Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Lính Thời Bình (5) |
Những thiên anh hùng ca về người lính thời chiến chinh được mô tả rất nhiều và thường gây được xúc động sâu sắc lòng người. Thế còn cuộc đời những người lính khi thời bình ra sao? Cuốn sách này sẽ kể cho bạn nghe chơi...
Tên nhân vật trong câu chuyện không phải là thật.
Một số chi tiết sự kiện được sửa đổi
Và trong câu chuyện dài này cũng có rất nhiều đoạn được hư cấu thêm thì tất cả chúng cũng không đi ra ngoài sự thật bao nhiêu.
Câu chuyện này dài, rất dài, có thể bị cho rằng nhiều trang mô tả những điều quá vụn vặt. Nhưng nếu không mô tả chúng thì cũng chẳng có mấy điều gì nữa để mà kể. Than ôi, có lẽ phải nhờ rất nhiều đến những chi tiết tầm thường vụn vặt mới có thể làm nổi được hình ảnh của người lính trong thời bình, hình ảnh mà rất ít người chịu bớt chút thời gian để ngẫm suy.
Nguyễn Ngọc Nam Phương - Lính Thời Bìnb (chương 1)
Nguyễn Ngọc Nam Phương - Lính Thời Bình (chương 2)
Nguyễn Ngọc Nam Phương - Lính Thời Bình (chương 3)
Nguyễn Ngọc Nam Phương - Lính Thời Bình (chương 4)
CHƯƠNG 5
Bán đảo Sơn Trà
"Chiều chiều mây phủ Sơn Trà
Lòng ta nhớ bạn nước mắt và lộn cơm"
Ca dao cổ
Trời chớm hè nắng rực, thế nhưng vẫn đột ngột có những cơn mưa bất ngờ xối xuống.
Đầu tiên là những đám mây từ hướng biển kéo ra, chúng nhanh chóng chiếm lĩnh bầu trời, hỗ trợ đằng sau là những cơn gió hung tợn. Phút chốc bên trên bầu trời xám đen, còn phía dưới mặt đất thì cây cỏ đều rung bần bật. Phía trong doanh trại chúng tôi không có thân cây lớn nào, chỉ duy nhất có ngọn cờ kiêu ngạo ở trên đỉnh cột cao vút là gắng tỏ ra hiên ngang vùng vẫy. Rồi mưa trút xuống sầm sập. Những hạt mưa to và nặng thi nhau giáng xuống nền cát cứng và mái tôn. Mưa vùng biển khác hẳn mưa vùng núi, đến nhanh và đi cũng rất nhanh, không ì à ì ạch như mưa vùng núi.
Thế nhưng dù mưa hay nắng thì theo chúng tôi cứ vẫn theo lịch trình huấn luyện như thường. Chúng tôi được bố trí học chính trị và tập luyện xen kẽ lẫn nhau, mỗi tuần ba buổi học chính trị, đại đội này học chính trị thì các đại đội khác phải ra ngoài trời tập luyện. Nếu hôm nào mà đột ngột trời mưa thì bọn ngoài trời thật khổ, nhưng bọn trong nhà thì sướng không thể tả nổi, vì trời mưa mái tôn khua lên như ngàn trống trận chẳng thể nghe chi được hết. Lúc ấy thì mặc cho thiếu tá Dũng đứng ở bên trên cứ nói, bên dưới thì đám lính giả vờ cắm cúi ghi chép nhưng thực ra thì tranh thủ viết thư, còn những đứa nghịch nhất vẫn ưa các trò đùa thuở đi học là búng tai giật tóc lẫn nhau. Tất nhiên những động tác ấy phải hết sức kín, cốt nhất phải che cho được mắt của các A trưởng giám sát đứng gần đâu đó. Chứ nếu để lộ ra thì lập tức nhận hình phạt quét dọn nhà hố xí.
Tuần huấn luyện đầu tiên đã sắp sửa qua đi. Lúc này chúng tôi đã thành thục các động tác quay phải, quay trái, quay đằng sau và đã chuyển sang tập đi đều, đi nghiêm. Những động tác mới này cũng đòi hỏi khe khắt như các động tác trước đấy. Khắp sân tập nơi đâu cũng vang những tiếng hô "một hai!" "một hai!" gây cảm giác rền rĩ bùng nhùng trong óc. Chuyện các A trưởng đá vào chân khi tập sai đã là chuyện thường.
Hôm nay đã là thứ bảy, nhiều đứa chúng tôi náo nức vì mai là Chủ nhật có thể xin phép ra ngoài doanh trại để đi dạo cho biết Sơn Trà.
Rút cục thì tôi cũng xin phép ra ngoài được. Những thằng bạn cùng huyện với tôi chỉ xin ra ngoài được mấy đứa, là thằng Thắng đại đội Một, thằng Bình, thằng Tạo đại đội Hai, thằng Thái đại đội Bốn, và thằng Đức lông mi dài cùng đại đội Ba với tôi. Cả thảy là sáu đứa. Chúng tôi hẹn với nhau cùng đi. Riêng tôi lại còn phải làm công tác tư tưởng cho thằng Huy, thằng này điên tiết chửi bậy chửi bạ đủ các từ khi biết chắc không có ai đứng gần đó rằng A trưởng của nó thật là khốn nạn bất công cố tình cắt nó trực gác vào đúng ngày Chủ nhật để canh cho bọn tiểu đội nó được đi chơi hết.
Sáu đứa chúng tôi ngơ ngác đứng giữa ngã ba Sơn Trà. Thằng Thái đại đội Bốn huyên thuyên, nó chỉ cho chúng tôi, một ngả rộng rãi sẽ dẫn đến trung tâm thành phố Đà Nẵng, một ngã chạy xuống chợ với tấp nập những hàng quán, và một ngả nhìn có vẻ heo hút hơn cả là chạy vào căn cứ đầu não vùng III Hải Quân nơi có rất nhiều tàu chiến trong ấy. Hỏi nó vì sao biết, thì nó trả lời là nghe mấy thằng lính bạn nói. Nó còn nói thêm, muốn vào căn cứ vùng III Hải Quân chơi cho biết thì khó lắm, có nhiều trạm gác canh giữ, và đường đi phải đến bảy tám cây số nữa chứ không ít.
Bọn chúng tôi đi dọc theo con đường vào chợ vì thấy trên con đường này cũng nhiều chú lính như bọn tôi háo hức đi vào. Chợ này được gọi là chợ Mai, ngoài ra Sơn Trà còn có một chợ nữa gọi là chợ Chiều, chợ Chiều nằm cách xa khu quân đội nên hầu như bọn lính chúng tôi không biết đến. Chợ Mai và chợ Chiều có lẽ là hai chợ có từ khá xa xưa của Sơn Trà nên mới có cái tên dân dã như thế.
