Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Nguyễn Kiến Giang Công bằng xã hội và kinh tế (2) |
16.6.2006
Nguyễn Kiến Giang
(Thử phân tích về lý luận)
1 2
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7415&rb=0306
Trong khi các trào lưu xã hội chủ
nghĩa gặp khó khăn và bế tắc (ở đây tôi chưa bàn tới những “lý tưởng
xã hội chủ nghĩa” gắn với khát vọng công bằng xã hội muôn đời của
con người, mà chủ yếu là nói tới “chủ nghĩa xã hội hiện thực” như
đã được thể hiện ở các nước xã hội chủ nghĩa trước khi bị sụp đổ,
và ở các nước do các đảng xã hội - dân chủ cầm quyền), thì chủ
nghĩa tư bản, với tất cả những biến thể khác nhau của nó, vẫn tồn
tại và vẫn tỏ ra có sức sống khá bền vững. Mà chủ nghĩa tư bản, ở
thế kỷ XIX cũng như ở thế kỷ XX, là một chế độ xã hội chưa bao giờ
lấy công bằng xã hội làm mục tiêu cao nhất của nó cả.
Có lẽ không cần trình bày những phê phán từ nhiều phía đối với chủ
nghĩa tư bản ở mặt bất công xã hội. Đã có quá nhiều sách báo, quá
nhiều học thuyết, trường phái làm công việc này. Và nói chung, tất
cả những phê phán về sự bất công dưới chủ nghĩa tư bản, kể cả “chủ
nghĩa tư bản hiện đại”, đều đúng cả. Vấn đề đặt ra là: tại sao một
chế độ bất công như vậy lại vẫn tồn tại với sức sống mạnh mẽ của
nó?
Thật chua xót khi đọc Michel Albert với lời mở đầu cuốn Chủ nghĩa
tư bản chống chủ nghĩa tư bản của ông (1991) như thế này: “Ngày
nay, và là lần đầu tiên trong lịch sử, chủ nghĩa tư bản đã thắng lợi
thật sự. Trên toàn trận tuyến. Đó là một vấn đề đã được giải
quyết. Có lẽ đó là vấn đề lớn nhất của thế kỷ này” (Capitalisme
contre Capitalisme, Seuil, Paris, p. 7). Nghe đắng cay thật, nhưng cần
hết sức bình tĩnh để nhìn nhận và xem xét vấn đề. Nổi khùng lên
cũng chẳng có ích gì. Dù có nhắc tới bản “lý lịch” đầy “máu và
nước mắt” của chủ nghĩa tư bản, tới những cuộc chiến tranh xâm lược
và nô dịch thuộc địa của nó, tới những cuộc chém giết ở qui mô thế
giới chưa từng có trong lịch sử do nó gây ra..., thì cũng không giải
quyết được vấn đề.
Bởi vì, cho đến nay trên thực tế chỉ có chủ nghĩa tư bản là chế độ
xã hội đem lại những sự phát triển mạnh mẽ nhất cho sức sản xuất
xã hội mà kết quả là những đống sản phẩm ngày càng khổng lồ, ngày
càng phong phú, chưa từng thấy ở những xã hội trước đó. Ngay trong
thời kỳ cách mạng công nghiệp thế kỷ XIX, Mác và Ăng-ghen đã thốt lên
rằng: “Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy
một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ
hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia cộng lại”
(Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr. 51). Bây
giờ, trong cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, người ta
cũng thấy chủ nghĩa tư bản đã thực hiện cuộc cách mạng đó một cách
thành công nhất, đưa sản xuất xã hội lên đến một trình độ cao gấp
hàng chục, hàng trăm lần so với trước.
Những thực tế ấy có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với việc thực
hiện công bằng xã hội. Không có một nền sản xuất mạnh mẽ với những
sản phẩm dồi dào như vậy, nói tới công bằng xã hội là vô nghĩa.
Thiếu thốn, nghèo khổ, như lịch sử đã chứng minh, không bao giờ đem
lại công bằng xã hội cả. Nói không sợ thiếu, chỉ sợ không công
bằng chỉ là nói tới một biện pháp tạm thời trong một hoàn cảnh
đặc biệt (chiến tranh hoặc thiên tai), để tạm thời dung hòa lợi ích
giữa những bộ phận xã hội khác nhau nhằm giải quyết một mục tiêu
chung nào đó. Nhưng nếu coi đó là một phương châm tổ chức xã hội, thì
đó là một “không tưởng khủng khiếp”.
Tất nhiên, có sản phẩm dồi dào không tự động dẫn tới công bằng xã
hội, nhưng đó là tiền đề không thể thiếu để thực hiện công bằng xã
hội. Với tất cả những bất công của nó, chủ nghĩa tư bản vẫn có thể
đem lại cho xã hội những sản phẩm dồi dào đến mức có thể cung cấp
cho những người nghèo khổ (tất nhiên không phải là tất cả) những sản
phẩm cần thiết tối thiểu cho cuộc sống của họ. (Trong khi ở phần lớn
các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, thiếu hụt là thực tế triền
miên đối với hầu hết dân cư).
