Đối Thoại          Website: Doi-Thoai.com         Email: toasoandoithoai@yahoo.com


Lê Chí Quang

Chớ tin ở Bắc triều

Trước thềm hội nghì Trung Ương 14 một phái đoàn của Bắc Kinh do Giả Khánh Lâm Uỷ viên thường vụ Bộ chính trị Trung Ương Đảng, Chủ tịch uỷ ban hội nghị chính trị hiệp thương nhân dân TQ  cầm đầu đã đến Hà Nội. Tại cuộc hội đàm vẫn là những nội dung đã quá quen thuộc như : “...Tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền giáo dục nhân dân hai nước về truyền thống hữu nghị, đoàn kết giữa nhân dân hai nước, tiếp tục trao đổi các đoàn đại biểu cấp cao, các đoàn chuyên gia, nghiên cứu sâu những kinh nghiệm công tác trên các lĩnh vực mà mỗi bên quan tâm....” Đây không phải là lần đầu tiên các đoàn đại biểu của Bắc kinh đến Hà Nội, mà trước thềm các cuộc họp có tính chất quyết định đến nhân sự đại biểu của TW Đảng CS Việt Nam, luôn luôn có 1 đoàn đại biểu của TQ đến VN, và thực chất ở những chuyến đi này không gì khác là lên giây cót tinh thần và bảo kê cho các lực lượng tay sai trong Đảng. Và điều đó có gợi cho chúng ta một suy nghĩ rằng một bộ phận cán bộ có chức quyền lớn trong đảng CSVN là người của Bắc kinh, và đang muốn biến VN của chúng ta trở thành một tỉnh của TQ hay không hay xem nhưng phân tích dưới đây sẽ là sàng tỏ thêm vấn đề.

Chúng ta hẳn chưa quên hai hiệp định bán nước là Hiệp định biên giới trên bộ ký năm 1999 và Hiệp định Vịnh bắc bộ ký năm 2000, Do Lê Khả Phiêu, và các lực lượng tay sai trong Đảng CS Việt Nam biểu quyết và hạ bút ký, Đã làm thiệt hại của chúng ta hàng ngàn km2 . Vậy đây có phải là  “truyền thống đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân hai nước” hay không xin điểm lại cái gọi là quan hệ đoàn kết hữu Việt Trung chúng ta sẽ thấy rõ âm mưu sâu xa của chính quyên Trung Cộng đối với nước ta .

 

NHỮNG ÂM MƯU  CỦA TQ ĐỐI VỚI VN.

 

             Trong chiến lược lâu dài của TQ là xây dựng những vùng đệm hay vùng an toàn quanh TQ, và VN là một trong những khu vực đó.

            Xin quý vị chớ nhầm lẫn giữa vùng đệm của TQ và vùng “sân sau” của Mỹ. Vùng “sân sau” theo học thuyết của Tổng thống thứ 5 của Hoa Kỳ là James Monroe đề xướng, đến đời tổng thống thứ 16 là Theodore Roosevelt phát triển thành Hệ luận “Chiếc gậy lớn”. Học thuyết đó  là việc chống sự cam thiệp của các nước Châu Âu thời bấy giờ vào các nước Trung và Nam Mỹ, và cho phép Hoa Kỳ có thể dùng sức mạnh QS đối với các nước trong khu vực nếu ở đó xảy ra những bất ổn về chính trị. Vùng đêm, vùng an toàn mà TQ dựng lên  cũng không giống với học thuyết của Stalin. Vùng an toàn của Stalin là các nước thuộc Đông Âu để bảo vệ biên giới phía tây của Liên Xô chống lại Minh ước NATO. Và Liên Xô cũng sẽ can thiệp nếu tại đấy sảy ra bất ổn về chính trị. Như LX đã từng đưa quân và Hungary 1956, Tiệp 1968. Các vùng an toàn do LX dựng lên đều bị LX chi phối về chính trị.

