Đối Thoại          Website: Doi-Thoai.com         Email: toasoandoithoai@yahoo.com


ĐẠO HIẾU TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM

     Bài của Ngô Đức Diễm

 

Uống nước nhớ nguồn. Làm con phải hiếu.  Những câu châm ngôn quen thuộc đó mãi còn vang vọng trong văn hóa Việt Nam như một nhắc nhở con cái cháu chắt phải tỏ lòng biết ơn đối với cha mẹ, ông bà tổ tiên. Nhưng hoàn cảnh sống đã đổi thay và phong tục truyền thống cũng không còn y nguyên. Trong giòng sống chuyển dịch đó, sự thể hiện văn hóa nói chung và chữ hiếu nói riêng cũng có nhiều thay đổi, khuyến khích chúng ta  nên có một cái nhìn cởi mở hơn và hợp thời hơn.

Một cách đơn giản, hiếu chính là tỏ lòng kính yêu và vâng phục cha mẹ, ông bà tổ tiên.

Trước hết, hiếu là tỏ lòng kính trọng  đối với cha mẹ ông bà.Thiếu lòng kính trọng, chữ hiếu trở thành vô nghĩa, đưa đến thái độ coi thường, khinh khi hay ruồng rẫy. Các bậc cha mẹ, ông bà tổ tiên đáng được kính trọng, không những vì tuổi tác, mà chính yếu còn vì kinh nghiệm từng trãi ở đời, nhất là sự khôn ngoan hiểu biết tinh kết nhiều năm tháng. Có thể kiến thức chuyên môn của các ngài không được cập nhật hóa, không theo kịp con cháu, nhưng kiến thức tổng quát, kinh nghiệm và sự khôn ngoan ở đời thường vượt trội và có thể làm vốn liếng dạy dỗ, dẫn dắt con cháu cách đối phó với đời.

Thứ đến, hiếu  còn là tỏ lòng yêu thương đối với cha mẹ ông bà. Tình yêu cha yêu mẹ không những là tình cảm huyết thống cùng một giọt máu đào, nhưng còn là tình cảm đạo đức, một tâm tình biết ơn, đền  đáp tình yêu thương vô điều kiện  cha mẹ dành cho con cái. Cha mẹ yêu con, cho đi trọn vẹn, không bao giờ đòi lại hay mong được đền đáp. Nhưng phía con cái, đền đáp tình yêu cha mẹ lại là một bổn phận. Người đời còn biết  “ăn qủa nhớ kẻ trồng cây”, chẳng lẽ con cháu lại đành” ăn cháo đá bát” đối với cha mẹ ông bà!

Tiếp theo, hiếu còn là vâng phục ông bà cha mẹ. Kính yêu trong lòng chưa đủ. Con cái còn phải thể hiện chữ hiếu bằng thái độ vâng phục những lời chỉ dạy khôn ngoan của cha mẹ.  Hẳn nhiên, không ai đòi hỏi con cái phải vâng phục một cách tuyệt đối đến nỗi “cha bảo con chết là phải chết, vì không chết là bất hiếu”(phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu), nhưng nói chung, trong mọi trường hợp, con cái nên nghe lời dạy bảo của cha mẹ, bởi lẽ “cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư”.

Câu hỏi căn bản được đặt ra, là hiếu với ai và tại sao phải hiếu? Nói khác, đạo hiếu hướng tới những đối tượng nào và đặt trên nền tảng nào?

Đối tượng chính yếu  của chữ hiếu hẳn nhiên là Cha Mẹ, vẫn được gọi là các đấng sinh thành. Văn hóa Việt Nam luôn luôn nhắc nhở con cái “công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Mồ hôi và nước mắt của cha còn thấm đọng trên luống cày, trên mái tranh mái ngói và chan hòa trong chén cơm tấm áo. Nguồn thương của mẹ cũng mãi tuôn trào như giòng sữa thơm bất tận. Lòng mẹ trải rộng như biển Thái Bình. Lời ru của mẹ ngọt lịm như lọn mía lau, như chuối ba hương. Con mắt của mẹ luôn luôn theo bước con chập chững “mẹ nhìn con đi phút giây bàng hoàng..” Có những trường hợp, con cái bất bình với cha mẹ, bỏ nhà đi hoang, nhưng rồi trong những phút giây ý thức bừng tỉnh, đã cảm thấy mất mát  tòan diện và cảm nghiệm rằng, không  có nơi nào bằng nhà mình, và không có ai yêu mình bằng cha mẹ mình. Cũng thế, có những người con sống rất vô tình vô ơn với cha mẹ, đến khi cha mẹ mất rồi, mới cảm thấy hối tiếc ân hận thì  đã qúa muộn!