Điều làm chúng tôi lập tức ngạc nhiên là giọng nói của người Đà Nẵng. Giọng nói ồm ồm hết sức khó nghe với nhiều từ bị trệch đi. Chẳng hạn khi chúng tôi hỏi một ông già rằng bưu điện cách bao xa, ông già trả lời:
-Mấy chú cứ đi "thẻng", đó đó, qua mấy cái xe "độp" dựng là "bưu điệng" đó!
Tiếng Đà Nẵng quả là rất khó nghe, nhất lại là từ những người đàn ông phát ra, thế nhưng kỳ lạ là các cô gái Đà Nẵng nói thì nghe lại khá nũng nịu mềm mại.
Điều nữa khiến chúng tôi ngạc nhiên là phong cách ăn mặc của cư dân nơi đây khác hẳn vùng chúng tôi. Mang dáng dấp nhiều của phong cách Nam Bộ. Đàn ông ăn mặc giản dị phong trần, còn các bà các chị thì mặc theo lối bà ba rất nhiều.
Rồi thì nhà cửa hàng quán sin sít, chỉ một đoạn ngắn từ ngã ba vào chợ mà có đến hàng trăm quán xá khác nhau. Hàng quán như muốn chen hẳn ra ngoài đường. Hiệu may, hiệu ảnh, tiệm ăn, tiệm sách, tiệm sửa xe, tiệm cắt tóc, quán cà phê, quán nhạc, đủ các thứ hàng quán cứ vậy mà chen chúc bên cạnh nhau. Chúng tôi vừa đi vừa tò mò ngắm những hàng quán này. Riêng thằng Đức lông mi dài là tỏ ra ta đây dân thị trấn hiểu biết. Nó đưa ra những lời bình phẩm mà sau khi lắng nghe một hồi chúng tôi thấy nó cũng chẳng hiểu biết hơn gì chúng tôi.
Quãng đường đến chợ Mai của Sơn Trà thật đông các chú lính trẻ như bọn tôi. Những cậu lính mới dễ dàng phân biệt bằng quần áo lính bộ, đều có vẻ lơ ngơ bối rối y chang như chúng tôi vậy. Rất nhiều các chàng lính khác ăn mặc đúng đồ hải quân, rõ ràng là đã qua giai đoạn huấn luyện tân binh và đang phục vụ trong một đơn vị nào đấy, họ đều có vẻ nhanh nhẹn từng trải. Cũng có nhiều những sĩ quan đi lại trên đường. Khi gặp nhau những sĩ quan bắt tay thật trịnh trọng.
Thằng Đức lông mi dài lúc này cặp mắt láo liên ngó hai bên. Tôi dõi theo ánh mắt của nó xem cậu ta nhìn gì, hoá ra cu cậu ngắm các cô gái. Cảm thấy bật cười vì tính háo sắc của nó, tôi hỏi nó nhận xét như thế nào về các cô gái ở đây, nó nói: "Cũng được, nhưng hơi đen!" . Ý nó bảo nước da của các cô gái Sơn Trà hơi đen, thì điều đó là đúng rồi, con gái vùng biển làm sao trắng bằng con gái vùng sông được. Khều vào tay tôi nó chỉ một cô gái đang lấy chổi lông quét trên mặt tủ hàng: "Này, nhưng mà cô em này thì xinh tuyệt!". Rồi nó hăm hở: "Để tao lại làm quen!". Hoảng hốt vì nghĩ tới viễn cảnh có thêm một mối tình kiểu như mối tình với cô bé học lớp 11 ở quê, tôi vội cản. Mấy thằng đi theo cũng cản lại. Thằng Đức miễn cưỡng bước qua nhưng mắt cứ ngoái lại nhìn không ngớt. Cô gái kia hình như cũng cảm nhận được có ai nhìn mình nên ngước mắt dõi theo.
Nói thật, lúc này chúng tôi y như những thằng ngố, nhìn thấy cái chi cũng lạ lùng. Nhìn mấy cô gái bằng thạch cao đứng điệu bộ trơ trẽn với cặp đùi dài hở hang ở trước các quầy hiệu may chúng tôi bấm tay nhau cười toe toét. Đi qua một quán nhạc chiếu mấy bộ phim chưởng hò hét đấm đá chúng tôi há hốc miệng. Những bóng đèn nhấp nháy chạy vòng quanh cây thông nhựa gi cũng khiến chúng tôi ngơ ngẩn... Ôi, điện với văn minh đi kèm theo nó là cái chúng tôi chưa từng trải qua. Thời bấy giờ huyện chúng tôi chưa hề có điện, đến ngay cả thị trấn của huyện cũng vậy. Cùng lắm chỉ có một vài nhà có chiếc Radio con con chạy bằng Pin hoặc chiếc Catset chạy bằng Acquy. Buổi đêm toàn thắp đèn dầu, và ngồi nói chuyện thế giới. Ông bà xưa có câu "ếch ngồi đáy giếng" để chỉ thân phận con ếch trong giếng nhìn thế gian qua cái miệng giếng bé tý. Chúng tôi cũng vậy, sống ở một nơi nghèo nàn lạc hậu, có lẽ là loại nghèo nàn lạc hậu bậc nhất trên thế gian, nhưng lâu rồi thành quen, chúng tôi chẳng thấy chút chi là nghèo nàn lạc hậu nữa, thậm chí các bậc đáng kính trong làng trong huyện còn thích phán bàn với nhau về các nước văn minh trên thế giới như thể đang ngồi trên đầu trên cổ họ vậy... Giờ đây được mở mắt tý chút về văn minh của điện tại một bán đảo nhỏ bên rìa của một thành phố mà chúng tôi đã như thế này, chứ nếu đột ngột chúng tôi được vứt sang NewYork của Mỹ, Pari của Pháp hay Tokyo của Nhật là những nơi văn minh hùng mạnh bậc nhất nhân loại thì còn chẳng biết những thằng ngố chúng tôi ra sao?
Vừa ngắm nhìn những thứ đập vào mắt tôi vừa lờ mờ những câu hỏi trong đầu. Xã hội Việt Nam đang ở đâu trong bậc thang văn minh tiến hoá của loài người. Liệu những gì sách vở hằng ngợi ca đúng được bao nhiêu... Những câu hỏi mà càng về sau này khi được tiếp xúc nhiều hơn với cuộc đời rộng lớn thì chúng lại càng trở nên đậm đặc.