Đúng là trong những thời kỳ đầu của nó, đặc biệt trog thời kỳ tích
lũy nguyên thủy và cách mạng công nghiệp, những bất công của xã hội
tư sản làm nhức nhối biết bao nhiêu tấm lòng con người. Và đó là một
lý do cắt nghĩa tại sao những lý tưởng xã hội chủ nghĩa đã thu hút
nhiều người, nhất là trong những người lao động nghèo khổ.
Nhưng cũng đúng là hiện nay, ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển
phương Tây, không những kinh tế phát triển chưa từng thấy, mà nói chung,
mức sống của hầu hết các tầng lớp dân cư cũng tăng lên chưa từng
thấy. Người lao động làm thuê có nhà ở riêng, có ô-tô riêng, có những
phương tiện sinh hoạt hiện đại... không còn là cảnh tượng lạ lùng
nữa. Những trợ cấp xã hội đáng kể - từ trợ cấp thất nghiệp đến
những khoản trợ cấp các gia đình có thu nhập thấp, cũng là những
thực tế hiển nhiên. Con cái công nhân vào các trường đại học ngày
càng nhiều và chiếm một tỉ lệ ngày càng lớn trong những trường học
ngày xưa dành riêng cho con cái nhà giàu. Cuối cùng, đáng chú ý nhất
là ở nhiều nước phương Tây, ngày càng có nhiều người lao động làm
thuê trở thành chủ cổ phần ở các doanh nghiệp. “Chủ nghĩa tư bản nhân
dân”, mà trước đây chúng ta nói tới với một sự nghi ngờ lớn, thậm
chí coi là một thủ đoạn mị dân của những ông chủ tư bản, hóa ra cũng
là một thực tế ở các nước đó. Tóm lại, từ sở hữu đến thu nhập,
người ta đang thấy diễn ra một quá trình thu hẹp dần những bất công
xã hội vốn có của chủ nghĩa tư bản, nhất là ở trình độ xuất
phát gần như ngang nhau của các tầng lớp dân cư.
Phải chăng đó là do những động cơ tốt lành của các nhà tư bản? Chắc
chắn không phải. Tuy “lòng từ thiện” của những người giàu có ở các
nước đó có thể tăng lên thật, nhưng tuyệt nhiên đó không phải là nhân
tố quyết định quá trình thu hẹp bất công xã hội ở đó. Có thể giải
thích quá trình này là kết quả của cuộc đấu tranh do những tầng lớp
những giai cấp lao động làm thuê tiến hành một cách quyết liệt và
không ngừng nhằm giành lấy những quyền lợi ngày càng lớn hơn cho
mình. Thậm chí, như những người theo “thuyết thế giới thứ ba”
(tiers-mondisme) ở các nước phương Tây phân tích, mức sống cao ở các
nước đó là do bóc lột các nước nghèo khổ mà có. Tất cả các lý do
ấy đều có một phần sự thật, nhưng chỉ như vậy vẫn không đủ để giải
thích một cách thuyết phục quá trình này. Lý do chủ yếu nằm ngay ở
sự vận động bên trong các quá trình nảy sinh những nhân tố thu hẹp
bất công xã hội.
Quá trình này, ở các nước phát triển phương Tây (Nhật Bản cũng được
coi là thuộc loại này), diễn ra cùng với sự chuyển tiếp từ sản xuất
công nghiệp sang sản xuất hậu công nghiệp, tức là từ trạng thái văn
minh này sang trạng thái văn minh khác. Đó chính là cái nền khá vững
chắc để quá trình này được thực hiện. Ở đây người ta nhận thấy có
hai mặt tác động qua lại mật thiết với nhau: một mặt, những thành
tựu khoa học và những đổi mới công nghệ cho phép sản xuất của cải
ngày càng dồi dào; nhu cầu mở rộng thị trường tiêu thụ cho những sản
phẩm ấy buộc phải tính đến việc tăng thu nhập cho dân cư, trong đó đa
số là những người lao động làm thuê, để họ có thể mua những sản
phẩm đó. Thiếu sức mua ngày càng tăng của dân cư, không thể tái sản
xuất mở rộng được, các doanh nghiệp sẽ lâm vào nguy cơ đình đốn và
phá sản. Trái lại, tái sản xuất mở rộng sẽ đem lại nhiều lợi nhuận
hơn cho các nhà tư bản. Đó, cái “đạo lý” chủ yếu của chủ nghĩa tư
bản nằm ở đó.
Mặt khác, trình độ sản xuất mới đem lại những thay đổi căn bản về
cấu trúc xã hội và vai trò của con người ở các nước đó. Bộ phận
lao động trực tiếp sản xuất giảm đi, bộ phận dịch vụ tăng lên (như
thường nói, những người lao động “cổ xanh” ngày càng giảm bớt, đi đôi
với sự tăng lên của những người lao động “cổ trắng” và “cổ vàng”).
Điều quan trọng hơn, đó là sự thay đổi các vai trò trong quá trình
sản xuất. Về phía các nhà tư bản, do sản xuất và kinh doanh ngày
càng phức tạp và đòi hỏi những tri thức, kỹ năng cao, họ không thể
vừa là chủ sở hữu, vừa là người quản lý nữa. Chức năng quản lý
doanh nghiệp tách khỏi quyền sở hữu và được đặt vào tay những nhà
quản lý (managers), hình thành ra một tầng lớp, thậm chí có người
gọi đó là một “giai cấp” những nhà quản lý.
