Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Lính Thời Bình (6) |
Những thiên anh hùng ca về người lính thời chiến chinh được mô tả rất nhiều và thường gây được xúc động sâu sắc lòng người. Thế còn cuộc đời những người lính khi thời bình ra sao? Cuốn sách này sẽ kể cho bạn nghe chơi...
Tên nhân vật trong câu chuyện không phải là thật.
Một số chi tiết sự kiện được sửa đổi
Và trong câu chuyện dài này cũng có rất nhiều đoạn được hư cấu thêm thì tất cả chúng cũng không đi ra ngoài sự thật bao nhiêu.
Câu chuyện này dài, rất dài, có thể bị cho rằng nhiều trang mô tả những điều quá vụn vặt. Nhưng nếu không mô tả chúng thì cũng chẳng có mấy điều gì nữa để mà kể. Than ôi, có lẽ phải nhờ rất nhiều đến những chi tiết tầm thường vụn vặt mới có thể làm nổi được hình ảnh của người lính trong thời bình, hình ảnh mà rất ít người chịu bớt chút thời gian để ngẫm suy.
Nguyễn Ngọc Nam Phương - Lính Thời Bìnb (chương 1)
Nguyễn Ngọc Nam Phương - Lính Thời Bình (chương 2)
Nguyễn Ngọc Nam Phương - Lính Thời Bình (chương 3)
Nguyễn Ngọc Nam Phương - Lính Thời Bình (chương 4)
Nguyễn Ngọc Nam Phương - Lính Thời Bình (chương 5)
CHƯƠNG 6
Sinh hoạt chung
Sáng thứ hai chúng tôi chào cờ.
Trước tiên là tập trung trước nhà đại đội. Trong vòng vài phút ngắn ngủi nhưng các A trưởng đã nhanh chóng phát hiện ra trong đại đội có ba đứa để móng tay dài, một đứa tà áo cuộn gấp kẹt mắc vào nơi thắt lưng và một đứa nữa bị đứt cúc áo. Lập tức chúng được nhận hình phạt quét dọn nhà hố xí. Trong mấy đứa đó có một đứa thuộc tiểu đội tôi, là thằng Dũng to, khuôn mặt đen đúa chất phác của thằng này tỏ một thái độ kinh ngạc không thể tin được rằng móng tay của nó như vậy mà lại bị coi là dài. Tôi đứng gần nó nên thấy rõ khi hạ sĩ Quang bắt cả tiểu đội giơ bàn tay ra để kiểm tra, thì các móng tay của thằng Dũng to cũng đều cắt kỹ như các đứa khác, nhưng hình như riêng ngón tay út móng có dài ra hơn một tý ti thì phải.
Đại đội trường Thường và các trung đội trưởng đứng riêng ở một góc yên lặng quan sát vẻ mặt của từng đứa.
Sau khi các A trưởng lên báo cáo đã kiểm tra xong đại đội trưởng Thường và các trung đội trưởng mới đi xuống. Tôi nhận thấy hình như đã có chủ định trước, đại đội trưởng Thường và các trung đội trưởng chọn nơi để đến đều là mấy thằng mà có lẽ đã được ngầm đánh giá là những đứa cá biệt. Quả thật không sai, đấy là một đứa người Nghệ An Hà Tĩnh ở trung đội Hai, một đứa người Thái Bình ở trung độ Ba và hai đứa người Quảng Bình Quảng Trị ở trung đội Bốn. Những thằng này tôi chưa kịp rõ tên lắm, nhưng đã vài ba lần thấy khi không có chỉ huy thì chúng quả là những đứa khiến người khác phải để ý, chúng ăn nói văng mạng và thái độ rất ngang tàng... Lúc này tôi cảm thấy rất rõ một sức mạnh ghê gớm toát ra từ những người sĩ quan chỉ huy. Những bước chân đi đầy tính toán và thái độ biểu lộ của các sĩ quan có vẻ như rất có bài, rất có kinh nghiệm, nét mặt đanh cứng và đôi mắt quét ra các tia nhìn thẳng căng.
Cả đại đội chúng tôi đứng im như tượng nghe rõ từng tiếng bước chân lạo xạo chậm rãi của những người chỉ huy và nghe rõ từng tiếng hơi thở phì phò gấp gáp của nhau. Đứa nào đứa nấy căng thẳng, các sĩ quan khi đi ngang qua chỉ lướt nhìn vậy mà đứa bị lướt nhìn vào cảm thấy thót tim. Bốn sĩ quan đi xen qua các quãng trống giữa các trung đội và tiểu đội, thẳng lại chỗ của từng đứa đã định trước, đột ngột dừng lại, đứng chung quanh như là vây lấy. Từ bốn người sĩ quan toả ra một áp lực rất mạnh khiến những đứa đứng gần cảm thấy cứng cả người. Còn thằng bị đứng vây giữa bốn sĩ quan thì khỏi nói, nó dúm người lại với vẻ mặt tỏ ra không chịu nổi đòn tinh thần bất ngờ này.
Đại đội trưởng Thường hình như chỉ nói vài câu gì đó. Vì ở xa nên tôi không biết đại uý nói gì. Mấy trung đội trưởng kia lặng im bên cạnh ngầm trợ giúp. Còn thằng bị vây thì nom thật thảm hại không nhận đâu ra vẻ ngang tàng lúc thường nữa.
Khi bốn sĩ quan tiến lại chỗ tiểu đội tôi, mấy đứa trong tiểu đội tôi nín thở. Tôi cũng chờ xem ra sao. Chắc chắn đại uý Thường sẽ tìm đến thằng Dũng nhỏ. Và chẳng biết đại uý Thường sẽ nói gì với nó đây? Đại uý Thường dừng lại, quả nhiên là ngay trước thằng Dũng nhỏ, mấy trung đội trưởng còn lại cũng lập tức vây lấy quanh, tất cả đều chăm chú đôi mắt trở nên cực kỳ sắc găm vào mặt nó. Nhưng, hình như riêng trung uý Cường là hơi xích ra một chút. Toàn tiểu đội chúng tôi căng người hồi hộp...
- Đồng chí! Ngẩng mặt và thẳng người lên! Đại đội trưởng Thường đột ngột quát.
Chúng tôi giật nảy mình
Tiếng quát tiếp tục nghe vang dội hơn:
-Tác phong quân nhân trong hàng ngũ vậy mà thế hả? Hả?
Bất giác chúng tôi ngầm cố thẳng người hơn nữa, ngực cố ưỡn ra hơn nữa, và đôi mắt cố nhìn thẳng ra phía trước hơn nữa.
Nhưng có điều, không phải là đại uý Thường quát thằng Dũng nhỏ mà lại là quát thằng Hải cao kều. Thằng này đứng cạnh thằng Dũng, và hình như do nó không chịu được áp lực cực mạnh toả ra từ những người chỉ huy nên đã hơi cúi mặt xuống.
Còn thằng Dũng nhỏ vẫn như không có chuyện gì.
Đại uý đại đội trưởng tiếp tục quét luồng mắt lên khắp nó, sau đấy đột ngột quay người bỏ đi không nói gì với nó cả, các trung đội trưởng khác đi theo.
Ngay sau đó các A trưởng nhận lệnh và lập tức hô chúng tôi đi ra sân chào cờ.
Thật ra toàn bộ diễn biến này, nghĩa là từ khi tập trung đại đội cho đến lúc các A trưởng dẫn chúng tôi ra sân chào cờ cũng chỉ trong khoảng dăm bảy phút. Như vậy, tôi nghĩ thầm trong bụng, màn thị uy tinh tế vừa rồi chẳng qua mới chỉ là các sĩ quan xem mặt nắn tinh thần mấy thằng được sơ sơ đánh giá là cá biệt trong đại đội của mình mà thôi.