Khi đến chợ Mai Sơn Trà chỉ có thằng Đức muốn vào còn những đứa khác thì không, lý do đàn ông vào trong chợ làm gì, trong ấy toàn rau quả, cá thịt chứ có gì lạ đâu. Thằng Đức thì khăng khăng nên vào cho biết, nhưng cả bọn tôi đều đọc ra ý nghĩ của nó, chắc chắn cu cậu muốn vào để ngắm thêm các chị em. Tôi đưa ra ý kiến đi uống cà phê, cả bọn vui sướng gật đầu. Tôi lại nói thêm từng đứa nên góp tiền đi chung chứ chẳng ai nhiều tiền để bao được cho cả bọn, mấy đứa kia cũng gật đầu không phản đối gì hết. Thằng Tạo đại đội Hai đưa ra ý kiến nên sang con đường phía hướng về căn cứ vùng Ba, nơi đấy yên tĩnh thích hợp với việc uống cà phê nghe nhạc hơn. Cả bọn chúng tôi kéo ngược trở lại con đường trên con đường lúc nãy vừa mới đi qua.
Đây là lần đầu tiên tôi uống cà phê trong đời, mà có lẽ trừ thằng Đức lông mi dài còn mấy đứa kia cũng đều vậy. Chiếc quán chúng tôi chọn là một quán nhỏ, có giàn hoa giấy với những cành lá xanh chắc khoẻ bò trên mái và những bông hoa đủ màu phủ quanh nom thật thích mắt. Quán này nằm hơi thụt vào bên trong không chen ra ngoài như các quán khác nên tạo ra một vẻ tĩnh lặng khá nên thơ. Chủ quán là một ông già, thằng Đức có vẻ thất vọng, nhưng bọn tôi thì không quan tâm lắm. Lơ ngơ trước mấy dãy bàn trống cuối cùng bọn tôi chọn một chiếc bàn nhỏ nơi sát cửa sổ. Ông già chủ quán thực ra cũng chưa già, mới chỉ khoảng trên năm mươi tuổi, nhưng cái kiểu ăn mặc phong trần khiến thoạt nhìn chúng tôi ngỡ như già lắm rồi. Ông lại gần, nhìn chúng tôi một lượt, rồi quyết định vào tôi mà hỏi:
- Mấy cậu uống gì, đen hay nâu?
Tôi ngơ ngác, không biết trả lời ra sao... Thằng Đức nói:
- Bác cho bọn con cà phê đen. Con uống không đường, còn mấy đứa này không biết sao!
Thấy nó kêu cà phê không đường chúng tôi cũng học theo.
Thằng Đức gọi thêm một gói thuốc và yêu cầu mở nhạc. Ông già lại hỏi:
- Các cậu nghe nhạc gì?
Tôi trả lời:
- Bác mở nhạc gì cũng được, nhưng mở nhỏ thôi!
Ông già thủng thẳng:
- Vậy các cậu nghe nhạc Trịnh Công Sơn nhé. Khách quán thường bảo bác mở Trịnh Công Sơn.
Ông nói tiếng Đà Nẵng, nhưng lại khá dễ nghe, chắc là vì quen giao tiếp với các chú lính như bọn tôi nên biết cách nói sao cho dễ nghe.
Tiếng nhạc nổi lên, mấy đứa tôi ngơ ngẩn, ôi sao mà hay tuyệt. Thật ra đấy chỉ là một chiếc Catset cũ có hai cửa băng với hai loa liền nhau. Nhưng với những đứa như bọn tôi chưa khi nào được đụng đến đồ điện tử thì chiếc Catset cùng nhạc phát từ loa như vậy quả là tuyệt trần ai. Tiếng ca sĩ Khánh Ly khàn khàn, nghe day dứt lạ lùng. Thằng Đức lúc này vẻ như rất sành điệu, một chân gác lên ghế, miệng ngậm điếu thuốc nhả khói mù mịt, mắt mơ màng, miệng lẩm nhẩm hát theo điệu nhạc. Tôi nhấp ly cà phê đầu tiên và suýt nữa sặc vì đắng. Mấy thằng kia cũng vậy. Mẹ sư cha, cà phê chi mà kỳ cục thế này.
Bỗng chúng tôi nghe tiếng cười khúc khích:
- Em chào mấy anh!
Bọn tôi nhất loạt ngoái cổ lại. Một cô gái trẻ. Rất trẻ. Hình như chỉ khoảng mười bảy tuổi. Cô ta vào đây làm chi? Chẳng lẽ uống cà phê ư?
Câu trả lời được giải đáp ngay tức thì. Khi ông già đi ra, cô gái nũng nịu:
- Chào ba!
- Ờ, chào con, con bữa nay đi học về sớm thế à?
- Vâng, học thêm Chủ Nhật mà ba!
Ra cô gái này là con của ông già chủ quán.
Thái độ của thằng Đức thay đổi hẳn, không còn cái vẻ uể oải thị thành nữa, mắt nó long lanh phát ra những tia nhìn có đuôi. Còn mấy đứa kia cũng cũng không dám ý kiến gì về việc cà phê quá đắng, lộ ra để cô ta cười cũng xấu hổ.
Cô gái vào trong nhà, lát sau đi ra, thay bằng một bộ quần áo lửng. Bọn tôi trố mắt, nên nhớ là thời kỳ ấy đồ lửng chưa phổ biến, và nhất là con gái quê ngoài Bắc lúc ấy thường ăn mặc kín mít. Bộ đồ lửng làm lộ cánh tay thon dài và bắp chân trắng trẻo của cô gái. Mấy đứa tôi lén nhìn và mỗi đứa có một suy nghĩ riêng. Tôi thì nghĩ rằng con gái vùng biển cũng đâu có đen. Cô gái này dáng vóc thanh mảnh, nét mặt tươi tắn, có nốt ruồi dưới cằm khá là duyên.
Mấy đứa bạn tôi thốt nhiên không biết nói gì với nhau nữa. Thằng Thắng và thằng Tạo nâng ly cà phê lên định uống nhưng chợt nhớ cà phê rất đắng nên bối rối ngừng lại. Chỉ riêng thằng Đức là có vẻ thích thú với những giây phút như thế này, vuốt tay sửa lại mái tóc, rồi nó gọi:
- Em gì gì ơi, cho bọn anh hỏi tý chút này!
- Dạ, bọn anh đợi em một lát! Cô gái nhẹ nhàng trả lời, lúi húi bận làm cái gì đó ở sau quầy. Lát sau đi lại chỗ bọn tôi.
Thằng Đức liền trổ tài làm quen. Nó kéo ghế mời cô gái ngồi, hỏi tên cô và hỏi cô có uống gì không để nó gọi ông già chủ quán ra phục vụ khiến không những cô ta mà cả chính chúng tôi cũng đều muốn phì cười. Sau một lát thì chúng tôi cũng biết cô gái tên là Quyên, đang học lớp 12, dự định thi vào một trường đại học ngay tại Đà Nẵng. Thằng Đức cứ xoắn xuýt lấy cô gái, một thái độ mà không những chúng tôi cảm thấy có gì đó hơi mơ hồ khó chịu mà có lẽ chính cô gái cũng thấy như vậy. Nhưng cô ta kín đáo không để lộ ra. Sau thì nhìn mấy ly cà phê mãi vẫn đầy nguyên, tôi nói với cô:
- Quyên này, có cách gì làm cà phê đỡ đắng không nhỉ?