Trong khi đó, về phía những người lao động, cũng diễn ra những biến
đổi sâu sắc về vai trò của họ. Sản xuất ngày càng “tin học hóa”, số
người lao động chủ yếu dùng sức lực cơ bắp ngày càng giảm đi, nhường
chỗ cho những người lao động dùng sức mạnh trí tuệ ngày càng tăng
lên. Người lao động, dù còn làm thuê, cũng buộc phải có trình độ
giáo dục và nghề nghiệp ngày càng cao. Họ phải vươn tới những tri
thức khoa học và công nghệ ngày càng phức tạp. Đặc biệt, từ chỗ phụ
thuộc vào dây chuyền sản xuất, với những phương tiện lao động mới, họ
trở thành những người làm chủ thật sự điều khiển quá trình sản
xuất. Trí tuệ, tri thức trở thành nhân tố quyết định quá trình đó,
mà trí tuệ và tri thức chính là những phương tiện của cá nhân họ
chứ không phải là sở hữu của những ông chủ tư bản như máy móc, nhà
xưởng, công cụ... trước kia. Những biến đổi ấy làm cho vai trò và địa
vị xã hội tăng lên rõ rệt. Họ dần dần trở thành những người trực
tiếp làm chủ quá trình sản xuất, và sớm hay muộn, chính những ông
chủ tư bản thừa nhận điều đó, ít ra cũng là vì những lợi ích của
họ. Chưa nói tới những biến đổi quan trọng về sở hữu. Ở các nước
phát triển phương Tây, chế độ sở hữu tư nhân thay đổi theo hướng dần
dần biến những người “vô sản” thành những chủ sở hữu cổ phần của
các doanh nghiệp bên cạnh những nhà tư bản.
Tất cả những thay đổi ấy làm thay đổi cả quan niệm về con người trong
sản xuất. Không phải ngẫu nhiên mà khái niệm “nhân tố con người” được
nói tới ngày càng rộng rãi ở các nước phương Tây. Quan niệm ấy đang
phát triển thành quan niệm “con người đắt”. Nó chống lại và loại bỏ
một giáo điều cũ của kinh tế tư bản chủ nghĩa cho rằng dường như có
thể phát triển kinh tế bằng cách đè nén những nhu cầu của người lao
động. Nó cũng bác bỏ một giáo điều khác của kinh tế học: không coi
gia đình thuộc lĩnh vực kinh tế, mà chỉ coi đó là thuộc lĩnh vực xã
hội. Bây giờ, người ta thấy rõ rằng sự tiêu dùng của người lao động
là một nhân tố quyết định phát triển kinh tế. Tích lũy không phải là
hiệu của thu nhập quốc dân trừ đi tiêu dùng (theo công thức tích lũy
cũ: tích lũy (S) = thu nhập quốc dân (Y) - tiêu dùng (C), mà hình thức
tích lũy chủ yếu là những gì sản xuất ra được tiêu dùng để phát
triển người lao động và để tạo ra “con người đắt”. Đồng thời, khi
tính thu nhập của người lao động, những chi phí về mặt gia đình của
họ cũng được chú trọng đầy đủ hơn (ví dụ: lao động nội trợ dần dần
được coi như lao động xã hội trực tiếp). Và đến lượt nó, những khoản
tiêu dùng của gia đình người lao động cũng được coi như một thứ tích
lũy để tạo ra “con người đắt”, con người có trình độ giáo dục và văn
hóa cao, có sức kh”e tốt, đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất mới.
Như vậy, do nhiều nguyên nhân khác nhau, kể cả những nguyên nhân bên trong
nền sản xuất tư bản chủ nghĩa trong thời đại văn minh mới, vấn đề
công bằng xã hội được giải quyết một cách tích cực hơn. Công bằng xã
hội càng được tính tới, thì càng có lợi cho phát triển kinh tế. Tất
nhiên, không cần chứng minh gì nhiều, tất cả những biện pháp nói trên,
một mặt, cũng chỉ mới bắt đầu được thực hiện, chưa phải đã thật
rộng khắp, và mặt khác, vẫn chưa thể giải quyết được về căn bản vấn
đề công bằng xã hội. Xã hội phương Tây nói chung cũng bế tắc trong
việc giải quyết một cách căn bản, chứ chưa nói triệt để, vấn đề
này. Chỉ cần lấy vấn đề nạn nghèo khổ cũng đủ thấy điều đó. Dù
coi người nghèo khổ là “nạn nhân” hay “thủ phạm” đi nữa, thì đó vẫn
là những người sống trong dốt nát, trong tuyệt vọng, giống như trong
hầu hết mọi xã hội và mọi thời đại, như M. Albert nói: “Người
nghèo khổ cứ vẫn bị đối xử như một loại người khốn cùng, vô tích
sự, hư hỏng, lười biếng. đáng ngờ, thậm chí là thủ phạm” (sách
đã dẫn, tr. 13).
Và có đi theo mô hình nào đi nữa, các nước tư bản chủ nghĩa vẫn chưa
có một hệ thống bảo vệ xã hội có thể khắc phục triệt để nạn
nghèo khổ. Xã hội vẫn cứ bất lực! ở tất cả các nước tư bản chủ
nghĩa, với cách hiểu mới về nghèo khổ (nói chung, đó là tình trạng
không có khả năng đáp ứng những nhu cầu sống tối thiểu), tỉ lệ người
nghèo hiện vẫn ở mức đáng kể: ở Mỹ, một trong những nước có thu
nhập quốc dân tính theo đầu người cao nhất, tỉ lệ đó vẫn “ổn định”
ở mức 33-37% tổng số gia đình.