      Vùng đệm theo học thuyết của Mao ,Đặng, và những thế hệ sau này bước tiếp,  là vùng không những chiụ sự chi phối của TQ về chính trị, phụ thuộc về kinh tế, mà mục đích sâu sa hơn là làm các nước này suy yếu để dễ bề thôn tính. Chúng ta hãy quan sát các nước VN, Lào, Cămpuchia, Miến Điện Bắc Hàn sẽ thấy rõ. Những quốc gia nào có thể dùng quân sự thôn tính được thì TQ làm ngay như chiếm vùng Tân Cương, Tây Tạng,  mang quân chiếm Mông Cổ nhưng không thành, Những quốc gia nào mà không theo họ, thì họ gây hấn tại biên giới như với Pakittan, Â’n Độ, Liên Xô trong những thập niên 60. xúi giục bè lũ tay sai Pôn-Pốt gây nên nạn diệt chủng tại Campuchia, vàgần đây TQ còn ủng hộ phiến quân theo chủ nghĩa Mao tại Nêpan, và Du kích CS tại Philipin, là không ngoài những mục đích trên. Hãy nghe những tuyên bố của những nhà lãnh đạo TQ sẽ rõ. Tại hội nghị quân uỷ TW tháng 9/1959 Mao tuyên bố: “Chúng ta phải chinh phục trái đất. Đó là mục tiêu của chúng ta,” Và cuộc họp Bộ CT Ban chấp hành TW đảng CS TQ tháng 8/1965 Mao lại tuyên bố : “Chúng ta phải dành cho được ĐNA, bao gồm miền nam VN,Thái Lan, Miến Điện, Malaixia, Xingapo... Một vùng như ĐNA rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản... xứng đáng với sự tốn kém để lấy...”. Ngay kể cả lúc tình hữu nghị keo sơn gắn bó hai nước theo kiểu “ môi hở răng lạnh” TQ đã có ý đồ xâm lược VN. Và những âm mưu đó đã được lộ rõ.

 Tại Hội nghị Giơ-Ne-Vơ 1954 TQ đã bán rẻ những người CSVN bằng việc xúi giục Hà Nội ký hiệp định chia cắt đất nước làm hai miền, thực chất của việc này là chuẩn bị cho một vùng đệm an ninh ở phía sau, và TQ muốn duy trì tình trạng VN bị chia cắt lâu dài hòng làm cho VN suy yếu và phải phụ thuộc hoàn toàn và TQ.

Trong cuộc nội chiến giữa hai miền, TQ lại bật đèn xanh cho Mỹ ném bom miền Bắc, và đưa quân tham chiến tại miền Nam bằng một tuyên bố của Mao Trạch Đông năm 1965 với nhà báo Mỹ Ét-ga Xnâu rằng : “ Quân đội TQ sẽ không vượt biên giới của mình để đánh nhau. đó là điều rõ ràng. Chỉ khi nào Mỹ tấn công TQ, người TQ mới chiến đấu.....Đánh nhau ngoài biên giới nước mình là phạm tội ác...”. Chúng ta nên biết rằng trước lúc đó Hoa Kỳ còn e dè việc đưa quân sang tham chiến tại Việt Nam vì lo ngại QĐ TQ sẽ tham chiến như tại chiến tranh Triều Tiên. và sau tuyên bố đó Mỹ an tâm đưa quân sang VN.

 Khi cuộc nội chiến giữa 2 miền đang vào giai đoạn gay go nhất, Chu Ân Lai tuyên bố công khai với Tổng thống Ai Cập A.Nát-Xe ngày 23/6/1965 rằng : “ Mỹ càng đưa quân vào Việt Nam thì chúng tôi càng vui lòng, vì chúng tôi biết được chúng tôi nắm chúng trong tay, chúng tôi cố để lấy máu chúng.... Nếu ngài muốn giúp đỡ người VN thì cần khuyến khích Mỹ ném càng nhiều lính Mỹ vào VN càng tốt....”.