Cô gái ngạc nhiên nhìn tôi, mấy đứa bạn cũng hơi tỏ ra ngượng vì sự quê mùa của mình, nhưng tôi vẫn tiếp tục:
- Anh uống cà phê lần đầu, không quen, có lẽ em cho anh một ít đường, à cho cả mấy bạn của anh nữa!
Một trong những ưu điểm lớn nhất của tôi là phong thái đường hoàng. Có lẽ nhìn vào đó mà người khác cảm thấy tin tưởng ở nơi tôi.
Cô gái tên Quyên cũng vậy, hơi tròn mắt nhìn tôi, nhưng sau đấy thấy mấy đứa bạn tôi bật cười ngầm tán đồng lời lẽ của tôi, cô liền bật cười theo:
- Vâng, bọn anh để em lấy đường ra nha!
Không khí bỗng trở nên thay đổi hẳn. Thật tình hơn. Thằng Đức lông mi dài không giở bài tán tỉnh quá xoắn xít ra nữa, bớt đi các cử chỉ điệu bộ và các lời nói theo như sách dạy tán gái. Còn mấy thằng kia cũng đã mở miệng nói chuyện với cô khá là cởi mở. Hoá ra tôi thấy mấy thằng bạn của mình nói năng trước các em gái cũng không đến nỗi nào, ngay như thằng Bình là thằng ít nói nhất trong bọn cũng nói ra nhiều câu rất có duyên.
Qua cô gái chúng tôi biết nhiều điều hơn về Sơn Trà. Biết về cuộc sống, nghề nghiệp, sự giàu nghèo và tập tục của người dân nơi đây. Biết về biển, về mùa nắng, mùa mưa, và mùa bão giông. Biết về những chàng lính trẻ của vùng III Hải Quân thường tìm ra vùng dân cư Sơn Trà đây để giải trí chứ ở trong kia toàn cảnh lính tráng với nhau buồn lắm. Nói đến đoạn này cô gái cười khúc khích. Được dịp thằng Đức lại ỡm ờ hỏi cô, tại sao cảnh lính lại buồn, cô có hiểu và chia sẻ được nỗi buồn của người lính hay không, toàn là giọng điệu tán gái rẻ tiền.
Khi đang vui vẻ, bất chợt chúng tôi giật mình, có bốn sĩ quan đã đi vào quán lúc nào không hay. Họ ngồi vào chiếc bàn gần cửa ra vào và chưa gọi đồ uống gì cả. Một sĩ quan đeo quân hàm trung uý mặt đỏ rất lạ lừng lững đi lại gần chúng tôi quát hỏi:
- Mấy anh kia, trong đơn vị huấn luyện tân binh phải không, các anh ở đại đội nào?
Thật ra thì nhìn chúng tôi ai cũng biết ngay là những cậu lính mới đang trong ba tháng huấn luyện, bởi vì bộ đồ quần áo huấn luyện không lẫn vào đâu được.
Sĩ quan trung uý này lại quát to:
- Ai cho phép các anh la cà ở đây? Hả?
Điệu bộ của trung uý thật đáng sợ... Nhưng chúng tôi nhận thấy tay chân của trung uý có vẻ xiêu vẹo. Thậm chí chính trung uý cố tình phô ra các động tác xiêu vẹo này thì đúng hơn. Thế cho nên lại càng đáng sợ. Người run rẩy nghiêng nghiêng, một tay chống nạnh, một tay huơ huơ với những ngón tay khoằm khoằm và cặp mắt vằn những tia máu lườm lườm gí sát nhìn từng đứa chúng tôi. Chết cha, chắc là trung uý đã ngà ngà say. Chưa biết trả lời sao với một một thượng cấp đã ngà ngà say thì một thiếu uý khác trong bốn sĩ quan kia túm lấy tay trung uý, cười nói:
- Thôi đi, đừng khủng bố tinh thần mấy chàng trai trẻ này nữa, bị nhốt trong doanh trại huấn luyện cũng khổ cực lắm rồi!
Trung uý ngà ngà bị kéo lại ngồi vào bàn của mình, nhưng anh ta vẫn quay lại nhìn chúng tôi gườm gườm. Đột nhiên, anh ta bật cười ha hả và nháy mắt với bọn tôi. Chúng tôi kinh ngạc. Trung uý mặt đỏ thì đảo lên cặp mắt thành ra toàn là lòng trắng rất kỳ dị và nói to rằng, nếu mai mốt được xuống tàu thì nếu đứa nào thích đùa hãy xin về tàu HQ811, anh ta đang làm thuyền phó ở đấy, và động tác đầu tiên sẽ là tụt sạch quần áo rồi buộc tay buộc chân từng đứa lính mới treo lên sợi dây xích neo để thử sóng... Chúng tôi há hốc miệng không hiểu ra làm sao cả.
Thấy rằng nên về là hơn, chúng tôi đứng dậy tính tiền và làm động tác chào mấy sĩ quan, lại là trung uý mặt đỏ ấy nháy mắt rất quái quỷ với chúng tôi còn mấy người kia cười tủm tỉm. Quyên tiễn chúng tôi ra tận cửa quán, cười bảo rằng trung uý ấy thực ra hiền và rất vui tính, anh ta giả vờ say đùa đấy thôi, và cô ngọt ngào mời chúng tôi hãy thường xuyên ghé qua quán của cô chuyện trò cho vui.
Trên đường về, mấy thằng kia thì bàn tán về kiểu đùa kỳ cục của trung uý mặt đỏ. Còn thằng Đức thì khẳng định rằng em Quyên đã cảm nó.
Suốt cả một tuần tập luyện vất vả, được ngày Chủ nhật hôm nay rảnh rỗi, ngủ trưa dậy tôi lôi mấy tờ giấy ra viết thư cho gia đình và mấy đứa bạn.
Quả thực tôi nhớ nhà và nhớ mấy đứa bạn của mình vô kể. Nhớ. Nhớ day dứt. Nhớ cồn cào... Nỗi nhớ như con quái thú không được cho ăn uống cứ quẫy đạp trong tim.
Người xưa có câu:
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông vời quê mẹ ruột đau chín chiều!