Thế rồi chúng tôi hàng ngũ chỉnh tề, chân đi bước đều, hai tay vung ra nhịp nhàng, khi đến chỗ ngoặt thì đảo chân xoay người khéo léo, thẳng hướng ra sân. Các nhà đại đội khác cũng đang kéo ra sân. Tất cả cùng tiến ra với hàng ngũ đều răm rắp. Một tuần lễ lăn lộn giữa nắng và cát khiến chúng tôi không uổng công chút nào. Nếu so với việc tập hợp đi đều của cái thuở học trò quả là khác nhau trời vực. Sân chào cờ cũng là nơi duy nhất được láng nền xi măng cứng. Tuy vậy cũng nhiều chỗ thủng lổn nhổn. Qua những chỗ thủng này có thể thấy ngoài lớp xi tráng bên trên thì bên dưới là những viên gạch xấu được gá lớp vữa hồ vào rất mỏng. Điều này chứng tỏ sân được làm cực kỳ ẩu. Toàn tiểu đoàn chúng tôi nhanh chóng tập hợp theo thứ tự trên sân. Hàng ngũ của các đại đội, các trung đội và các tiểu đội thẳng đều như kẻ chỉ. So với chính trong ngày khai mạc đã khác hẳn hoàn toàn.
Rồi lễ chào cờ được làm nhanh gọn chuẩn xác. Lá cờ sao vàng năm cánh từ từ được kéo vươn lên ngạo nghễ trên bầu trời xanh. Đồng thời là tiếng hát quốc ca vang vọng.
Sau lễ chào cờ và hát quốc ca là lễ thề. Lễ thề đây là đọc mười lời thề danh dự của người quân nhân và mỗi lời thề sau khi được dõng dạc đọc ra chúng tôi lại đồng loạt hô vang: "Xin thề!". Tiếng hô này cực kỳ vang dội. Suốt trong ba tháng huấn luyện tân binh và sáu tháng học kỹ thuật nghiệp vụ, mỗi khi chào cờ chúng tôi đều phải thực hiện rất nghiêm túc những lễ nghi ấy... Nhưng sau này khi tôi xuống tàu chiến rồi, nhiều tháng nhiều ngày lênh đênh giữa những vùng biển xa xôi thì lễ nghi khi chào cờ vào mỗi sớm thứ hai đầu tuần được giảm bớt, chỉ giữ động tác bắt buộc là chào cờ mà thôi. Nhưng đó là chuyện của về sau, còn ba tháng huấn luyện thì điều khiến tôi nhớ nhất trong mỗi lễ chào cờ là âm điệu trong tiếng nói của thiếu tá tiểu đoàn trưởng chúng tôi.
Tiếng thiếu tá Hà sang sảng, không cần micro chúng tôi vẫn nghe rất rõ, tuy nhiên trong tiếng nói sang sảng ấy vẫn luôn ẩn kín một nỗi day dứt nào đó khiến người nghe bất giác có cảm giác chua xót. Như trong buổi chào cờ đầu tiên của những tháng ngày huấn luyện hôm nay thì chúng tôi nghe giọng nói của ông mang đầy âm sắc phiền muộn. Điều này là dễ hiểu, vì đại đội Ba chúng tôi vừa xảy ra vụ mất trộm táo tợn. Tuy vậy âm sắc phiền muộn khá kín đáo, không cố tình thổ lộ ra. Thiếu tá Hà không nói nhiều về vụ mất trộm, chỉ dùng khoảng dăm bảy phút để nói về những điều liên quan đến việc này, còn thì sau đó ông khen ngợi cũng như phê bình những việc mà đám lính trẻ chúng tôi đã làm tốt cũng như chưa làm tốt trong tuần lễ đầu tiên huấn luyện.
Lễ chào cờ chấm dứt sau ba mươi phút. Sau đó thì chúng tôi đội ngũ tề chỉnh đi về hướng bãi tập của từng đại đội. Tuần lễ tiếp theo này vẫn là tập các động tác khi trong hàng ngũ. Những động tác trong hàng ngũ bao gồm các động tác nghiêm, nghỉ, chào, quay phải, quay trái, quay đằng sau, đi đều, đi đều thẳng, đi đều rẽ, đi nghiêm, đi nghiêm chào... vv
Như đã nói những động tác này khá đơn giản, nhưng lại đòi hỏi vô cùng khe khắt về độ chuẩn xác. Chính vì vậy chúng tôi được tập về chúng hàng tuần lễ dưới ánh mặt trời gay gắt. Thật ra những động tác này hầu như chẳng có tác dụng gì mấy cho người lính trong lúc chiến đấu nhất là trong chiến đấu hiện đại, mà tính chất rất quan trọng của nó chính là ở cái sự đòi hỏi khe khắt được choàng khoác bên trên, nó khiến cho người lính phải trở thành một công cụ của kỷ luật. Đây là một phương pháp đã có từ thời cổ xưa.
Buổi ban mai trên bán đảo Sơn Trà bao giờ cũng tuyệt đẹp. Ánh mặt trời như cô gái e thẹn rắc những tia mắt lấp ló dịu dàng, thi thoảng vài cơn gió nhè nhẹ mơn man, không khí biển tràn ngập khiến người ta hít vào có cảm giác lâng lâng bay bổng và thấy mình thật hào sảng giữa đất trời bao la. Trên bãi tập mênh mông của chúng tôi thường thì bọn kỳ nhông phải đến lúc nắng to mới thấy xuất hiện nhiều, nhưng vào buổi sớm vẫn có một vài chú thập thò ra khỏi những cái ổ được khoét sâu trong lòng đất cát và phóng chạy ra ngập ngừng. Những con kỳ nhông tạo nên một nét sinh động lãng mạn rất riêng cho khoảng đất trống cằn khô không chút cây cỏ nơi đây. Tuy nhiên cũng có thể vào buổi trưa nắng chúng tôi thấy nhiều bọn kỳ nhông là bởi do màu da của chúng, kỳ nhông biết tự đổi màu da, vào buổi sớm màu da của chúng lẫn với màu xám của đất cát rất khó nhìn ra còn khi nắng lên thì màu da của chúng đổi thành màu đỏ rực và chúng lại phóng chạy như bay nên dưới ánh nắng lấp loá dễ thu hút mắt nhìn của người ta hơn.
Đã vào lính được một tuần và mặc dù thích ứng khá nhanh nhưng như nhiều đứa khác tôi vẫn còn cảm thấy quá nhiều điều bỡ ngỡ...
Một trong những điều khiến tôi bỡ ngỡ nhất là chuyện bữa ăn của lính.
Nói cho đúng, so với ăn uống khi tôi còn ở nhà thì ăn uống ở trong quân đội đây sướng hơn hẳn. Thời kỳ ấy rất đói khổ, nhất lại là nhà nông nơi tạo ra cái ăn thức uống lại càng đói khổ tợn, ở quê quanh năm nhà tôi cũng như phần đông các nhà khác lúc nào cũng chỉ cơm canh rau dưa còn cá thịt thì thi thoảng lắm mới có. Còn ở đây, bữa ăn khá hơn hẳn, ngoài canh rau dưa thì luôn luôn có cá hoặc thịt thay nhau. Chúng tôi được biết mức ăn của lính được quy định rất rõ ràng, và mức ăn của lính hải quân là vào loại cao nhất, chỉ sau lính không quân. Nhà nước bao cấp hoàn toàn chuyện ăn uống cho lính cũng như là bao cấp hoàn toàn các đồ quần áo quân tư trang vậy. Còn các sĩ quan thì không được như thế, quần áo quân tư trang và bữa ăn của sĩ quan đều bị trừ vào lương.
Khu nhà bếp của tiểu đoàn là một ngôi nhà nằm biệt lập. Nói là khu nhà bếp nhưng thực ra là một ngôi nhà đã rất tồi tàn với tường vôi lở lói. Nó nằm tách riêng ra khỏi khu vực bốn nhà đại đội và cũng khá gần trong tầm mắt từ bãi tập luyện nhìn sang. Những khi nào rảnh rổi lúc tập luyện chúng tôi lại luôn luôn nhìn trộm ngôi nhà bếp với sự thèm khát. Lý do là lúc nào chúng tôi cũng thấy đói. Điều này là dễ hiểu, vì chúng tôi tuổi trai tráng đang đầy sức sống và lại tập luyện vất vả nên rất mau đói. Nhìn ngọn khói bếp bốc lên từ nhà bếp thầm đoán bữa nay ăn gì và thế là bụng lại càng thêm cồn cào.