*
Đến đây, có thể tóm tắt mấy phương hướng giải quyết vấn đề công bằng
xã hội đã có như sau:
Nghĩa là, cho đến nay, công bằng
xã hội vẫn còn là một lý tưởng, một “không tưởng”, xét ở mặt tuyệt
đối của nó, trong khi về mặt tương đối, tình trạng bất công xã hội
đã được giải quyết phần nào. Vấn đề hiện nay phải chăng là tìm hiểu
xem, với những tiền đề nào, vấn đề công bằng xã hội được giải quyết
có hiệu quả hơn.
Trên sách báo nước ngoài, vấn đề này được đặt ra một cách cụ thể
là vấn đề quan hệ qua lại giữa công bằng xã hội và hiệu quả kinh
tế. Đó là một bài toán cực khó, vì cho đến nay, hai mặt này dường
như mâu thuẫn nhau đến mức khó điều hòa. Đặt công bằng xã hội lên trên
hết và coi đó là mục tiêu trực tiếp phải được thực hiện dưới dạng
gần như tuyệt đối, thì khó có thể bảo đảm hiệu quả kinh tế (như
“chủ nghĩa xã hội hiện thực” cho thấy). Ngược lại, đặt hiệu quả kinh
tế lên cao nhất, coi đó là thước đo duy nhất của sự phát triển kinh
tế, thì lại không tránh khỏi những bất công xã hội (như “chủ nghĩa tư
bản tự do” cho thấy). Nếu xã hội loài người chỉ dừng lại ở văn minh
công nghiệp thì rõ ràng đó là một bài toán không thể giải quyết
triệt để được, nhiều lắm cũng chỉ giải quyết được từng phần. Có
điều là giữa hai cách giải quyết nói trên, các giải quyết thứ hai đem
lại những kết quả khách quan có lợi cho những người lao động (chú ý:
tôi không nói là cho công bằng xã hội). Nói theo lối hình ảnh, một bên
chúng ta có một chiếc bánh đem chia thành những phần gần đều nhau cho
mọi người, dần dà chiếc bánh ấy cứ nhỏ dần, nhỏ dần. Cho tới lúc
gần như không còn gì để chia nữa, và nếu trong hoàn cảnh đó lại có
những kẻ đòi phần hơn thì những người khác mất phần. Một bên khác,
chúng ta có một chiếc bánh chia không đều nhau, kẻ được miếng to,
người được miếng bé, nhưng do chiếc bánh to dần lên nên kẻ được miếng
bánh bé chẳng những không mất phần mà còn có thể được khá hơn một
chút. Rốt cuộc, chẳng có công bằng xã hội, chỉ có các cách chia
khác nhau và mỗi bên bất công gần giống nhau. Cách ví ấy có lẽ quá
thô thiển, nhưng cũng phản ảnh được thực tế phần nào. Câu hỏi cần đặt
ra ở đây là: tại sao một bên, chiếc bánh ngày càng nhỏ lại, còn một
bên thì chiếc bánh lại to ra? Điều đó là do động lực kinh tế quyết
định. Khi quyền sở hữu của mỗi người bị triệt tiêu, còn sở hữu xã
hội (của nhà nước hay của tập thể) rơi vào tình trạng “cha chung không
ai khóc”, “nhiều sãi không ai đóng cửa chùa”, thì động lực kinh tế ở
mỗi người nói chung cũng bị triệt tiêu. Trái lại, khi còn sở hữu tư
nhân, thì tuy rằng nó chỉ nằm trong tay một bộ phận xã hội và bộ
phận kia không có gì cả, nhưng nó vẫn còn là động lực kinh tế ít ra
của bộ phận những người có sở hữu, những người này do nằm trong
guồng máy sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn luôn tuân theo qui luật tái
sản xuất mở rộng, nên nhìn chung, họ sản xuất ra ngày càng nhiều của
cải hơn (xem K. Mác, Tư bản, tập II), nói cách khác, chiếc bánh
to lên. Tính theo tỉ lệ tương đối, phần chia cho những người lao động
không có sở hữu có thể không tăng lên, thậm chí giảm đi, nhưng về mặt
tuyệt đối, phần chia ấy ngày càng tăng lên. Chưa nói tới những sức ép
chính trị và xã hội của những người lao động (các cuộc đấu tranh
bền bỉ và có khi quyết liệt của những người vô sản về kinh tế và
cả về chính trị) cũng tác động không nhỏ tới phần chia ấy.
Một điểm khác nữa cũng rất quan trọng: nếu những người lao động trong
mô hình “chủ nghĩa xã hội nhà nước” mất dần tính chủ động cá nhân,
nhiễm phải thói dựa dẫm vào các chế độ bao cấp, thì trái lại, dưới
chủ nghĩa tư bản, do những quan hệ mua - bán sức lao động theo các qui
luật thị trường, người lao động phải thật chủ động và tích cực trong
việc làm và đời sống để có thu nhập cao và nhất là để tránh khỏi
thất nghiệp. Điều đó có ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả công việc
của họ, do đó, tới hiệu quả kinh tế chung.