Câu thơ thật bi ai day dứt... Mà tôi thì cũng thành thói quen cứ chiều chiều lại thơ thẩn đứng ngó lên ngọn Sơn Trà mà cảm thấy nhớ nhà nhớ quê nhớ bạn bè khôn tả. Dãy núi Sơn Trà gợi hình bóng của những dãy núi đồi quê hương tôi. Cũng thật kỳ lạ, mây cứ phủ từ ngang lưng chừng núi, mờ trắng và lãng đãng càng tô vẽ cho núi vẻ huyền hoặc trầm tư. Ngàn vạn năm rồi núi vẫn nằm đó bình thản mặc cho muôn sự thay đổi của cõi thế nhân, ngày ngày gió cứ đi qua dừng lại và kể lể cho núi những gì gió thấy, đêm đêm trăng sao thả xuống những ánh sáng hắt chiếu cõi đời, rồi thì năm này tháng khác mưa cứ kiên trì khóc lóc dội từng hạt nước mắt lên trên đầu núi, vậy mà núi vẫn nằm trơ trơ lặng lẽ. Một sự trầm tư tuyệt đối. Chẳng ai đoán biết được núi nghĩ ngợi gì.
Câu ca dao cổ "Chiều chiều mây phủ Sơn Trà. Lòng ta nhớ bạn nước mắt và lộn cơm!" và vẻ ưu tư đặc biệt của dãy Sơn Trà khiến tôi nảy lòng hiếu kỳ muốn trèo lên cho biết.
Thư từ mấy chữ đã viết xong, không rủ thêm đứa bạn nào, một mình tôi hướng tới dãy Sơn Trà đằng sau lưng doanh trại.
Dãy núi nằm cũng gần, chỉ cách doanh trại của chừng bảy tám trăm mét. Khác với phía đằng trước được canh gác rất nghiêm ngặt thì ở phía đằng sau không canh giữ gì cả. Tôi cứ vậy đi thẳng.
Nắng lấp loá trên đầu, những bông hoa cỏ li ti trắng xoá dưới chân, gió thổi nhè nhẹ bên tai, trời đất bao la, tất cả làm cho con người thốt nhiên phiêu diêu thoát tục. Thoáng chốc đã đến dưới chân của dãy núi, không băn khoăn nghĩ ngợi gì tôi trèo lên. Trên núi không có cây to, tôi ngậm ngùi, cũng giống như các ngọn núi quê tôi, cây to đều đã bị đốn chặt từ lâu lắm rồi. Chỉ là những lùm cây nhỏ, mọc lúp xúp, bọn cây này không có tên tuổi và sống thật dẻo dai. Lên cao hơn thì những lùm cây cũng có cao hơn tý chút, chúng rậm rịt cành lá ngang đầu. Có những lối đi mòn nhỏ và dấu dao chém trên những thân cây. Như vậy là người ta vẫn lên đây kiếm củi. Rồi thì tôi ngạc nhiên thấy có một vài khoảng trống nho nhỏ được phát quang sạch sẽ, đất đã được xới lên đánh luống thô kệch, ra là cũng có người lên đây để trồng trọt, nhưng trên núi như thế này thì liệu trồng được gì chứ?
Nhưng điều mà tôi ngạc nhiên nhất là trên sườn núi rải rác có những tảng đá tựa như là đá cuội khổng lồ. Những hòn đá cuội này to cả chục người có thể thoải mái ngồi trên được. Mưa không thể xói mòn đá đến như thế, những hòn đá cuội khổng lồ này chắc chắn phải là chứng tích cho những cơn sóng biển thời xa xưa đã chảy qua bào mòn chúng. Như vậy rất có thể ngàn vạn năm trước dãy Sơn Trà này nằm chìm ngập dưới đại dương, mà như thế thì cả cái thành phố Đà Nẵng đông đúc phía bên kia cũng đã từng ở sâu dưới lòng đại dương... Chỉ mới trèo được lưng chừng núi tôi nhận thấy rằng nếu tiếp tục trèo lên nữa thì muộn mất lát nữa sẽ không thể kịp về trước bữa cơm chiều. Chọn một tảng đá tương đối bằng phẳng tôi trèo lên phóng tầm mắt nhìn về thành phố Đà Nẵng, nhưng cũng hầu như chẳng trông thấy được gì hết ngoài những vệt mờ mờ. Nhìn về các hướng khác thì thấy núi non điệp trùng. Hình như rằng núi Sơn Trà không chỉ một ngọn mà là nhiều dãy núi nối tiếp nhau. Ánh nắng chiều đã loang loáng, những bóng cây nghiêng ngiêng, một vài tiếng chim nấp đâu đó phát ra, khung cảnh đột ngột lại khiến đánh thức nỗi nhớ nhà trong tôi bùng dậy mãnh liệt...
...Cái ngày cách đây hai năm chị tôi đi lấy chồng, gương mặt cha mẹ tôi làm tôi sửng sốt, long lanh một thứ ánh sáng gì đó mà tôi cứ nhớ mãi. Nhất là mẹ tôi. Dì tôi ở làng bên sang đưa cho mẹ tôi mượn bộ đồ quần áo vải hoa mới và chải đầu vấn tóc cho mẹ tôi. Nom mẹ tôi khác hẳn. Trẻ trung hẳn ra. Bố tôi thì vẫn bộ đồ ông ưa thích. Không mới, thậm chí có vài chỗ đã hơi sờn nhưng bộ đồ ấy luôn sạch sẽ. Mặc vào nom ông có vẻ gì đó khoẻ mạnh. Chiếc carvat dì tôi thắt đeo cho bố tôi khiến ông hơi ngượng nghịu. Cả đời không mấy khi ông đeo, vì thật đơn giản, quanh năm làm lụng trên ruộng đồng thì đeo carvat làm gì. Cả bố và mẹ tôi đều tỏ ra ngượng nghịu vì những thứ đồ không phải của mình. Nhưng vẻ mặt với những nét sáng long lanh thì rõ ràng là cái từ trong tận trái tim phát ra chứ không vay mượn từ đâu cả. Bừng lên một niềm hạnh phúc rất rạng rỡ. Chị tôi lấy chồng là một người cùng làng, rất khoẻ mạnh, hiền lành và chịu khó, được một chàng rể như vậy bố mẹ tôi không ao ước gì hơn.
Chị tôi cũng là cô gái khá xinh trong làng, cũng có nhiều anh đến cưa cẩm, trai trong làng có và trai các làng khác đến cũng có. Thậm chí con ông chủ tịch huyện cũng thường xuống tán chị, nhưng chị luôn tìm cách tránh mặt vì nghe nói anh này rất ăn chơi đàng điếm. Chị tôi rất thương hai đứa em, mà nhất là thằng em trai tôi, hồi nó còn nhỏ chị là người suốt ngày bồng bế thành ra trong nhà thằng em tôi chỉ chịu khi mẹ cho bú còn thì lúc nào cũng nằng nặc bám theo chị. Mấy tháng đầu khi chị đi lấy chồng thằng em trai tôi đêm nào cũng đi ra đi vào thắc mắc với cả nhà sao chị không về để ngủ kể chuyện cho nó.