Không có nhà ăn. Mỗi bữa ăn chúng tôi ăn ngay trên sân chào cờ.
Nghe tiếng kẻng báo cơm, chúng tôi vội vã xách bát đũa của mình tập hợp vào trung đội và ra sân nơi được chỉ định bốn góc là bốn nơi ăn của các đại đội. Bữa nào trời mưa thì ăn ngay trong nhà đại đội, nhưng ăn trong nhà đại đội chật chội lại càng khổ hơn ăn ở sân ngoài trời.
Việc đi nhận cơm cứ luân phiên nhau, trong một ngày thì sẽ có hai tiểu đội vào nhà bếp nhận cơm cho cả đại đội. Tại nhà bếp, nồi nấu cơm và nồi nấu thức ăn là những cái chảo gang vĩ đại đặt trên những cái bếp than cực lớn.
Theo tôi được biết thì cơm được lấy ra bằng xẻng và canh được múc bằng bằng cái xô nhỏ. Trong nhà bếp rất nóng và những người lính hậu cần cấp dưỡng mồ hôi mồ kê nhễ nhại đứng ra giao cơm canh cho chúng tôi với vẻ mặt cau có. Nồi nhôm to đựng cơm, nồi nhôm nhỏ hơn tý chút đựng canh và cái khay nhôm khá kỳ cục đựng thức ăn đều được đánh số theo nhà đại đội bằng sơn đỏ. Chiếc khay kỳ cục đựng thức ăn gồm bốn ô, một ô đựng thịt hoặc cá, một ô đựng rau muống hoặc rau dền hoặc rau cải là những thứ rau rất dễ luộc, một ô đựng dưa và một ô nữa đựng nước mắm. Chỉ có bữa ăn trưa và bữa ăn chiều mới có khay thức ăn này còn bữa ăn sáng chỉ có cơm với nước mắm. Thật ra thì cơm canh và thức ăn đã được lấy sẵn trước cả rồi và chúng tôi đến chỉ việc nhìn vào các chữ số để bưng về mà thôi, không lộn vào đâu được.
Mỗi mâm ăn được chia thành sáu người. Như vậy các cậu lính trong đại đội sẽ ăn chung lẫn nhau chứ không thể ăn theo từng tiểu đội được. Mà nhiều đứa có vẻ cũng không thích ăn chung với tiểu đội, chúng thích ăn với những đứa bạn đồng hương đã kết thân với nhau hơn. Nhiều bữa tôi ngồi ăn với bọn thằng Huy nhưng khá nhiều bữa ngồi ăn với bọn lạ của các tiểu đội khác.
Sự ăn uống cực kỳ hỗn tạp. Khi mâm đã đủ sáu người ngồi chồm hỗm bu quanh thì hãy lập tức thi nhau ăn như ăn là cướp. Nói không ngoa, ngay ở vài lượt khua đũa đầu tiên cái ô đựng cá thịt đã hết nhẵn, hết bát cơm thứ nhất thì trên khay ô rau dưa cũng hết sạch, đến bát thứ hai thì canh cũng không còn và sang đến bát thứ ba thì chỉ còn chan nước mắm mà thôi. Phải nói rằng những đứa lính mới như chúng tôi ngấm ngầm tranh nhau mà ăn. Bởi mâm cơm canh thức ăn ấy chẳng bõ bèn gì so với sức ăn trai tráng của chúng tôi, nếu ăn uống lề mề chậm chạp thì đứa khác ăn mất.
Có nhiều đứa tinh ranh, bát đầu và bát thứ hai xới cơm lưng lưng để ăn thức ăn còn sang bát thứ ba thì bới thật đầy. Và cũng có nhiều đứa ăn rất phàm, ngồi vào mâm là lập tức cúi đầu cúi cổ gắp ăn lia lịa chẳng chút ngượng ngùng xấu hổ gì cả khiến những đứa khác cũng phải nóng ruột làm theo nó. Thế cho nên nếu như may mắn ngồi chung với những đứa bạn mình đã kết thân thì có đỡ hơn hẳn, sự ăn uống có đàng hoàng hơn một tý... Hỡi ôi, dù khiến tôi khá sốc, nhưng xét cho cùng giữa hàng mấy trăm người xa lạ được dồn với nhau ngồi ăn trên sân trên bãi như thế này thì việc ăn uống hỗn tạp như thế cũng là sự dễ hiểu.
Mặc dù thiếu tá Hà luôn đích thân xuống nhà bếp coi sóc nhắc nhở chuyện nấu nướng, nhưng nhà bếp vẫn không tránh được bữa thì cơm khê, bữa thì cơm sống, bữa thì cơm nhão nhoét, bữa thì cơm cháy đen thui. Lý do thật dễ hiểu, nấu chung cho hàng ngàn người ăn như vậy thật vô cùng khó. Những người cấp dưỡng lại là lính, khi mới được đưa vào nhà bếp làm thì rất vụng về phải mất đến hàng năm mới thành thạo điêu luyện được, nhưng đến lúc ấy thì lại ra quân mất và những người lính khác thay thế lại cứ phải tập từ đầu. Thế cho nên nhiều bữa chúng tôi ăn cơm sống, khê, cháy hoặc nhão. Nhưng không than van gì cả, dù cơm có ra sao thì chúng tôi cũng ăn hết sạch sành sanh.
Luôn luôn chúng tôi cảm thấy bữa ăn không đủ no. Tình hình càng về sau càng tệ hại hơn, hình như khẩu phần ăn thiếu hụt khác xa rất nhiều với tiêu chuẩn. Thịt cá bị bớt thấy rõ. Đặc biệt nước mắm không còn ra là nước mắm nữa, đúng ra đấy là nước màu mà thôi, nghĩa là thứ nước được làm bằng cách chưng tý đường đen lên làm màu rồi đổ nước và muối vào, sau đó pha thêm tý ti nước mắm, mà rồi một tý nước mắm cho thêm để lấy mùi ấy về sau cũng không có nốt, khiến chan nước màu này với cơm ăn không khác gì chan nước muối, ăn đắng chát cả mồm miệng. Bọn bạn của tôi thì thào đó là bộ phận hậu cần cắt xén khẩu phần ăn của lính.
Thằng Huy đã kể cho tôi một vài điều nghe được từ bọn lính cậu trong tiểu đội của nó khiến tôi buộc phải ngẫm suy.
Thằng Huy kể rằng đại uý Lê, phụ trách hậu cần của tiểu đoàn là người Nghệ An, có ô dù vây cánh rất mạnh từ trên vùng Ba và thậm chí quen biết cả trên bộ tư lệnh. Trại huấn luyện lính mới này khô khan khiến nhiều người kêu ca nhưng phụ trách hậu cần của có lẽ là vị trí không ai kêu ca gì. Mà đúng hơn, trong quân đội thì dù bất kỳ đâu bộ phận hậu cần cũng rất ngọt ngào béo bở bởi có quá nhiều thứ khiến cho bộ phận này có thể chấm mút bớt xén được. Những người chỉ huy của trại huấn luyện lương không đủ tiêu, mà ngoài lương ra thì cũng chẳng có gì hết, nhưng riêng đại uý Lê thì tiền bạc khi nào cũng rủng rỉnh. Nếu mỗi ngày đại uý bớt đi một tý ty khẩu phần ăn của lính thôi thì một ngày ấy cả gần ngàn người lính bị bớt cũng sẽ cho đại uý thu nhập bằng cả tháng lương của thiếu tá Hà. Thế nên không có chi lạ khi đại uý Lê luôn hút thuốc thơm, đi xe xịn láng coóng và đang xây ngôi nhà rất to ở gần sông Hàn. Trong vụ xây ngôi nhà này đại uý đã cật lực bớt tiêu chuẩn ăn của lính khiến đám lính trẻ đói vàng mắt. Thiếu tá Hà đã tìm mọi cách cứu đám lính của mình nhưng bị đại uý Lê dằn mặt bằng một đòn khá hiểm. Rằng thiếu tá Hà có một đứa con trai đang học ở trường sĩ quan, mà đại uý Lê có mối thâm tình với hiệu trưởng trường này, thế nên đại uý đã đem ra doạ thiếu tá Hà. Thiếu tá Hà phản ứng lại dữ dội. Chấp nhận đứa con có thể bị đì trong trường sĩ quan rồi thậm chí khi ra trường có thể bị bổ dụng đem đến một nơi xa xôi hẻo lánh nào đó chứ nhất quyết không thể chấp nhận chuyện người sĩ quan hậu cần dưới quyền bớt xén quá đáng khẩu phần ăn hàng ngày của lính.