*
Trong văn minh công nghiệp, không có một phương án nào khác ngoài hai
phương án trên (“chủ nghĩa xã hội hiện thực” và “chủ nghĩa tư bản tự
do”). Và như đã thấy, cả hai đều lâm vào ngõ cụt trong việc giải quyết
vấn đề công bằng xã hội. Nhưng sự phát triển kinh tế của xã hội
loài người không vì thế mà bế tắc, cả trong vấn đề hết sức nan giải
này. Với sức mạnh trí tuệ không ngừng tăng lên, với những thành tựu
của khoa học và công nghệ, tiếp theo văn minh công nghiệp, con người đang
bước sang văn minh hậu công nghiệp (hay “văn minh trí tuệ”). Chính nền
văn minh mới này đang hé mở ra những khả năng mới để giải quyết vấn
đề công bằng xã hội. Chắc chắn vấn đề này vẫn sẽ chưa được giải
quyết triệt để (và có lẽ sẽ không bao giờ được giả quyết triệt để
như mong muốn, vì con người càng phát triển thì càng bộc lộ những
chênh lệch về năng lực - nhất là năng lực trí tuệ - giữa người này
và người khác), vấn đề công bằng xã hội luôn luôn được đặt ra trên
những bình diện ngày càng khác đi, ngày càng cao hơn. Nhưng đang xuất
hiện những tiền đề và những khả năng mới để thu hẹp những bất công
xã hội hiện có.
Đây không phải là chỗ để phân tích kỹ về nền văn minh mới này. Chỉ
xin nhấn mạnh một điểm có liên quan trực tiếp với vấn đề công bằng
xã hội. Đó là vị trí của cá nhân con người trong sản xuất (hiểu theo
nghĩa rộng nhất của từ này). Nền sản xuất hậu công nghiệp, như nhiều
tác giả đã chứng minh khá đầy đủ, chủ yếu dựa vào tri thức, trí
tuệ của các cá nhân, hơn là dựa vào sức mạnh của những phương tiện
vật chất do một bộ phận xã hội nắm trong tay. Không nên có ảo tưởng
rằng sở hữu về tư liệu sản xuất sẽ không đóng vai trò gì quan trọng
trong nền sản xuất mới. Quyền lực của tri thức, như Alvin Toffler chứng
minh trong Chuyển đổi quyền lực (1990), không có nghĩa là quyền
lực của bạo lực và đồng tiền bị xóa bỏ, mà chỉ có nghĩa là những
thứ quyền lực ấy từ nay sẽ bị quyền lực của tri thức chi phối. Một
người lao động có tri thức đầy đủ vẫn chưa thoát khỏi thân phận làm
thuê nếu anh ta không có sở hữu trong tay. Nhưng chắc chắn mối quan hệ
của anh ta với ông chủ tư liệu sản xuất sẽ khác đi, và ngược lại, ông
chủ cũng phải thật sự tôn trọng năng lực trí tuệ của anh ta, vì trong
nền sản xuất mới, cái quyết định là tri thức của người lao động chứ
không phải là tiền của nhà tư bản. Nói như J. Naisbitt và P. Aburdene:
“Trong xí nghiệp mới, năng lực sáng tạo và cá tính là những cái quí
giá nhất” (Coup d’Etat dans l’entreprise, Paris, 1987, tr. 166). Việc
giải quyết các vấn đề kinh tế, công nghệ, xã hội dựa vào nhưng “phẩm
chất con người”, mà theo Mác, những phẩm chất ấy hình thành “ở bên
kia lĩnh vực sản xuất vật chất thực thụ”.
Tiền đề then chốt để có thể giải quyết vấn đề công bằng xã hội
chính là nằm ở đó, ở tri thức với tư cách nguồn lực chính tạo ra
của cải xã hội. Xét về mặt công bằng xã hội, ít ra tri thức có hai
thuộc tính phù hợp với việc giải quyết vấn đề này. Thứ nhất, tri
thức bao giờ cũng nằm ở cá nhân (dù đó là “trí tuệ tập thể” đi
nữa, thì cũng do các cá nhân mang nó), cá nhân và năng lực của cá
nhân là điểm xuất phát để tính những giải pháp kinh tế tối ưu. Thứ
hai, tri thức mang bản chất dân chủ, không phải và không thể là độc
quyền của bất cứ ai, nó “mang thuộc tính thật sự cách mạng là những
người yếu kém nhất và những người nghèo khổ nhất cũng có thể chiếm
lĩnh nó” (A. Toffler, Les nouveaux pouvoirs, tr. 39).
Nói cách khác, nếu công bằng xã hội mang hai nội dung chủ yếu là tự
do và bình đẳng như đã nói trên đây, thì tri thức (sức mạnh trí tuệ)
chính là tiền đề để cá nhân có thể độc lập hơn, tự do hơn và để cá
nhân đạt tới địa vị xã hội bình đẳng hơn.
Nhưng làm thế nào để chuyển sang nền văn minh mới, trong đó tri thức
là quyền lực chủ yếu? Cái đinh của toàn bộ vấn đề là ở chỗ này.