Trong khi Mỹ sa lầy tại Việt Nam và xu hướng đàm phán để chấm dứt chiến tranh đang thắng thế, thì ngày 9/10/1968 một nhà lãnh đạo TQ đã gặp Thứ trưởng Bộ ngoại giao VN và yêu cầu báo cáo với Hà nội rằng : “ Sự thoả hiệp của VN đối với Mỹ là Một thất bại lớn... tổn thất lớn....” và họ đã đề nghị với VN rằng: “ Nên để cho Mỹ bắn phá trở lại miền Bắc, làm như vậy để Mỹ tản mạn mục tiêu oanh tạc, đồng thời chia sẻ bớt khó khăn cho miền Nam...” . Nhưng sau đó miền Bắc vẫn tiếp tục đàm phán với Oasinhton để chấm dứt chiến tranh, TQ lại tuyên bố : “ thế  VN đánh hay hoà để TQ tính việc viên trợ.” Và trên thực tế TQ đã giảm viện trợ cho VN năm 1970 chỉ bằng 50% so với năm 1968.

 Ngày 30/3/1973 công an Bắc Việt bắt được 1 tên gián điệp TQ là Lê Xuân Thành tại Quảng Ninh, trong người hắn có mang chỉ thị mật của Quân uỷ TW đảng CS TQ trong đó có ghi rõ : “...Nước ta và nhân dân Việt nam có mối hằn thù dân tộc hàng nghìn năm nay... . Chúng ta không được coi họ là đồng chí chân chính của mình, đem tất cả vốn liếng của ta trao cho họ. Ngược lại chúng ta phải tìm mọi cách làm cho nước họ ở trong tình trạng không mạnh, không yếu mói có thể buộc họ trong tình trạng hiện nay... . Về bề ngoài chúng ta đối xử với họ như Đồng chí của mình, nhưng trên tinh thần ta phải chuẩn bị họ trở thành kẻ thù của chúng ta...”.

Khi miền Bắc trên đà thắng lợi, Trung Cộng một lần nữa đi đêm với chính quyền Ních-xơn, mang VN ra để đổi lấy Đài loan. Và bắt đầu dùng thủ đoạn QS với VN. Đầu tiên là chiếm đảo Hoàng sa của VN năm 1974. Lúc đó Quân lực VNCH đã cố anh dũng tái chiếm nhưng không được thì tại HN một tay sai của chính quyền miền Bắc là Phạm Văn Đồng lại tuyên bố “Quân đội VNCH chiếm quần đảo Hoàng Sa của TQ tức là xâm lược TQ  ”.

Sau khi miền Bắc chiến thắng miền Nam trong cuộc nội chiến cả nước VN thống nhất, TQ đã dùng mọi thủ đoạn chính trị, quân sự, ngoại giao để làm suy yếu VN, hòng làm khuất phục nhân dân VN. Đầu tiên họ dùng Pôn-Pốt xâm lược VN ở phía tây nam, và lực lượng QS của TQ mở đợt tấn công tại biên giới phía bắc nước ta. Nhưng nhân dân VN anh dũng đã đánh thắng cả hai cuộc chiến trên bộ, và thấy không thể xâm lược VN bằng đường bộ thì TQ chuyển hướng sang xâm lược trên biển vì hải quân TQ mạnh hơn hải quân VN rất nhiều. Từ năm 1982 đến 1988 TQ đã lần lượt chiến hầu hết các đảo thuộc chủ quyền VN tại quần đảo Trường Sa.

Trước trào lưu hoà bình và dân chủ của thế giới Bắc Kinh thấy rằng không thể dùng vũ lực để xâm lược Hà Nội họ bắt đầu thay đổi chiến lược là dùng các biện pháp khác khôn ngoan hơn để thôn tính VN. Đầu tiên là bình thường hoá quan hệ giữa hai nước 1991 và sau đó giật dây cho các lực lượng tay sai trong Đảng tiến hành nhiều biện pháp để học tập các mô hình phát triển của TQ, nhưng thực chất là để tạo điều kiện cho các lực lượng tay sai leo cao vào bộ máy nhà nước, và sau đó dần dần từng bước thôn tính VN bằng các thủ đoạn ngoại giao mà không cần phải tốn một viên đạn, một giọt máu. Và 2 Hiệp định biên giới, và vịnh Bắc Bộ chính là một minh chứng hùng hồn và quan điểm trên. 