Sự phản ứng quyết liệt của thiếu tá Hà khiến ngôi nhà rất to của đại uý Lê chưa được như ý nguyện, đại uý ước mơ xây được ngôi nhà ba tầng, nhưng nay mới chỉ được hai tầng mà thôi. Nhưng quyền lực của thiếu tá Hà cũng chỉ kiềm chế được phần nào lên đại uý Lê chứ không thể hoàn toàn, vì cơ cấu quân đội đã khiến bộ phận hậu cần như là tách riêng ra là một bộ phận độc lập. Đại uý Lê sợ những người chỉ huy cùng ngạch hậu cần trên vùng Ba chứ không sợ gì thiếu tá Hà là người chỉ huy cao nhất trong đơn vị doanh trại của mình. Đại uý đã không tiếc tiền đổ ra lấy lòng những người này. Khi thì mời ăn nhậu, chơi bời, khi thì tiền mừng, tiền tết, hàng trăm lý do để đại uý hào phóng vung vãi tiền bạc. Thế cho nên đường binh nghiệp của đại uý khá bằng phẳng không bị cản trở, đại uý cứ được khen thưởng và nâng cấp đều đều. Tất nhiên đại uý không từ bỏ ước mơ của mình, ngôi nhà của đại uý đang dang dở, thế cho nên đám lính trẻ vẫn phải cắn răng mà không hiểu vì sao mình đói.
Thằng Huy còn kể, do đại uý Lê như vậy nên đám tay chân dưới quyền của đại uý cũng không kém cạnh. Đám tay chân đây là những người lính trong bộ phận hậu cần mà đại uý chỉ huy. Cũng chỉ mươi người, hầu hết là lính cậu, được tuyển dụng vào. Trong đám này có ba đứa là người thường xuyên đi chợ mua thức ăn thế cho nên cũng lén lút bớt xén thêm. Bọn này khi nào cũng thuốc thơm và tiền bạc chi xài rất rộng rãi. Vài ba gói thuốc hút hàng ngày của chúng bằng cả tháng tiền trợ cấp ít ỏi cho đám lính chúng tôi. Đã nhiều lần thiếu tá Hà đích thân ra chợ mua thức ăn để kiểm tra, nhưng tình hình không thể cải thiện được mấy, vì bọn này khôn ngoan đã thông đồng trước với những người bán ngoài chợ.
Chuyện ăn uống của chúng tôi là thế đó. Ngàn đời nay và đâu đâu trên thế gian này cũng vậy thì đằng sau miếng ăn bao giờ cũng nhuốm đầy sự dơ bẩn tanh hôi. Thật là điều không sai chệch. Cái quan trọng là vẫn luôn luôn còn có người xả thân đứng ra để bảo vệ cho miếng ăn của đám lính chúng tôi. Đó mới là điều quý giá trăm lần chua chát.
Sự sinh hoạt chung giữa hàng trăm ngàn người xa lạ quả là vấn đề không dễ dàng, khác hẳn với cảnh sống chung trong một mái gia đình với cha mẹ. Nó gây cho tôi cũng như những cậu lính khác một cảm giác bỡ ngỡ không thể nói cho hết.
Thế nhưng chúng tôi là những người còn trẻ, khả năng thích nghi là cực kỳ cao, hơn nữa đây lại là sự thích nghi mang tính bắt buộc nên hầu như tất cả đều nhanh chóng đều hiểu mình cần phải làm gì và sống như thế nào.
Điều có thể thấy rõ là đám lính chia làm ba khá rõ ràng, bọn Thái Bình chơi riêng với nhau, bọn Nghệ An Hà Tĩnh chơi riêng với nhau và bọn Quảng Bình Quảng Trị chơi riêng với nhau. Giữa đám đông bao giờ cũng thấy rõ đứa nào có tính cách thủ lĩnh. Chẳng ngạc nhiên gì tôi thấy ngay sự nổi bật của thằng Dũng nhỏ. Trong nhà đại đội Ba của tôi và trong tiểu đoàn hầu hết những đứa Thái Bình đều tỏ ra sợ nó, còn bọn Nghệ An Hà Tĩnh thì tập hợp chung quanh thằng này.
Trong doanh trại của chúng tôi có một Căngtin bán đủ những hàng vặt, từ kim chỉ, bót đánh răng, giấy, bút, sổ đến những thứ kẹo bánh, nước ngọt. Nhà Căngtin này nằm ở gần dãy nhà chỉ huy. Đêm cũng như ngày Căngtin luôn rất tấp nập. Chủ quán là chị vợ của đại uý Lê. Phải nói chiếc Căngtin tý tẹo ấy có thể khiến chủ nhân phát giàu, vì hàng bán đắt hơn hẳn bên ngoài, mấy trăm chú lính bọn tôi phải nghiến răng chấp nhận mua đồ nơi đây bởi chẳng dễ chi ra bên ngoài mà mua được. Những thằng lắm tiền và khôn ranh biết ngay cách sử dụng đồng tiền của mình. Chúng thường mời A trưởng của chúng đi hút thuốc lá, ăn bánh kẹo, uống nước ngọt để mua chuộc tình cảm. Đa số những thằng có điều kiện để làm điều này là những thằng lính cậu, chúng sẵn tiền hơn và ngoài ra chúng cũng được các bậc sành sỏi bày vẽ cho. Như thằng Thắng lính cậu của tiểu đội tôi thường chèo kéo A trưởng hạ sĩ Quang. Chính nhờ vậy mà nó được ưu ái hơn hẳn những đứa khác. Việc nó tìm cách lấy lòng hạ sĩ Quang không có chi lạ, nhưng tôi hơi ngạc nhiên là nó tìm cách bỏ tiền ra lấy lòng thằng Dũng nhỏ và cả tôi nữa. Thằng này thật khôn ranh. Nó biết thằng Dũng nhỏ là một thế lực không thể xem thường giữa đám lính với nhau, bản thân nó không đủ sức chống lại thế lực này thì tìm cách mua. Nó mời cả tôi vì tôi là tiểu đội phó nhưng cái quan trọng hơn là nó biết so với những đứa khác thì thằng Dũng nhỏ có vẻ nể trọng tôi.
Thằng Dũng nhỏ đúng là có tính cách của một tay thủ lĩnh thứ thiệt. Bản tính ít nói. Vẻ gan lì toát ngay ra từ cặp mắt. Nó không cố tình phô ra bên ngoài những nét bụi bặm anh chị mà mấy thằng nửa mùa thích phô. Thằng Dũng nhỏ có cái vẻ khá trầm tĩnh điềm đạm không phải ai ai cũng có. Đầu óc nó lại thông minh nhạy cảm. Chính vì vậy những người gặp nó lần đầu dễ hoảng sợ trước nó nhưng cũng dễ thần phục trước nó. Thằng Dũng nhỏ lại rất biết cách sống theo cái đạo lý của giới nhà võ, nghĩa là bênh vực kẻ yếu, lấy chữ tín nghĩa làm đầu, dùng hành động chứ không dùng lời nói, thế nên nó tập hợp được rất đông đám bạn hữu tay chân.
Thằng Dũng nhỏ tỏ ra thích tôi. Đối với tôi nó tỏ ra khá chân tình cởi mở, khi trò chuyện nó cũng kể cho tôi nghe nhiều điều về bản thân...
Theo như những lời bộc bạch ngắn ngủi của nó thì quê nó ở vùng Diễn Châu tỉnh Nghệ An. Nhà nó có ba anh em. Nó là con út, thuở nhỏ nó rất ốm yếu, thế cho nên cha mẹ gửi nó tới một thầy thuốc Nam.