Bởi vì, nếu không có những tiền đề có sẵn thì không thể chuyển từ
văn minh cũ sang văn minh mới. Dù cũ hay mới, văn minh vẫn là một
dòng chảy liên tục của những giá trị chung đã được lịch sử loài
người kiểm nghiệm.
Tại sao “chủ nghĩa xã hội hiện thực” có thể nhảy sang văn minh công
nghiệp (ở một số mặt nào đó) nhưng lại không thể nhảy sang nền văn
minh mới, trong khi “chủ nghĩa tư bản tự do” với tất cả những mâu
thuẫn và bệnh tật của nó lại có thể làm được bước nhảy về chất
này? Như đã nói trên đây, nền văn minh mới đưa cá nhân lên một vị
trí cao hơn trước nhiều, và tiền đề của điều đó là cá nhân phải
được khẳng định ở những mức độ nào đó trong các giai đoạn văn minh
trước đó. “Chủ nghĩa xã hội hiện thực”, do triệt tiêu cá nhân như một
giá trị độc lập, nên không thể thực hiện bước nhảy này. Cá nhân ở
dó chỉ tồn tại như một bộ phận của tập thể, không có sở hữu riêng
đã đành (kể cả sở hữu sức lao động của mình), mà cũng không thể
“tự do mua bán” sức lao động trên một thị trường tự do, thuận mua vừa
bán theo qui luật cung - cầu. “Chủ nghĩa tư bản tự do”, trái lại, tuy
làm cho sở hữu tư nhân bị méo mó đi, một bộ phận dân cư có sở hữu
trong tay còn bộ phận kia thì bị tước đoạt sở hữu, nhưng nói chung
trong xã hội vẫn còn có sở hữu tư nhân, mà vì những lợi ích của
mình, các ông chủ sở hữu rất nhạy cảm với mọi thay đổi trong quá
trình sản xuất xã hội. Mọi trao đổi - cả về sức lao động cơ bắp
cũng như “chất xám” - đều thông qua thị trường vốn là một cơ chế cũng
hết sức nhạy cảm với mọi thay đổi trong quá trình sản xuất xã hội.
Thị trường sẵn sàng gạt bỏ mọi yếu tố lạc hậu, đồng thời sẵn sàng
tiếp nhận mọi yếu tố tiên tiến về khoa học và công nghệ. Một phát
minh hay thậm chí một cải tiến nhỏ về kỹ thuật, nếu mang lại được
lợi nhuận cao hơn trên thị trường là lập tức được các công ty tư bản
áp dụng (người ta tính rằng ở Nhật, từ khi có một phát minh khoa học
và công nghệ ra đời đến khi nó được đem ứng dụng đại trà, chỉ mất
khoảng 2 năm, trong khi ở Liên Xô (cũ), thời gian đó nói chung là 7-10
năm, chưa nói tới những phát minh bị đút vào ngăn kéo không thời hạn,
vì những nhà quản lý rất sợ những cách tân vượt khỏi tầm tay của
họ).
Xin nói lại: dù dưới chủ nghĩa tư bản, sở hữu tư nhân và thị trường
bị biến dạng theo lợi ích của giai cấp tư sản, thì ít ra hai thể chế
gắn chặt với nhau ấy (sở hữu tư nhân và thị trường) vẫn tồn tại và
phát triển, mà đó chính là hai giá trị chủ yếu của văn minh chung
trong lĩnh vực kinh tế của xã hội loài người. (Ai cũng biết rằng sở
hữu tư nhân và thị trường là hai thể chế kinh tế - xã hội xuất hiện
rất lâu trước chủ nghĩa tư bản và chắc chắn cũng sẽ tồn tại rất lâu
sau chủ nghĩa tư bản).
Với nền văn minh mới, các thể chế xã hội - kinh tế ấy được hoàn
thiện hơn, tất cả những gì làm chúng méo mó dưới chủ nghĩa tư bản
sẽ bị “điều chỉnh” dần: chế độ sở hữu của các cá nhân sẽ mở rộng
ra cho những người trước đó không có sở hữu, đặc biệt là sở hữu trí
tuệ sẽ được khẳng định ngày càng vững chắc; thị trường càng trở nên
văn minh hơn, những yếu tố tự phát, mù quáng của nó sẽ được khắc
phục ở những mức độ đáng kể, và dần dần biến thành “kinh tế thị
trường xã hội” (économie de marché sociale) như đang diễn ra ở một số
nước phát triển.
Đi đôi với các quá trình kinh tế và công nghệ ấy, sức ép của đại đa
số người trong xã hội, do các cá nhân phát triển cao hơn về trí tuệ
và năng lực, sẽ làm cho các hình thức cai quản xã hội, tức là các
tổ chức chính trị, trước hết là các cơ quan quyền lực của xã hội,
trở nên dân chủ hơn. Quá trình chuyển sang nền văn minh mới còn dựa
vào sự phát triển của dân chủ theo hướng bảo đảm về luật pháp và
trên thực tế cho các quyền con người và các quyền công dân, đó là quá
trình xuất hiện của cái được gọi là “chế độ dân chủ xã hội”
(démocratie sociale).
Dân chủ - một giá trị văn minh chung của loài người - đóng vai trò một
đòn bẩy để chuyển sang nền văn minh mới. Và nếu như các quá
trình thay đổi về công nghệ, sở hữu và thị trường mang tính khách
quan nhiều hơn, thì quá trình dân chủ hóa mang tính chất chủ quan
nhiều hơn, nó phụ thuộc rất lớn vào ý chí của các cá nhân, vào “ý
thức xã hội và chính trị” của các công dân.