Đối tượng thứ hai của chữ hiếu là Ông Bà. Theo truyền thống đại gia đình, ông bà luôn luôn sát cánh với con cháu trong cuộc sống chung dưới cùng một mái ấm. Trong gia đình, ông bà thường mang lại niềm vui cho cháu chắt qua những câu chuyện cổ tích đời xưa, và nhất là qua những lời  khuyên răn phải trái, những lời dạy bảo hơn thiệt, thế nên, ông bà cũng chia sẻ trách nhiệm về sự nên hư của con cháu “ con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”. Ngược lại, con cháu cũng chính là niềm vui và niền hãnh diện của ông bà. Tuổi già rất sợ cô đơn và rất dễ tủi thân với cảm tưởng bị con cháu bỏ rơi, Thế nên, sự quấn quýt, thái độ quyến luyến của con cháu thường là niềm an ủi vô biên đối với ông bà tuồi đã xế chiều. Hình ảnh bà ngọai dắt cháu ra công viên, ông nội  đón cháu từ trường về, thật tuyệt vời, tạo nên cảm thức tiếp nối và chuyển thông tình nghĩa giữa các thế hệ, làm căn bản cho giòng tộc nói riêng và giống nòi  nói chung.

Đối tượng thứ ba của chữ hiếu là Tổ Tiên. Dân Việt vẫn cảm thất hãnh diện là con Rồng cháu Tiên, thì không thể quên nguồn cội của mình là cha Lạc Long và mẹ Âu Cơ. Nhận thức mình là một  phần tử của bọc mẹ  trăm  trứng nở ra trăm con, không phải là thái độ thần thọai mê tín, mà chính là cảm thức về nguồn cội dân tộc, về sự gắn bó giữa những đứa con cùng cha cùng mẹ, nhất là về sự kết chặt không rời với tình cha nghĩa mẹ, dù phải lưu lạc mười phương hay bị những manh tâm chia rẽ hay đồng hóa với dân tộc khác

            Ý thức về nguồn  còn đưa con  dân dất Việt trở về với mười tám đời Hùng Vương đã có công lập quốc, mở mang bờ cõi và phát huy nền văn hiến trên  bốn ngàn năm của Lạc Việt. Một nén hương trong ngày giỗ tổ, một  câu văn tế kể lại công đức tiền nhân đều mang ý nghĩa về nguồn, khơi lại tâm tình biết ơn  tiên tổ như một truyền thống cao đẹp của  dân Việt:

            Dù ai buôn bán gần xa

            Nhớ ngày giỗ tổ tháng ba ngày mười

Cũng trong tâm tình biết ơn tiên tổ, con cháu cũng không thể quên các anh hùng liệt nữ đã  có công cứu nước và dựng nước như Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Trưng Trắc Trưng Nhị cũng như các văn thi hào đã làm cho gia tài văn hóa của Việt tộc mỗi ngày một phong phú như Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương...

Đó là chưa nói tới hình ảnh những bà mẹ Việt Nam có phảng phất bóng dáng mẹ Âu Cơ như Bà Thiên Yana tại Nha Trang, Bà Đen tại Tây Ninh, Bà Chúa Xứ tại Châu Đốc, nhất là Phật Bà Quan Âm và Đức Mẹ Maria vẫn được tôn kính  khắp nơi như mẹ của muôn  dân, mẹ của muôn đời...