Thầy thuốc Nam này gốc gác khá éo le ly kỳ.
Thầy vốn dòng khoa bảng. Ông nội của thầy vốn là một vị quan trong triều đình nhà Nguyễn rất hưởng ứng phong trào Cần Vương chống Pháp, khi phong trào này thất bại bị vây lùng rất riết ông đã cùng một vài người lính cuối cùng tuốt kiếm tự sát không để Pháp bắt. Nối tiếp cha của thầy là một nhân sĩ hoạt động rất sôi nổi trước 1945, nhưng rồi ngay sau 1945 chết thảm một cách bí ẩn. Nguyên nhân là đã không đồng ý với những nhà cách mạng cộng sản theo chủ nghĩa Mac Lê triệt để coi người trí thức là những kẻ tử thù, trí thức làm nên bộ não nếu tiêu diệt hết họ thì xã hội không hơn gì một con vật mất trí, sẽ ra một xã hội điên loạn. Đến lượt mấy người anh của thầy không bao lâu cũng bỏ mạng trong cái vụ "trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ". Thầy may mắn thoát qua được cái nạn này chỉ bị vào tù học tập và lao động cải tạo mà thôi.
Tuổi thanh xuân của thầy bị đầy đoạ khổ sở đủ đường, bị quy cho những cái tội to bằng trời. Ở trong tù nhờ chữa được bệnh cho con của quản giáo trại giam nên người này tìm cách cứu thầy ra. Nhưng ra tù đời thầy còn khốn nạn hơn, người ta coi thầy chẳng khác gì thằng hủi. Nhỏ nước mắt thắp cho cha và các anh mấy nén hương thầy đã định bụng trốn sang bên Lào. Nhưng khi đến mạn Tương Dương Kỳ Sơn giáp Lào thì quê hương đất nước níu chân thầy lại khiến thầy không đành lòng nào vượt qua bên kia biên giới được. Tại đây thầy cố giấu tung tích của mình mở nghề thuốc chữa bệnh.
Nhưng chẳng bao lâu cả tài chữa bệnh của thầy cũng bị hạch hỏi luôn luôn. Khi thầy cứu chữa được nhiều bệnh nhân mà bệnh viện huyện và bệnh viện tỉnh bó tay thì người ta dèm pha đổ cho thầy cái tội mê hoặc dân chúng chữa bệnh phản động phản khoa học. Nơi huyện xã thầy cư trú công an rồi dân quân tới hành thầy ghê lắm, khiến nhiều lần thầy tưởng phải thêm một lần dứt áo ra đi.
Thuở mới sinh thì cả mẹ con thằng Dũng nhỏ đều ốm yếu quặt quẹo luôn. Lúc nó ba tuổi thì cả mẹ lẫn con bị ốm nặng, mang tới bệnh viện của huyện rồi của tỉnh bệnh càng ngày một nặng thêm. Cha thằng Dũng như ngồi trên lửa, cảm thấy sinh nghi khi thấy bệnh viện toàn tiêm cho vợ con thuốc gì mà cứ nằm ngủ li bì, người rộc như con ma đói. Mãi sau một tay bác sĩ trẻ mới ra trường nói với cha nó, bệnh của hai mẹ con đối với bệnh viện này là đã hết phương cứu, không nói rõ cho người nhà hay chứ thực ra là bệnh viện đang đành để cho bệnh nhân chịu chết. Bác sĩ trẻ này thật lòng khuyên cha nó nếu tìm cách gì xin được tiêu chuẩn đi Hà Nội thì may ra bệnh viện ở đấy mới cứu nổi vợ con. Cha nó hồn vía lạc lên mây, làm sao mà đưa được hai mẹ con nó đi Hà Nội bây giờ. Trong lúc cùng đường hoảng loạn thì có người mách cho cha nó ông thầy ở tận Tương Dương Kỳ Sơn. Cha nó nhờ người đang đêm khiêng hai mẹ con trốn ra bệnh viện tỉnh đánh đường tìm lên chỗ thầy. Thầy chỉ dùng cỏ lá quanh nhà xoa cho hai mẹ con là thấy đã giảm bớt. Sau một tuần vừa xoa vừa uống thì mẹ con nó đã đi lại được. Cha nó mừng rỡ tưởng có thể bán nhà để cảm tạ thầy. Thầy chẳng lấy công xá gì cả, chỉ yêu cầu cha nó đi đào đi bứt những cây thuốc để lần sau có mà chữa cho người khác.
Nhờ thầy mà bệnh của mẹ thằng Dũng đứt nọc hẳn, nhưng thằng Dũng thì chưa chữa đứt nọc được vì nó còn quá nhỏ và quá yếu không thể dùng thuốc công lực mạnh để trục bệnh. Thế là cha mẹ thằng Dũng bàn bạc mãi với nhau cuối cùng xin gửi nó cho thầy làm con nuôi. Sở dĩ cha mẹ thằng Dũng quyết tâm gửi nó làm con nuôi là vì thấy trong nhà thầy cũng có mấy đứa trẻ lơn lớn tuổi khác đã được thầy cứu bệnh xong rồi nhận nuôi, những đứa trẻ này được thầy truyền cho nghề thuốc.
Thằng Dũng ở lại với thầy. Hàng ngày một buổi nó vẫn đến trường đi học như những đứa trẻ khác, còn buổi kia theo thầy. Nhưng có điều nó không thích nghề thuốc lắm, thầy cũng biết vậy, nên truyền cho nó võ nghệ. Thằng Dũng nhỏ say sưa cái môn này và nó tỏ ra có năng khiếu thật sự. Võ mà thầy truyền cho nó là võ hét, một môn võ đặc biệt và hầu như đã tuyệt tích của xứ Nghệ. Thật ra môn võ này có gốc là võ hét xứ Nghệ, nhưng được một cụ tổ mấy đời trước của thầy là một văn nhân nhưng cực kỳ say mê võ thuật đã dày công nghiên cứu và sáng tạo ra nhiều điều trong đó. Thành ra môn võ này đã mang dáng dấp gia truyền với rất nhiều nét riêng. Những thế hệ đời sau muốn truyền bá rộng môn võ này ra nhưng chưa có dịp, vì người Pháp ngăn chặn rất mạnh, một ai đấy dám mở trường võ lập tức bị coi là mầm mống nổi loạn và bị đàn áp cực kỳ khốc liệt. Ông nội của thầy từ quan tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp, tụ tập nghĩa quân, nhưng thời gian không nhiều nên dạy cho nghĩa quân chỉ được vài đòn thế thực dụng cơ bản chứ chưa đủ truyền bá ra hết.
Ở với thầy được hơn mười năm, khi nó mười bốn tuổi, thì thầy mất. Trước khi nhắm mắt thầy dặn đi dặn lại nó học võ nghệ là để giúp đời, tuyệt đối không được dùng võ nghệ để làm càn, nó vâng vâng dạ dạ. Hơn mười năm sống với thầy, thầy coi nó hơn là con đẻ, truyền cho nó hết thảy mọi tinh hoa môn võ hét mà dòng họ của thầy đã hấp thụ và sáng chế ra thêm nhiều điều mới lạ, dặn nó rằng phải luôn luôn kiên trì tập luyện thì về sau khi đã điêu luyện và đủ trí khôn ắt sẽ ngộ ra nhiều điều kỳ ảo của môn võ đã được học. Lúc này bệnh tình thằng Dũng đã khỏi hẳn, mặc dù không chuyên tâm học nghề thuốc như mấy người anh nuôi trong nhà thầy nhưng nó cũng biết ít nhiều.
Thầy mất, cha mẹ thằng Dũng lên gạt nước mắt đón nó về. Dầu sao thằng Dũng nhỏ cũng đang là đứa con nít, nó tụ tập chơi với đám bạn trong xóm trong làng, những trò con nít cũng dễ đến ẩu đả nhau. Thằng Dũng nhỏ mấy lượt đem võ nghệ ra chọi với những đứa to con lớn tuổi hơn ở các làng khác và khiến cho những đứa này bị thương. Cũng may thầy của nó đã tính trước điểm này nên đã cặn kẽ bày cho nó những phương thuốc để cấp cứu trị thương khi lỡ tay quá mạnh. Sau một số lần ẩu đả như vậy thì thằng Dũng mới dần dà thấm được những lời thầy dặn trước lúc mất.
