tiểu luận khác. Ở đây, chỉ tập trung phân tích về thực trạng văn hóa,
về khủng hoảng văn hóa và tinh thần hiện nay, với một cách nhìn tỉnh
táo đến mức có thể có của người viết. Và, như đã nói ngay ở câu
đầu tiên, công việc này không thể do một người làm được.
Tháng Bảy 1992
Nguồn: Những bài viết của Nguyễn Kiến Giang trong thập niên 90 được đăng rải rác trên báo chí trong ngoài nước, được chuyền tay hoặc chưa công bố, nay được tập hợp thành loạt bài “Suy tư 90” cho bản đăng chính thức trên talawas, với sự hiệu đính cuối cùng của tác giả.