Đối tượng thứ tư của chữ hiếu là Trời Đất. Người dân thường cảm nhận Trời là vị cha lành thi ân giáng phúc, “ơn  Trời mưa nắng phải thì” hay “nhờ Trời một mẫu năm nong thóc đầy”, và cảm nhận Đất như mạch sống trổ sinh hoa thơm trái ngọt. Tâm tình biết ơn Trời Đất nói trên đã được thể hiện một cách rất triết lý qua hình ảnh bánh chưng bánh dầy của Tiết Liêu. Lấy nếp là món qùa của Đất do bàn tay lao tác của con người (nhân) tạo nên bánh chưng vuông là hình ảnh của Mẹ-Đất (địa) và bánh dầy tròn là hình ảnh của Cha-Trời (thiên) để làm lễ vật dâng lên vua là Con Trời. Chính vì sự thể hiện tâm tình biết ơn Trời Đất qua triết lý Tam Tài Thiên-Địa-Nhân cao đẹp đó mà bánh chưng bánh dầy đã trở thành lễ vật văn hóa, không thể thiếu trên bàn thờ  dâng cúng Trời Đất và tổ tiên trong ngày đầu năm.

Dân phải hiếu với Trời Đất, thì Vua là Con Trời, là đại diện dân, lại càng phải thể hiện chữ hiếu với Trời Đất một cách chính thức hơn và trọng thể hơn bằng lễ tế Trời Đất hằng năm gọi là Lễ Giao. Mỗi năm, Vua quan lại từ cung điện, linh đình tiến về Đàn Nam Giao có bệ tròn ở trên tượng trưng cho Trời và bệ vuông ở dưới tượng trưng cho Đất để tế lễ tạ ơn Thiên Địa. Hình ảnh vị vua-thiên tử, đầu đội Trời chân đạp Đất, chấp tay bái lạy Thiên Địa trên Đàn Nam Giao qủa là một thể hiện trọn vẹn chữ hiếu của Con Người đối với Đất Trời.

Câu hỏi căn bản kế tiếp là chữ hiếu đặt trên nền tảng nào? Điều cần xác định ngay là chữ hiếu không phải chỉ là một đức tính, như lòng chung thủy, lòng nhân ái, mà còn là một Đạo, nên người ta thường gọi chữ hiếu là Đạo Hiếu. Là đạo, hiếu gồm có phần ẩn với phần hiện, phần thể với phần dụng. Phần ẩn của đạo hiếu là là lòng kính yêu cha mẹ ông bà, còn phần hiện  chính là lễ nghi  biểu tỏ lòng kính yêu đó, như  mừng tuổi hay chúc  thọ cha mẹ cao tuổi còn sồng và nhang đèn cúng giỗ cha mẹ đã khuất. Cũng thế, phần thể của đạo hiếu là tâm tình biết ơn thầm kín, còn phần dụng của đạo hiếu là thực hiện tâm tình biết ơn đó trong cuộc sống hằng ngày bằng cách ăn ở thế nào để khỏi tủi thẹn gia  phong, nhất là tiếp tục sự nghiệp dạy khôn của  ông bà cho con cháu “ngọt bùi thiếp đã hiếu nam, dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân”.(Chinh Phụ Ngâm)

Phân biệt được cái ẩn với cái hiện, cái thể với cái dụng, người ta  mới nhận thấy tính cách uyển chuyển linh động của đạo hiếu nói riêng và của văn hoá nói chung. Thật vậy, văn hóa và đạo hiếu có thể thay đổi phần hiện và phần dụng để thích ứng với hoàn cảnh, nhưng phần ẩn và phần thể thì luôn luôn vẫn y nguyên như một gía trị vượt thời gian. Chẳng hạn, hôm nay, con cái có thể không cần nuôi nấng cha mẹ già yếu, vì đã có viện dưỡng lão của nhà nước săn sóc. Cũng thế, ngay nay có thể con cháu không cần “quạt nồng ấp lạnh” cho cha mẹ, vì  nhà ở đã có  đầy đủ tiện nghi với máy lạnh máy sưởi, nhưng tâm tình biết ơn, lòng  kính yêu quyến luyến thì luôn luôn vẫn không thể thiếu trong mọi trường hợp, mọi hòan cảnh. Cái ẩn và cái thể vĩnh hằng đó là những gía  trị bất biến, vì được đặt căn bản trên những nền tảng vững chắc.