Đến vào đầu thập niên 90 thì vùng Nghệ An lên cơn sốt đá đỏ ở huyện Quỳ Châu, người khắp nơi lũ lượt đổ về đây để mong đào được những viên đá đỏ quý giá. Một vài người phất lên nhờ trời cho nhưng nhiều kẻ thân tàn ma dại. Chính ngay trong nhà thằng Dũng, một người anh của nó chết vì bị sập hầm khi đào đá còn nguời anh kia bị mười ba thằng đầu gấu đánh chết khi đào được một viên đá đỏ loại non, là loại đá giá trị không bao nhiêu nhưng cũng có được chút ít tiền. Một mình thằng Dũng nhỏ mò đến, ra tay đánh gục mười ba thằng này. Trong thoáng chốc nào đó nó đã định đánh chết hoặc đánh đến thương tật để trả thù cho anh, nhưng nhìn mấy thằng này cũng tàn tạ ma không ra ma người không ra người do phải sống giữa vùng rừng hoang nước độc và nhớ đến lời thầy dặn khi còn sống nên nó ngừng lại chỉ bắt mấy thằng này phải đi bằng đầu gối ra mộ anh nó quỳ bên mộ ba ngày ba đêm.
Sau vụ này, bọn đầu gấu liên tục đến nhà thằng Dũng. Không phải là để gây chuyện với nó mà là để khẩn khoản nài xin nó đến vùng đá đỏ. Ở đấy có mấy nhóm đầu gấu đang xâu xé tranh giành quyền lực lẫn nhau trên các bãi đá và có một nhóm thuộc xã Nghi Phú ngoại ô thành phố Vinh vốn gốc là đồ tể chuyên giết heo bò đang tác oai tác quái rất hung hăng. Bọn đến nhà nó là những bọn lép vế hơn muốn tìm một người có thể đối chọi được nhóm này. Mẹ thằng Dũng nhỏ khóc lóc van xin nó đừng dính líu gì đến vùng đất ma quỷ ấy nữa, hai người anh của nó đã bỏ mạng, nếu nó vào đấy thì một ngày nào đó cha mẹ nó cũng đến mà đem xác nó về. Nó thì nghĩ đến lời thầy. Ước mơ của thầy nó là làm sao sau này gầy dựng phát triển lại được môn võ độc đáo của xứ Nghệ, môn võ đã được cha ông thầy phát triển thêm nhiều điều mới lạ. Thầy cứu nó, nuôi nấng và truyền võ nghệ cho nó đâu phải là để nó trở thành một tên anh chị giang hồ. Nó cứ nghĩ tới nghĩ lui, ở nhà thì đám đầu gấu cứ liên tục tới rủ rê, cha mẹ thì già yếu và cứ lo lắng chỉ cần bồng bột một tý làm bậy làm bạ là nó suốt đời không sao thoát ra được, còn bản thân nó thì muốn đi đâu thật xa để thoát u uẩn trong lòng và mở mang thêm những gì đó mới. Cuối cùng nó xin đăng lính. Cha mẹ nó mừng rơn. Khi đăng lính thằng Dũng nhỏ vừa tròn mười chín tuổi.
Thằng Thắng lính cậu cố tìm cách mời tôi và thằng Dũng nhỏ đi ra Căngtin uống nước hút thuốc như là đã tìm cách chèo kéo lấy lòng hạ sĩ Quang. Khi nó mời, lờ mờ hiểu việc đằng sau và tôi chưa biết tính sao thì thằng Dũng nhỏ bình thản gật đầu: "Ừ, rủ cả bọn trong tiểu đội đi cho vui!" Thằng Thắng lính cậu không ngờ chuyện đó, nhưng lời của thằng Dũng nhỏ có cái gì đó như là mệnh lệnh khiến nó không dám cãi. Cả tiểu đội chúng tôi kéo lên Căngtin, những đứa khác không hiểu cứ vô tư hút thuốc lá nhai kẹo bánh, còn thằng Thắng lính cậu thì méo mặt trả tiền. Sau này thằng Thắng lính cậu vẫn cứ cố mời tôi và thằng Dũng nhỏ, thằng Dũng nhỏ vẫn cứ một sách lược là gọi cả tiểu đội theo. Chính điều này càng khiến thằng Thắng lính cậu sợ nó hơn.
Thằng Thắng lính cậu thất bại trong việc dùng tiền để mua chuộc thằng Dũng nhỏ. Tuy vậy nó khôn ranh nên cũng vớt vát được vài điều. Chẳng hạn có lần tôi thấy nó cãi cọ với mấy thằng lính Thái Bình cùng quê của nó điều gì đó và nó đem thằng Dũng nhỏ ra để doạ bọn này. Nó doạ rằng thằng Dũng nhỏ chơi rất thân với nó và lập tức mấy thằng kia hiểu gì. Bọn này liền im re. Nhưng tôi biết rõ rằng thằng Thắng lính cậu đã chơi trò mượn hơi hùm, thằng Dũng nhỏ chẳng có gì thân thiết với nó, thậm chí trong tiểu đội thằng Dũng nhỏ tỏ ra ghét nó nhất, nhưng đằng sau lưng thì thằng Thắng lính cậu vẫn lấp la lấp lửng với kẻ khác mượn hơi của nó thì đố ai mà biết được, nhất lại là khi người khác thấy rằng quả không ít lần thằng Thắng lính cậu bỏ tiền ra bao cho cả bọn tiểu đội tôi. Cái trò mượn hơi hùm là một nghệ thuật tinh khôn mà những kẻ giỏi luồn lách trên đường đời rất ưa dùng.
Sự xích mích giữa hai khối lực lượng lính trẻ Thái Bình và Nghệ An Hà Tĩnh ngày càng rõ ràng, nhất là từ khi xảy ra vụ mất trộm. Những màn đấu khẩu, cãi cọ, khích bác lẫn nhau giữa bọn này xảy ra đều đều, có điều chưa đi đến chỗ trầm trọng vì tất cả đều sợ hãi những người chỉ huy của mình. Những sĩ quan chỉ huy cũng thấu hiểu điều này. Họ giám sát rất chặt chẽ. Mà hình như cái mâu thuẫn giữa hai khối lực lượng này đã thành lệ từ rất lâu. Theo như bọn lính bạn thì thào kể lại thì hầu như năm nào ở trại huấn luyện tân binh cũng có một vài vụ ẩu đả giữa đám lính Thái Bình và Nghệ An Hà Tĩnh. Theo tôi nghĩ, mâu thuẫn giữa mấy thằng lính trẻ bắt nguồn từ sự mâu thuẫn về tính cách sống. Xứ Nghệ và xứ Thái Bình đều là những vùng có cá tính mạnh. Chẳng cần nói xa làm gì, chỉ cần lấy ví dụ khi mấy thằng lính trẻ nói chuyện với nhau, thằng Thái Bình lập tức có cảm tưởng cái lối phát âm của thằng Nghệ An Hà Tĩnh đốp chát thô lỗ và nó cảm thấy khó chịu, ngược lại thằng Nghệ An Hà Tĩnh cũng thấy khó chịu khi cảm tưởng cái lối phát âm thằng Thái Bình là trơn tuột giả dối. Rõ ràng đây là định kiến hết sức cảm tính. Nhưng khổ nỗi đời sống tinh thần của con người ta lại hầu hết dựa trên những định kiến hết sức cảm tính. Mới chỉ từ sự phát âm lời nói mà thằng Nghệ An Hà Tĩnh và Thái Bình đã có ấn tượng không tốt về nhau, cho nên dễ hiểu những cử chỉ điệu bộ, cách đi đứng, cách xử sự, cách sinh hoạt riêng trong sự sinh hoạt chung, tóm lại là trong toàn bộ tính cách sống bộc lộ ra giữa tập thể hàng trăm hàng ngàn người, đều dễ dàng gây nên những định kiến sai lệch. Mà đám lính trẻ thì như những chú ngựa non. Thích hay ghét chúng lập tức bộc lộ ngay. Chính vì vậy thường có những cuộc cãi vã mà nếu không biết cách thì ắt sẽ dẫn đến dùng vũ lực theo kiểu trai tráng để giải quyết với nhau.