Thằng em tôi giờ đã học lớp 4, trước bữa tôi ra đi, nhà tôi có mua một chú bê con. Tôi giao trách nhiệm cho nó trong vòng mấy năm anh trai đi lính nó ở nhà phải chăm cho được con bê ấy thành con bò đực lực lưỡng, cu cậu nhận lời với vẻ rất nghiêm túc. Chẳng biết bây giờ con bê mà nó chăn dắt ra sao.
Nhà tôi nằm ở cuối xóm, cuối làng. Từ đường chính của làng phải leo vòng qua một lối đi nhỏ nữa mới tới được nhà của tôi. Thành ra nếu đứng ở phía dưới những ruộng làng nhìn lên thì thấy nhà tôi nằm cheo leo ở giữa ngọn đồi cao. Tại sao ở quê tôi lại thường làm nhà trên đồi cao. Tôi hỏi những người cao tuổi trong làng và được trả lời, trước kia làng nằm ở vùng đất bằng nhưng rồi có chính sách của nhà nước dùng đất ấy để tăng gia sản xuất nên dời dân lên chỗ đất cao, khiến mọi thứ trở nên đảo lộn rất vất vả bất tiện, thật là một quyết định kỳ khôi hết chỗ nói.
Tôi nghe mấy cụ cao tuổi thở dài, con đê làng đã được đắp cách đây mấy trăm năm và nó ngăn chặn hầu hết những cơn lụt lội. Đất làng cũ nằm ở địa thế rất tốt, thỉnh thoảng gặp những năm lụt to nước lên cùng lắm cũng chỉ ngập đến đầu gối, còn thì quanh năm khô ráo mát mẻ thuận hoà với thiên nhiên. Chính sách nhà nước nói rằng di dân lên chỗ đất cao để khỏi bị lụt lội đúng ở nơi nào thì chẳng biết chứ ở quê tôi thì không đúng tý nào.
Ở sau nhà tôi sườn đồi kéo lên thoai thoải. Cha mẹ tôi trồng chè xanh um. Những gốc chè chắc khoẻ thấp lè tè và có sức sống thật bền bỉ. Đan xen với những cây chè là những gốc cam, bưởi, mít. Nhưng bọn này lại còi cọc với thân và cành khô khẳng quắt queo. Hình như trồng trên đồi trọc cao này không phải là nơi thích hợp cho chúng. Mé phía phải sau nhà là một khoảng đất trống không trồng gì cả nhưng từ lúc nhỏ năm nào tôi cũng thấy bố tôi ra đấy đào bới. Tôi hỏi thì mẹ tôi mỉm cười là bố đang đào tìm kho báu. Trí tưỏng tượng trẻ thơ khiến tôi say sưa tô vẽ kho báu mà bố đang tìm.
Rồi lớn lên chút nữa khi biết cầm cuốc cầm thuổng tôi cũng ra đào với bố. Thường thì những bữa nào trời sau mưa, đất ngấm nước mềm ra, bố con tôi lại cố đào. Đất đồi cứng không thể nói hết, pha đầy đá trong ấy, mỗi ngày bố con tôi cũng chỉ nạy ra được tý chút đất đá mà thôi. Rồi thì tôi cũng biết chẳng phải bố đào tìm kho báu gì cả mà là cố san đất đồi thành ra một nền đất bằng phẳng để sau này tôi lấy vợ có chỗ dựng nhà. Tôi hỏi mẹ đất nhà ngày trước cũng vất vả đào thế này ư, mẹ tôi trả lời, ngày trước nhờ có mìn và bộ đội.
Trước kia khi quyết định di dân lên chỗ cao này, ai nấy đều ngao ngán làm sao mà làm nhà cho nổi, thì người ta có biện pháp là chôn rất nhiều mìn nổ các quả đồi, khi mìn nổ vạt ra những khoảng đất trống thì hàng mấy trăm bộ đội chung sức với dân san ủi ra thành nền để có thể bốc nhà ở làng cũ lên dựng trên chỗ mới. Nhờ vậy mà sau nửa năm toàn bộ làng đã chuyển được lên đây. Nhưng bây giờ thì chẳng thể nhờ mìn và bộ đội được nữa rồi. Mìn thì người ta cấm tiệt, lấy đâu ra nữa mà phá đồi, còn bộ đội giúp dân thì chỉ còn là chuyện trong sách mà thôi. Vậy cho nên, khi sinh thêm đứa em tôi, thấy rằng trong nhà hai đứa con trai sau này thể nào cũng phải có thêm một mái nhà cho một đứa ở riêng bố mẹ tôi quyết định dùng sức của chính mình mà khoét đồi. Mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm khoét một tý, cứ dần dần mà làm như thể là mài thanh sắt to cho đến ngày thành chiếc kim vậy.
Đã hơn mười năm, bố rồi đến tôi cùng chung sức vào, nhưng mảnh đất đồi khoét ra hãy chưa đủ rộng. Nếu chỉ làm nhà thì đã đủ nhưng nhà nông thì phải có chỗ làm sân, có chỗ làm chuồng cho gà lợn bò trâu, thế cho nên khi tôi đi lính rồi bố tôi và thằng em ở nhà sẽ cố khoét thêm nữa. Hơn mười năm, bố rồi con, thay nhau đổ sức ra để làm một cái nền nhà trống không, thật là chuyện quá hiện đại mà ông bà xưa có thi nhau ngủ ngày cũng không bao giờ mơ thấy.
Không chỉ nhà tôi mà trong làng cũng nhiều nhà phải tự tính chuyện khoét đồi sau này có chỗ làm nhà cho con cái. Đã nhiều nhà xin chuyển xuống chỗ thấp hơn nhưng hợp tác xã cấm triệt để. Muốn làm nhà ở đâu thì phải xin hợp tác xã, và hợp tác xã căn cứ vào các điều luật đất đai dài thòng rối rắm khó hiểu của nhà nước ban xuống mà phân đất đai. Vài ba người liều lĩnh tìm cách dựng nhà trên nền làng cũ của mình thì bị hợp tác xã cho dân quân xuống dỡ phá sạch. Thế nhưng dựng sơ sài như cái lều canh ruộng thì hợp tác xã lại cho phép, nhưng có điều những người này thường là vợ chồng mới cưới, muốn tìm một mái nhà để hưởng hạnh phúc, ở trong một mái lều không phên không giậu che đậy gì thì lẽ nào mà chịu được, nên rốt cuộc đành bỏ. Thật ra để khoét đồi làm nền nhà thì có thể thuê người hoặc thuê máy xúc. Nhưng chuyện thuê máy xúc chỉ là nghe nói đến, cả đời dân làng tôi nhiều người chẳng biết mặt mũi cái máy xúc ra làm sao, nói chi đến chuyện thuê nó. Còn thuê người san nền thì cũng cay đắng trăm bề. Như nhà ông Khiêm cách nhà tôi mấy nóc nhà có anh con trai lấy vợ, ông Khiêm thuê tốp thợ mười người khoét đồi, hơn nửa năm đào khoét tiền công tiền cơm nuôi thợ tốn kém vô kể. Làm xong nền thì chẳng có tiền làm nhà đành dựng tạm thành túp lều chênh vênh cho anh con trai và vợ mới cưới ở tạm. Cho nên cũng nhiều nhà áp dụng phương sách "có công mài sắt có ngày nên kim" như nhà tôi vậy.