Như vậy, những giá trị văn minh chung của loài người như: xã hội công
dân (trên cơ sở sở hữu tư nhân), kinh tế thị trường, nhà nước pháp
quyền và dân chủ, từng tồn tại trong lịch sử ở những mức độ nhất
định và có khi bị biến dạng, bị thu hẹp, những giá trị đó sẽ phát
triển đầy đủ hơn trong nền văn minh mới. Nghĩa là con đường đi tới nền
văn minh mới, với những giải pháp mới có triển vọng hơn cho công bằng
xã hội, phải là con đường phát triển những giá trị văn minh chung đã
được lịch sử kiểm nghiệm ấy. Ở đây không có con đường tắt nào cả.
Mọi con đường tắt chỉ dẫn tới chỗ bế tắc mà thôi. Phải chăng đó là
bài học đau đớn nhất được rút ra từ sự đổ vỡ của “chủ nghĩa xã
hội hiện thực” do nó đã làm một cuộc thí nghiệm quá tốn kém để “đi
đường tắt”, không chú trọng và thậm chí phủ định những giá trị văn
minh chung của loài người. Lý tưởng công bằng xã hội của nó không
nhữg không gần lại, mà còn rời xa hơn...
*
Trong thời gian gần đây, khi thảo luận vấn đề tiến bộ xã hội, nhiều
nhà nghiên cứu trên thế giới thống nhất với nhau ở điểm căn bản này:
chỉ những quá trình xã hội nào giúp cho cá nhân con người phát
triển ngày càng toàn diện, mới có thể coi đó là tiến bộ xã hội.
Cá nhân con người - đó là giá trị chủ yếu và cao nhất, là điểm đầu
và điểm cuối của tiến bộ xã hội. Tôi nghĩ rằng bàn tới công bằng
xã hội, cũng phải lấy địa vị cá nhân con người làm thước đo. Những
tiêu chuẩn để đo địa vị cá nhân con người, xét về mặt công bằng xã
hội, chắc chắn cũng không thể là cái gì hơn tự do và bình đẳng: mỗi
cá nhân có được trình độ tự do ngày càng cao hay không, có trình độ
bình đẳng ngày càng cao hay không.
Có thể có những cách hiểu khác nhau về công bằng xã hội, trong đó
có cách hiểu khá phổ biến cho rằng công bằng xã hội là cho
(cống hiến) bao nhiêu thì được nhận (hưởng thụ) bấy nhiêu. Về
mặt lý luận, cũng có người đưa ra định nghĩa về công bằng xã hội
một cách rắc rối hơn: đó là “mức độ được xã hội hay giai cấp thống
trị chấp nhận là đúng đắn, có cơ sở đạo đức, dùng để đo những hành
động của một chủ thể có lợi (hay có hại) cho xã hội và những người
khác, và những hành động của xã hội và những người khác đáp ứng
cho chủ thể đó” (G. V. Malcev, Công bằng xã hội và pháp quyền,
Moskva, 1977, tr. 54). Đó là một cách lý luận hóa đối với cách hiểu
“cho - nhận” nói trên. Về hình thức, cách hiểu đó không sai, nhưng về
thực chất và trong thực tế, cách hiểu đó không thể áp dụng cụ thể
được. Vì thật khó trả lời cho những câu hỏi sau đây: “cho” cái gì? ai
đánh giá mức “cho” ấy và đánh giá theo tiêu chuẩn nào? “nhận” cái
gì? ai đánh giá mức “nhận” ấy?, v.v....
Xã hội càng phát triển, thì càng khó trả lời những câu hỏi đó. Không
thể đánh giá những cống hiến về khoa học và nghệ thuật, chẳng hạn,
theo những thước đo cụ thể và chi li, giống như đo những kết quả lao
động sản xuất vật chất thể hiện bằng số lượng và chất lượng sản
phẩm. Hơn nữa, trong một nền sản xuất ngày càng phức tạp, không thể
nói một sản phẩm làm ra chứa đựng những “cống hiến” cá nhân đến mức
nào. Quan niệm của Mác nói rằng trong xã hội cộng sản tương lai, mỗi
người lao động sẽ nhận một phiếu lao động phù hợp với mức cống hiến
của mình để đổi lấy những vật phẩm mà xã hội bù đắp một cách
tương ứng, hay quan niệm cũng của Mác nói rằng “lao động phức tạp” là
bội số của “lao động giản đơn”, những quan niệm đó tỏ ra quá thô thiển
và không thể thực hiện được ngay cả trong sản xuất công nghiệp và lại
càng như vậy trong sản xuất hậu công nghiệp.
Qua niệm công bằng xã hội là sự bảo đảm cho mỗi cá nhân được tự do
hơn và bình đẳng hơn, như tôi vừa trình bày trên đây, thật ra cũng rất
trừu tượng, nhưng dù sao nó cũng chỉ ra được một vectơ cho sự
vận động của xã hội và cá nhân theo hướng phát triển ngày càng cao
hơn và ngày càng hoàn thiện hơn.