Hình phạt mà đám lính trẻ chúng tôi thường được nhận là quét dọn hố xí. Khu hố xí của lính nằm cách ra khá xa, nằm ở khu vực đất trống cách các nhà đại đội khoảng vài trăm mét, gần sát với bờ tường bao quanh doanh trại. Sau bờ tường ấy là con đường thẳng hướng vào căn cứ vùng Ba. Khu hố xí này cũng được xây cất đàng hoàng bằng gạch đá, nhưng cũng như tất cả các công trình bằng gạch đá khác thì khu nhà xí này bị ăn bớt rất nhiều nên chẳng được bao lâu đã hư hỏng gần hết. Khu hố xí gồm bốn dãy, mỗi dãy khoảng mươi ngăn. Cửa che đậy đã hỏng từ lâu thành ra trống hoang hoác.
Tường lở lói nham nhở. Đầy những dòng chữ và những hình vẽ nghuệch ngoạc chằng chịt đè lên nhau. Nhiều dòng như "I Love Your", "Em ơi, ngồi đây anh nhớ em nhiều!", "Thương em anh đội trên đầu. Khi đến nhà cầu anh đặt xuống...!!!", "Em ơi... Tại sao? Tại sao? Tại sao? " của những thằng tính tình lãng mạn. Nhiều dòng chữ khác như "Hận...", "Đời lính buồn...", "Nhớ mẹ, thương cha..." của những thằng không chịu được khổ oán than đời. Hoặc cho đến những dòng chữ chửi bậy chửi bạ các A trưởng và các sĩ quan của những thằng hay bị ăn bạt tai. Rồi thì các hình đầu lâu xương chéo, hình khoả thân nhan nhản đủ các kiểu. Nội dung thật phong phú và đa dạng phần nào đó thể hiện chính xác tâm trạng của đám lính trẻ đã cùng phát tiết ra khi chúng đi đại tiện. Nhờ các dòng chữ và hình vẽ này đập thẳng vào mắt khiến cho ngồi vào đây phải tức cười lộn ruột mà quên đi sự hôi thối bủa đầy mũi.
Hàng mấy trăm chú lính, thế nên cái khu vực hố xí này là quá bé nhỏ. Đám lính trẻ phải tranh nhau. Nói chung là nên tập cho thành cái thói quen đi vào buổi đêm đỡ phải chen chúc chờ đợi. Nhưng vào buổi đêm lại phải mò mẫm trong bóng tối cũng rất khổ. Nhiều đứa lại quen cái thói nông dân hay ị bờ bụi nên đêm đêm lén lút phóng bậy bạ ở bên ngoài khu đất trống nhà hố xí khiến những đứa khác dẫm phải chỉ biết điên tiết chửi trời.
Khu nhà vệ sinh gồm bốn dãy, mỗi dãy được phân cho mỗi nhà đại đội có trách nhiệm dọn dẹp hàng ngày.
Làm cái công việc dọn dẹp nhà hố xí thật là khốn khổ. Vì đây là loại hố xí đời cổ, không tự hoại được nên phải xúc phân đến đổ xuống một cái hố rất to và rất sâu được đào sẵn ở gần đấy. Sau dăm ba tháng hố này đầy thì lấp lại đào hố khác. Mùi hôi thối nồng nặc, giòi bọ lúc nhúc, giấy chùi quăng lung tung... thật chẳng ai muốn làm. Hàng ngày những đứa vi phạm kỷ luật sinh hoạt chung như ngủ dậy muộn, chăn màn quần áo quân tư trang gấp không đạt, tóc tai móng tay để dài, tác phong sai lệch, gác không đúng quy định, cãi cọ nhau... phải nhận làm việc này. Mà những quy định về sinh hoạt chung thì hết sức ngặt nghèo, thế nên luôn luôn cứ có những thằng vi phạm để nhận lãnh công việc quét dọn nhà hố xí thay cho những đứa khác.
Ngoài việc quét dọn hố xí của lính thì còn phải quét dọn hố xí của các sĩ quan. Hố xí của các sĩ quan ở gần dãy nhà chỉ huy. Nói chung là sạch sẽ khang trang hơn khu vực hố xí của lính rất nhiều. Nhưng khổ một điều, dọn dẹp nhà hố xí dành cho lính còn có thể làm qua loa được một tý chứ dọn dẹp nhà hố xí sĩ quan phải làm rất kỹ không thể qua loa được. Phải múc nước mà kỳ cọ. Lấy chổi mà quét sạch bong. Làm không tới nơi tới chốn thì bị phạt ngày mai tiếp tục làm lại.
Đám thằng Huy, thằng Đức lông mi dài cùng quê với tôi xem ra thường xuyên phải nhận công việc này. Thằng Huy muốn khùng lên cho rằng do nó không có tiền để mời A trưởng tới Căngtin như mấy thằng lính cậu trong tiểu đội nên bị trù dập. Còn thằng Đức, trong nhà hố xí của lính có thêm mấy dòng chữ mới nắn nót "Thuỳ Dung ơi, anh nhớ em nhiều!", "Quyên ơi..." chắc chắn là do thằng này viết ra.
Quy định về sinh hoạt chung hết sức ngặt nghèo, chỉ một tý ti là phạm phải, hàng ngày số lượng những chú lính vi phạm những tội nhẹ là khá nhiều. Luôn luôn có những hình thức kỷ luật khác nhau để uốn nắn đám lính trẻ. Hình phạt nhẹ nhàng nhất có lẽ là cắt cỏ tưới hoa ở dãy nhà chỉ huy.
Dãy nhà chỉ huy nằm phía trước, gần sát với cổng doanh trại, là dãy nhà cấp bốn với nhiều phòng kề sát nhau. Từ dãy nhà chỉ huy có thể nhìn bao quát được bốn nhà đại đội. Trước dãy nhà chỉ huy là con đường lát đá xe ô tô có thể chạy vào. Cạnh con đường là một khoảng sân nhỏ có trồng một loạt những khóm hoa hồng và hoa đồng tiền cho khu doanh trại bớt đi vẻ khô cằn. Nhưng những khóm hoa này cũng gầy guộc, thấp lè tè và hoa rất ít. Những chú lính bị nhận hình phạt tưới hoa cắt cỏ thì có thể sung sướng thở phào. Coi như là thư giãn tập cho khéo léo tay chân.
Hình phạt nặng nhất là giam vào nhà đá. Cái này dành cho những tội nặng như ăn cắp vặt, đánh lộn nhau, cãi lệnh chỉ huy... vv Nhà đá là căn nhà bằng đá rất kiên cố, thấp, nhiều phòng chật, mỗi phòng có lỗ thông hơi vừa đủ một người đứng xoay xở bên trong. Nhà đá nằm phơi ngoài trời hút nắng rất mạnh. Bị nhốt trong này thì nóng hầm hập khó chịu vô cùng. Nhưng trong ba tháng chúng tôi cũng thấy ít ai bị đưa vào phòng này, bởi lý do phải đích thân thiếu tá Hà mới đủ quyết định có đưa đứa phạm tội vào đó hay không, mà thiếu tá thì luôn cân nhắc cẩn thận chứ không nhốt bừa. Còn thiếu tá Dũng chính trị viên và các đại đội trưởng, trung đội trưởng, A trưởng thì luôn đem chuyện nghỉ mát trong nhà đá ra doạ chúng tôi.
Tuy nhiên có một hình phạt đáng sợ nhất với đám lính trẻ là "bị gọi vào
phòng chỉ huy".