Mấy cụ cao tuổi trong làng chép miệng với nhau cái sự oái oăm của việc di dân lên đất cao. Mọi cái trở nên đảo lộn hoàn toàn.
Theo như các cụ thì việc ngày xưa chọn đất để lập làng là việc tính toán rất có khoa học chứ đâu phải bạ đâu lập đấy. Vốn người Việt là một dân tộc quen sống với đồng bằng thế cho nên khi lấn dần lên vùng núi họ phải chọn lựa rất kỹ đất dựng nhà dựng làng để phù hợp với tập tục lối sống của mình.
Theo như lời các cụ, đất dựng làng trước tiên phải nằm ở vị trí sao cho thuận tiện với việc đi lại, điều này có quan hệ sinh tử với làng. Vì một ngôi làng quá biệt lập thì mọi cái đều vô cùng trở ngại, từ việc trao đổi hàng hoá, giao lưu sinh hoạt, cho đến những việc hỗ trợ lẫn nhau khi làng này hay làng nọ xảy ra những sự kiện gì đấy. Đây là chuyện quan trọng không thể nói chơi được, chẳng hạn như trong một làng có người ốm mà ở làng bên có thầy thuốc, nếu hai làng quá cách trở thì bệnh nhân sẽ chết trước khi mời được thầy thuốc sang. Hoặc như ngày xưa hay có nạn trộm cướp, thì sẽ đỡ hơn khi nếu làng này bị cướp phá còn có làng bên nhanh chóng sang ứng cứu. Chính vậy các làng người Việt đều có xu hướng quần tụ lẫn nhau. Việc thứ hai là đất dựng làng phải phù hợp với luật phong thuỷ, chuyện này không phải là mê tín mà đúng ra là kinh nghiệm thực tiễn của ngàn đời, và luật xem phong thuỷ của người Việt cũng khác với người Tàu. Phong thuỷ ở đây là xem thế đất dựng làng phải nằm ở nơi khô ráo mát mẻ nhiều cây cối thuận hoà với thiên nhiên, gần sông gần nước tiện cho sinh hoạt, tránh nơi lam sơn chướng khí gây bệnh tật, tránh nơi lũ lụt gây dâng ngập, những điều cốt yếu là như vậy. Người xưa giỏi về xem phong thuỷ có thể xem màu đất là biết ngay chỗ đó làm nhà có tốt hay không. Thoạt nghe thì tưởng cao xa huyền bí nhưng thực ra là kinh nghiệm được truyền lại. Chẳng hạn nếu màu đất trắng bệch thì đó là đất cằn, làm nhà trên đó sẽ khó mà trồng trọt cây cối vườn tược cũng như khó mà chăn nuôi gì được. Còn nếu màu đất thâm thẫm đen và hơi xốp thì rất có khả năng bên dưới có mạch nước ngầm, trồng trọt và chăn nuôi rất tốt, thậm chí người ở trên ấy hấp thụ khí nước mát mẻ bên dưới bốc lên có thể khiến da dẻ trắng trẻo mịn màng, tuy nhiên lại phải ngừa bệnh tật nảy sinh vì đất ẩm chung quanh có nhiều lùm bụi ruồi muỗi, nhất là phải phòng các bệnh về khớp, nên nếu ở trên đất này thì luôn nhớ đừng đi chân trần và giường nằm thì hơi kê cao lên một tý. Đại loại những kinh nghiệm như thế được truyền lại rất nhiều. Để chọn thế đất dựng làng và dựng nhà người xưa phải xem xét rất tỷ mỉ.
Thế mà bây giờ làng tôi lại nằm rải ra trên những ngọn đồi cằn cỗi, thật chẳng biết là nó theo cái khoa học nào.
Chuyện sinh hoạt bị đảo lộn hoàn toàn.
Ngay đến chuyện làm sao cho có nước ăn uống tắm rửa cũng trở thành nỗi ám ảnh. Trong làng chẳng nhà nào đào được giếng. Phải lấy nước từ một cái giếng chung ở phía dưới làng. Ngay từ khi biết lao động chân tay mẹ tôi đã giao cho tôi cái nhiệm vụ là hàng ngày đi xách nước dưới giếng làng về đổ đầy vào cái lu lớn. Đi lấy nước thật là việc cực nhọc hết sức, bọn con nít chúng tôi đứa nào cũng ngán cái vụ này. Chăn trâu chứ thực ra sướng hơn nhiều, ngồi trên lưng trâu hát ca mà ra bãi, ra bãi rồi thì thả trâu đó là tha hồ đùa nghịch, còn gánh nước oằn lưng thì chẳng đứa nào hát ca cho nổi, và đùa nghịch lại càng không dám vì chỉ cần đi không thẳng người nước sóng chảy ra là công cốc.
Nhiều người già cũng chép miệng sợ bọn con nít gánh nước sớm xương sẽ sụm xuống không cao người lên được. Chính vì vậy mà mẹ tôi giấu tiệt thùng to bắt tôi phải lấy nước bằng thùng nhỏ. Để múc đầy cái lu tôi phải đi đến năm sáu chuyến, tính ra phải đến hàng tiếng đồng hồ, vì nhà tôi ở phía cuối làng nên xa giếng nhất. Những đứa ở đầu làng phía dưới xem ra là đỡ cực nhọc hơn trong cái vụ này... Cũng may về sau do ở một số vùng khác cũng bị đẩy lên sống trên đồi như quê tôi đã tìm cách đào được giếng nên rút ra được kinh nghiệm, thành ra mau chóng tạo nên một số người chuyên đi đào giếng thuê, họ đến làng tôi và các nhà trong làng thi nhau cắn răng thuê đào bằng được mỗi nhà một cái giếng cho riêng mình.
Sự đi lại thì phải nói là cực kỳ khó khăn, ngay việc đi lại giữa các nhà cùng làng với nhau quanh co trên đồi này tới đồi khác cũng đã khó chứ chưa nói là từ làng này sang làng nọ. Thuở đó xe đạp khá là phổ biến, mỗi nhà đều có một chiếc, thế nhưng trong làng không đi bằng xe đạp được mà phải dắt nó. Vì đường làng quanh co xiên xẹo đầy ổ gà to tướng và đặc biệt rất dốc, những cái dốc này khiến nhiều người đã ngã bổ chửng. Người trong làng đã ngán mà hình như chính bọn trâu bò cũng ngán. Những khi chúng kéo vật hơi hơi nặng đến các đoạn dốc là y như đứng lại ỳ ra không chịu cất bước. Lấy roi nhỏ mà vụt nhẹ thì chúng không nhúc nhích động đậy, chỉ khi lấy roi to vụt cật lực chúng mới chịu tức tưởi trèo lên.