Nói cho cùng, công bằng xã hội là một cái đích không bao giờ đạt tới
một cách tuyệt đối cả. Cả trong tương lai xa vời, sẽ không bao giờ
loài người có thể xoa tay và dõng dạc tuyên bố: “Đã có công bằng xã
hội rồi!”. Nhưng cũng giống như sự vận động của tri thức và nhận
thức trên đường đi tới nhưng chân lý không bao giờ đạt tới, công bằng
xã hội chỉ có thể vận động theo hướng “ngày càng ít bất công hơn”
mà thôi. Nghĩa là, công bằng xã hội, với tư cách một lý tưởng xã
hội, vẫn cứ là một ảo tưởng, nhưng là một ảo tưởng cần thiết,
như Jean-Paul Jouary nói rất hay về các ảo tưởng (xem Comprendre
les Illusions, Editions sociales. Paris, 1981)
[1] .
Liệu có thể tin rằng con người, trong toàn bộ tiến trình lịch sử của
mình, đã, đang và sẽ tiến từng bước nặng nhọc và khó khăn trên con
đường đi tới công bằng xã hội không? Tôi nghĩ là có thể. Nhìn lại
tiến trình lịch sử ấy, có thể thấy được ba chặng đường chủ yếu,
vừa nối tiếp nhau vừa phủ định nhau sau đây:
Sơ đồ này chắc chắn còn quá đơn
giản, nhưng có thể phản ảnh phần nào con đường đi tới công bằng xã
hội.
Một lần nữa, con đường đó gắn liền với con đường văn minh chung của
xã hội loài người qua những giai đoạn khác nhau của nó. Và như vậy,
một lần nữa, con đường đi tới công bằng xã hội phải là con đường dựa
vào những giá trị văn minh chung mà loài người đã tích lũy được từ
thấp lên cao trong toàn bộ lịch sử của mình.
Tháng Mười hai 1992
[1]Trong các trào lưu xã hội chủ nghĩa hiện có, những
người xã hội - dân chủ có lẽ là những người đang tìm tòi nhiều hơn
cả về vấn đề công bằng xã hội, trong khi trào lưu cộng sản đang bị
khủng hoảng về lý luận và bế tắc về thực tiễn. Một phần, chính họ
đã góp phần làm cho chủ nghĩa tư bản “mềm dẻo” hơn theo hướng giảm
bớt những bất công xã hội vốn có. Một phần khác, do những quan niệm
của họ cũng khá “co dãn” để có thể tiếp cận với văn minh hậu công
nghiệp.
Trong văn kiện Trào lưu xã hội - dân chủ trong thế giới đang thay
đổi, do Đại hội XIX của Quốc tế xã hội chủ nghĩa (họp tại
Berlin, ngày 15-17 tháng chín 1992) thông qua, có một mục dành cho công
bằng xã hội. Trên phạm vi thị trường toàn thế giới, họ chủ trương đi
tới một sự điều tiết căn bản để có cạnh tranh đúng đắn. “Chủ nghĩa
bảo hộ là không đúng cũng như sự phá giá xã hội (social dumping),
chúng ta chống lại cả hai lối đó, trong khi chủ nghĩa tự do kinh tế
thì nhắm mắt trước các mặt xã hội”. Trong nước, họ chủ trương gạt bỏ
“bàn tay vô hình” làm cho thị trường lộn xộn, “nhằm bảo đảm những cơ
hội ngang nhau và công bằng xã hội”. “Cần có những công đoàn mạnh để
chống lại quyền lực của tư bản, và cả lao động lẫn tư bản đều cần
có sự bảo trợ hợp phps và sự ủng hộ của chính phủ nhằm đi tơi một
xã hội cân bằng. Công bằng xã hội có nghĩa là dân chủ kinh tế tăng
lên trong tất cả các khu vực sản xuất và dịch vụ, từ cửa hàng và
xí nghiệp đến cấp vùng và toàn quốc”. Họ chủ trương đầu tư cho dân
chúng thông qua các chương trình sức khoẻ, các dịch vụ xã hội và
tiền công đúng đắn. Họ nhấn mạnh sự quan tâm đối với cả hiệu quả
kinh tế lẫn công bằng xã hội. “Các nước chúng ta cần một sự đồng
thuận xã hội về những mức tiền công đúng đắn và những điều kiện lao
động tốt, về sự phân phối của cải và thu nhập. Vấn đề giảm bớt nạn
thất nghiệp được coi là hàng đầu”. “Những nỗ lực cá nhân để thích
nghi với thị trường lao động phải đi đôivới những nỗ lực công cộng
nhằm tạo ra công ăn việc làm. Giáo dục và huấn luyện nghề nghiệp là
cốt yếu để bảo đảm và tăng thêm việc làm và để thực hiện sự ngang
nhau về cơ hội trong một thế giới có những thay đổi nhanh chóng về
công nghệ và cơ cấu”. (những đoạn đặt trong dấu ngoặc kép là trích
từ văn kiện nói trên).
Nguồn: Những bài viết của Nguyễn Kiến Giang trong thập niên 90 được đăng rải rác trên báo chí trong ngoài nước, được chuyền tay hoặc chưa công bố, nay được tập hợp thành loạt bài “Suy tư 90” cho bản đăng chính thức trên talawas, với sự hiệu đính cuối cùng của tác giả.