Phòng chỉ huy đây là phòng chỉ huy đại đội. Phòng chỉ huy đại đội nằm ngay sát nhà đại đội, thực ra trong dãy nhà dài mênh mông của đại đội thì nó được ngăn vách thành một căn buồng nhỏ ở phía đầu cùng. Trong căn buồng này có một bộ bàn ghế ngồi uống nước, một chiếc Radio dành cho các sĩ quan nghe tin tức thời sự, một chiếc tủ sắt cao chiến lợi phẩm của Mỹ luôn được khoá kỹ trong ấy chẳng biết có gì và một dãy giường đơn sơ chăn màn sạch sẽ kê sát nhau. Các A trưởng ngủ tại đây. Các sĩ quan cũng thay phiên nhau trực và ngủ đêm tại đây. Việc huấn luyện tân bình đòi hỏi rất nghiêm thế cho nên lúc nào cũng có một sĩ quan túc trực gần đâu đó kể cả khi chúng tôi đi ngủ. Chúng tôi có phiên gác của chúng tôi còn các sĩ quan cũng có các phiên trực của các sĩ quan. Thí dụ như hôm nay là ngày trực của trung uý Cường thì cả ngày sẽ thấy trung uý Cường luôn có mặt đâu đó gần đấy để giám sát chúng tôi, từ việc tập luyện đến việc nghỉ ngơi, cho tới buổi đêm sau khi toàn đại đội báo danh xong đi ngủ thì trung uý Cường cũng ngủ lại ở phòng chỉ huy để giám sát những chuyện bất trắc có thể xảy ra. Sớm mai trung uý Cường sẽ ghi lại nhật ký vào cuốn sổ trực và bàn giao lại cho sĩ quan khác. Việc các sĩ quan luân phiên nhau trực có thể giúp họ đỡ vất vả hơn các A trưởng. Điều này là hợp lý, vì một số sĩ quan có vợ con và nhà cửa ở ngoài doanh trại, cũng cần tạo điều kiện cho họ có thời gian thư thả cho vợ con. Vả lại xét cho cùng các sĩ quan không thể đủ sức khoẻ để lăn lộn như các A trưởng và đám lính trẻ.
"Bị gọi vào phòng chỉ huy" có nghĩa là chú lính phạm một tội danh nào đó được gọi vào phòng chỉ huy. Tại đây nó sẽ được đón tiếp chu đáo...
Tiểu đoàn huấn luyện của chúng tôi nằm kề sát ngay với một trung đoàn công binh hải quân. Trung đoàn công binh này cũng thuộc về bộ tư lệnh hải quân nhưng lại không thuộc vùng Ba. Các sĩ quan chỉ huy của hai đơn vị muốn làm một dãy tường ngăn hai đơn vị với nhau nhưng chưa thực hiện được, vì đơn vị công binh này và đơn vị chúng tôi có dùng chung một con đường lớn cho ô tô chạy vào, muốn làm dãy tường ngăn thì trước hết phải làm được hệ thống đường riêng cho hai đơn vị. Thành thử hai đơn vị đang còn thông nhau chưa ngăn ra được...
Cứ tối tối, sau khi điểm danh xong, trong khoảng 19 giờ đến 21 giờ nhiều đứa chúng tôi sang đơn vị công binh này xem ké Tivi. Vào thời điểm này cuộc chiến tranh vùng Vịnh đang là chủ đề nóng bỏng hàng ngày trên kênh thời sự. Nhưng mà ít có chú lính nào để tâm đến. Chúng tôi sang đấy là để xem nhờ phim. Thời đó đã xuất hiện nhiều loại đầu Video và đơn vị công binh này cũng khá giàu, sắm cho lính một bộ đầu Video để giải trí. Đêm đêm các chú lính trung đoàn công binh này bưng đầu Video cùng màn hình Tivi màu ra ngoài sân rộng và thuê đủ loại phim về xem. Các bộ phim chưởng đấm đá là chủ yếu, nhưng cũng chẳng thiếu gì các bộ phim tâm lý ướt át. Thú thật, chúng tôi hầu hết xuất phát từ nông thôn trước đây chẳng hề biết gì phim ảnh, được xem những bộ phim ấy thì thật là mê mẩn. Đặc biệt, những bộ phim tâm lý ướt át với rất nhiều pha nồng nàn khiến các chú lính ngơ ngẩn cứng cả người.
Càng ngăn cấm cái gì thì cái đó càng kích thích con người ta. Những bộ phim tâm lý ướt át chúng tôi được coi cũng chỉ là loại phim thể loại nhẹ nhàng. Nhưng ngoài đời những bộ phim này lúc thì được chính quyền thả lỏng lúc thì bị chính quyền cấm chặt thế nên lại kích thích lôi cuốn người xem.
Các sĩ quan chỉ huy hình như cũng khá thoáng trong vấn đề phim ảnh. Trừ những phim quá nặng bị cấm đem ra chiếu công khai ngoài trời chứ những bộ phim thể loại nhẹ ấy họ khá lỏng lỏng tay để mặc cánh lính trẻ đi thuê về xem thoải mái. Thậm chí một số sĩ quan trẻ của trung đoàn công binh hải quân cũng thường ngồi xem với chúng tôi. Xem ra các sĩ quan cũng hiểu tâm lý của các chú lính trẻ, trong quân đội toàn đàn ông đực rựa với nhau thì xem những bộ phim ấy cũng không hại gì. Nếu chẳng có chú lính nào muốn xem những bộ phim này mới là điều cực kỳ đáng báo động.
Không dưới một lần mấy thằng cùng tiểu đội tôi thì thào rỉ tai cho tôi nghe rằng mấy thằng ở tiểu đội bên đang có một cuốn sổ tay chép những câu chuyện mô tả chăn gối. Hình như là chuyện: "Cô giáo Thảo". Tôi lắng nghe với sự tò mò thích thú. Và rồi cũng như mấy đứa kia, tôi phụ hoạ cái ý kiến rằng bữa nào đó tìm cách mượn để đọc chơi cho biết.
Ôi, chúng tôi không phải là bậc thần thánh, mà kể cả là thần thánh thì cái chuyện này chắc chắn cũng là bình thường thôi. Ai mà biết được, ở trên cao kia các vị thần nam thánh nữ ngoài những việc đánh cờ ngâm thơ thì còn giấu diếm bày ra các trò gì nữa.
Khi rảnh rỗi ngồi chuyện trò với nhau thì cái chủ đề muôn thuở mà cánh đàn ông luôn bàn đến được mấy thằng lính khéo miệng kể ra nghe cũng thật là sướng tai. Đủ các thứ chuyện được đem kể, chẳng sợ ai nghe lén mà phải ngượng ngùng ... Mấy thằng tinh nghịch trong tiểu đội thường đem đề tài "súng" đứa nào to đứa nào nhỏ ra để so đọ với nhau. Thật đáng tức cười, súng của từng đứa không phụ thuộc vào vóc người và trong tiểu đội tôi súng to nhất không phải là của thằng Dũng to mà lại là thằng Minh tóc vàng người vùng biển. Tổ sư cha, những đứa khác là súng lục chứ thằng này đúng là súng đại bác giấu trong mình.
Dãy phản ngủ của chúng tôi kê liền nhau. Nhiều đêm tôi thấy dãy phản cứ rung nhè nhẹ. Không hiểu tại sao. Nhưng sau đoán ra chắc có lẽ có đứa nào đấy tập bắn súng một mình. Chúng tôi đang là các cậu trai trẻ, điều này âu cũng là dễ hiểu
Trong nhà hố xí, giữa các hình vẽ và các chữ viết nghuệch ngoạc có đầy các vết lem nhem. Điều này chứng tỏ có nhiều thằng đem súng bắn đạn giả tại đây, và rồi lấy tay lau đạn ra khắp lung tung trên tường.
Những điều trên chứng tỏ chúng tôi là những chú gà trống khoẻ mạnh.
Nói chung, theo quan điểm của tôi, những chàng lính phải là những chú gà trống khoẻ mạnh. Lính phải là những chú gà trống biết gáy chứ nếu là những chú gà không biết gáy thì thật chẳng dùng được việc gì. Nếu các chú gà trống không biết gáy mà trở nên giỏi giang hơn trong việc giao đấu được thì từ ngàn xưa trong muôn vàn cuộc chiến chinh liên miên đẫm máu lấy chiến thắng bằng mọi giá thì người ta đã không đem thiến hết những chàng trai trẻ đi ư?