Nền tảng thứ nhất của  đạo hiếu là đạo làm con. Theo thuyết chính danh của nho giáo, vua là vua, cha là cha, con là con. Vua phải cư xử  đúng theo thiên chức nhà vua, nghĩa là phải thương dân yêu nước thì mới  đáng được gọi là vua. Cũng thế, cha phải cư xử đúng thiên chức làm cha, phải thương yêu dạy dỗ con cái, thì mới đáng được gọi là cha, và con phải cư xử đúng vị trí làm con, tức là phải hiếu với cha mẹ thì mới đáng được gọi là con. Trong ý nghĩa chính danh đó, những đứa con bất hiếu không còn đáng gọi là con, bởi lẽ “một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”

Nền tảng thứ hai của đạo hiếu đạo làm người.  Theo nho giáo, làm người chính là làm nhân làm nghĩa, bởi lẽ nhân là người (    ) và nhân cũng là yêu người, là nhân ái (    ). Nói đến lòng yêu người, thì trước hết phải  nói tới lòng yêu thương cha mẹ là  người đã sát cánh với con cái từ giây phút đầu tiên trong đời và luôn luôn hy sinh trọn vẹn cho con cái không  so đo tính tóan. Nếu không yêu thương cha mẹ, thì thật khó mà nói yêu thương người khác như bạn bè vợ con, nói  chi đến người dưng nước lã!

Nền tảng thứ ba của đạo hiếu là đạo làm dân. Sự tồn tại và  hưng thịnh của quốc gia dân tộc đều do công lao của tổ tiên. Biết ơn tiên tổ, con cháu không có quyền để cho non sông gấm vóc tàn tạ hay lọt vào tay ngọai bang, như Tản Đà đã từng nhắc nhở “ ấy trước ông cha mua để lại, mà sau con cháu lấy làm chơi!” Tội bán nước, tội Việt gian là tội bất hiếu với tiền nhân. Đạo làm dân còn nhắc nhở mọi người phải tỏ lòng hiếu trung với lãnh đạo đất nước. Hẳn nhiên, người dân có quyền truất phế những người lãnh đạo bất xứng hại nuớc hại dân, như Khổng Tử đã khẳng định “ta nghe người ta giết tên Kiệt tên Trụ, chứ ta không hề nghe người ta giết vua”. Thế thì phải hiểu ngược lại, giết vua, giết người lãnh đạo tài ba đức độ, hết lòng với nước với dân cũng là bất hiếu!

Ngòai ra, đạo hiếu còn đặt nền tảng trên đạo Trời. Đó chính là thiên mệnh hướng dẫn con người như giòng nước tạo thuận lợi cho cá bơi lội, để khỏi chết trên cạn trên khô. Thực hiện đạo hiếu chính là sống theo thiên mệnh. Sống hiếu là sống thuận lòng Trời, và đã thuận lòng Trời thì mọi trắc trở đều được có thể vượt qua, mọi bế tắc đều thông suốt. Bất hạnh như nàng Kiều của Nguyễn Du, hết lầu xanh đến làm lẻ rồi quyên sinh nơi Tiền Đường, nhưng nhờ chữ hiếu mà  cuối cùng được giải thóat khỏi nghiệp chướng, được rút tên khỏi sổ đọan trường bởi lẽ “hiếu tâm đã động đến Trời”

Tóm lại, hòan cảnh đổi thay. Cái diện và cái dụng của văn hóa nói chung và chữ hiếu nói riêng cần thay đổi để thích ứng. Hôm nay, con cái không cần để “cha mẹ dặt đâu ngồi đó” hay góp ý một cách lễ phép với cha mẹ không hẳn là vô lễ bất hiếu. Nhưng cái ẩn, cái thể của văn hóa nói chung và chữ hiếu nói riêng thì mãi vẫn tồn tại như những  giá trị bất biến. Lòng kính yêu và vâng phục cha mẹ vẫn mãi là nét đẹp khôn sánh của nền văn hóa Việt Nam. Biết đãi lọc cái xấu, bồi đắp cái tốt, đó là nhiệm vụ gìn vàng giữ ngọc của tòan  thể con dân đất Việt vậy.

                                                                                                 Ngô Đúc Diễm