Vì sự đi lại khó khăn mà làng của tôi đột nhiên bị đẩy vào tình trạng cô thế biệt lập. Mà chẳng riêng gì làng tôi, các làng khác đều bị đẩy vào tình cảnh tương tự. Giao lưu và trao đổi với các làng rất khó. Ngay như cái chuyện trai làng này muốn đến tán tỉnh gái làng khác cũng trở thành chuyện rất khó. Cách nhau thì chỉ dăm ba cây số nhưng xét cho kỹ chẳng khác chi là cách nhau năm núi bảy đèo. Mà đúng là vậy, làng của chàng trai vòng vèo nằm trên các quả đồi, làng của cô gái cũng vòng vèo nằm trên các quả đồi, chỉ có đoạn nối hai làng là nằm giữa đất bằng đồng ruộng. Buổi ngày đi đã khó, buổi đêm lại càng gian lao. Thành ra các chàng trai cô gái làng này làng nọ muốn đến được với nhau thật là kỳ công vô cùng.
Mà ngay đến chuyện quan hệ đến tính mạng của con người cũng thật nhiêu khê. Tôi nhớ trong làng nhà nào cũng sắm sẵn một chiếc võng buộc trên một cây tre rất chắc, là dùng để gánh người trong trường hợp cấp cứu khẩn cấp. Bệnh xá xã thì thật ra không xa làng lắm, chỉ cách hai cây số theo đường chim bay. Lỡ có ai đau đột ngột cần đem ra bệnh xá thì cần phải dìu bệnh nhân trên võng này rồi nhờ thanh niên khoẻ mạnh gánh tới bệnh xá hộ. Chuyện đau ốm thì nào ai nói trước được, thế nên cứ có sẵn võng trong nhà để đề phòng là hơn. Vậy mà cũng đã có vài người chết giữa đường không kịp đến được bệnh xá.
Chuyện kinh tế của làng lại càng buồn... Nằm ở trên những sườn đồi cằn cỗi thành ra chẳng nhà nào trồng trọt chăn nuôi gì được cho ra hồn. Vườn đồi thì chỉ trồng được chè và sắn bán chẳng ai mua. Vật nuôi thì nheo nhóc, lợn gà trâu bò chẳng biết lấy gì cho chúng ăn. Còn ruộng đồng của hợp tác thì là chuyện trời ơi đất hỡi chẳng ai trông mong gì vào đó nổi. Nhà nông cậy nhiều ở đồng ruộng, mảnh vườn và sự chăn nuôi của chính mình, nếu không có những thứ đó thì chỉ có nước chết đói, ngày trước ở đất cũ làng tôi nhờ vườn tược chăn nuôi tốt cũng như dễ bề đi lại trao đổi với các làng khác mà trù phú nhưng từ khi chuyển về đây thì biến thành một làng nghèo xơ xác.
Nhớ lại thời con nít bọn tôi thật cơ khổ, đói, đói vàng mắt, khi nào cũng mong có cái gì đó để đút vào miệng. Một buổi đi học, một buổi đi chăn trâu chăn bò. Ra ngoài triền đê chúng tôi thả rông trâu bò đấy mặc kệ cha chúng muốn tìm được cái gì ăn thì ăn còn bọn tôi cũng lo bàn với nhau tìm cho được những gì đút vào miệng. Thường thì đi ăn trộm ngô của hợp tác xã về nướng ăn, nhiều bữa bị rệt đuổi chạy bán sống bán chết. Ruộng ngô được bảo vệ rất kỹ thế nhưng khi hợp tác xã thu hoạch ngô ấy đem vào kho thì lại ủ cho mốc cả lên, tha hồ chuột bọ trong kho phá phách.
Vì xưa kia ở đất cũ, địa thế tạo cho làng nhiều điều kiện nên làng tôi có tinh thần rất hiếu học. Khi đẩy lên trên này thì tinh thần hiếu học ấy vẫn còn nhưng cứ lụi tàn dần. Bọn trẻ chúng tôi đi học thật cơ cực.
Cả hai xã, xã tôi và xã bên, chỉ có một trường tiểu học cách làng chúng tôi sáu cây số. Sớm tinh sương trời đang mờ mờ tối chúng tôi đã réo gọi nhau đi bộ đến trường, vậy mà nhiều bữa vẫn chậm lớp. Nhất là đi học vào mùa đông lạnh giá hoặc vào lúc mưa gió thì khổ không sao nói hết. Trường lớp thì thiếu thốn trăm bề, không đủ giáo viên, không đủ phòng học, nên có khi một lớp mà có đến hàng trăm học sinh chen chúc nhau. Bọn trẻ chán chuyện học thì một mà các bậc cha mẹ chán chuyện học thì mười. Vì con nít vô tư cắm đầu vào học chẳng phải nghĩ suy gì, chứ các bậc cha mẹ thì phải nghĩ ngợi sâu xa chuyện học sẽ đi đến đâu, và rõ rằng nó chẳng đi đâu đến đâu cả. Thời buổi mơ hồ huyễn hoặc thì học cho lắm để làm gì. Thế cho nên cốt sao cho con mình học để biết đọc biết viết biết cộng trừ nhân chia rồi sau đó để cho chúng về nhà bươn chải với cha mẹ mà cầm cự cuộc sống. Nhưng cũng nhiều gia đình ý thức rằng xã hội rồi sẽ đổi thay, con người không học không thể theo kịp thời đại, cho nên bằng mọi giá nhịn ăn nhịn mặc nhất quyết cho con cái học cho hết các bậc phổ thông.
Mấy đứa bạn tôi, thằng Dũng, thằng Hưng, thằng Duy, thằng Tùng, con Lan Anh, con Hằng, con Nhung, bao nhiêu năm cắp cặp đi học cùng nhau đeo đuổi đến hết lớp 12 thì phải ngừng lại. Muốn học nữa cũng đành chịu. Cha mẹ không tài nào kham nổi.
Giờ đây tôi thì đang phận lính, còn mấy đứa bạn này thì đang ra sao...
...Ôi, xóm làng, quê hương, đất nước!
Càng lớn lên, với tầm mắt và suy nghĩ được trải rộng thêm ra, tôi càng nhức nhối với bao nỗi niềm. Rồi đến lúc cũng chẳng cần buổi chiều chiều ra đứng ngõ sau, cũng chẳng cần tìm đến dãy Sơn Trà ưu tư mây phủ, chỉ cần ngay những thứ hằng ngày hằng giờ hằng phút giây đập vào mắt cũng đủ thấy chín chiều ruột đau cho đất mẹ.