Thực chất VN nằm trong vòng kiềm toả và nằm trong âm mưu thâm độc của CSTQ phải được tính kể từ sau  chiến dịch biên giới 1950 VN mở được cánh cửa thông sangTQ thì đó cũng là lúc VN nằm trọn  trong vòng tay của chính quyền Trung Cộng. Mọi đường lối kinh tế, chính trị ngoại giao pháp luật của VN cho đến ngày nay đều học theo cái nhãn hiệu  “Made in China”. Và cũng xin thưa rằng cái nhãn hiệu Made in China luôn luôn là đồ rởm theo các nghĩa bóng lẫn nghĩa đen.

Xin kể ra đây những ví dụ để thấy rằng VN dập khuôn một các máy móc và ngốc nghếch mọi công thức “phát triển” nhưng thực chất là huỷ diệt của XH củaTrung Cộng.

TQ có cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ VN có. TQ cải tạo tư sản, cải tạo công thương nghiệp VN cũng bắt chước. TQ đưa trí thức về lao động sản xuất ở nông thôn VN cũng đưa. TQ lấy Chủ nghĩa Mác và tư tưởng Mao làm kim chỉ nam cho công cuộc XD CNXH, VN lấy Chủ nghĩa Mác và tư tưởng HCM làm tương tự.... .TQ làm cách mạnh VH thì tại VN có vụ án Nhân văn giai phẩm.  TQ phát động phong trào phá đền chùa thì VN cũng phá. Và sau khi đi theo mô hình kinh tế XHCN bị sụp đổ TQ đổi ngay sang kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ít lâu sau ta thấy khẩu hiệu này tại VN. TQ chỉ phong cấp Thượng tướng cho Bộ trưởng quốc phòng VN cũng phong Thượng tướng. Gần đây TQ lại phong Đại tướng cho Bộ trưởng. VN lại phong Đại tướng. TQ tăng lương cho các sỹ quan trong QĐ và CA nhằm lôi kéo lực lượng ủng hộ VN cũng tăng lương cho sỹ quan QĐ và CA. TQ có Nghị định về truy cập Internet nhưng thực chất là để ngăn chặn việc công dân truy cập và các diễn đàn DC tại Hải ngoại  VN cũng có ngay Nghị định tương tự. TQ vu khống môn phái Pháp Luân Công là khủng bố thì tại VN Tin lành Đe-ga cũng chịu số phận tương tự. TQ Cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước, nhưng thực chất là để lấy tài sản của nhà nước chia cho các Đảng viên pham nhũng VN cũng Cổ phần. TQ cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân không hạn chế về quy mô thì tại văn kiện Đại hội X lần này ta cũng thấy xuất hiện khẩu hiệu đó. Ngay cả việc TQ cấm đốt pháo thì tại VN cũng cấm đốt pháo. Gần đây TQ đã cho đốt pháo trở lại thì VN cũng đang xem xét việc cho đốt pháo trở lại.

Tôi thiết nghĩ nếu giả xử tại TQ có một nhà lãnh đạo bỗng nhiên bị điên và cho ra đời một khẩu hiệu là bắt ND phải ăn phân các lãnh tụ để tỏ lòng trung thành với Đảng với CNXH, thì tôi tin chắc rằng  ít lâu sau tại VN cũng có khối kẻ phải ăn phân.... .

 Những thống kê ở trên chắc các vị cũng đã rõ. Và những nhà lãnh đạo CS VN thì càng phải hiều rõ hơn ai hết. Nhưng trước trào lưu DC trên thế giới lên cao, kéo theo sự sụp đổ của các thể chế độc tài CS tại LX và Đông Âu những người bảo thủ trong Đảng lại càng phải bám vào TQ, họ coi TQ như con bò sữa và bám vào cái “vòi” sữa hòng mong con bò mẹ xuất ra những dòng năng lượng cho họ củng cố quyền lực, và nhằm những mưu lợi cá nhân bỏ mặc danh dự và chủ quyền của dân tộc. Nhưng eo ôi hãy nhìn lại đi TQ không phải là con bò cái đâu.... . Gần đây một số lược lượng tiên tiến trong đảng cũng tỏ ra có chút trí khôn khi chơi trò “gián điệp hai mang” bắt tay với Mỹ về kinh tế và hợp tác về QS để làm giàu , chơi với TQ để củng quyền lực. Điều này làm chúng ta liên tưởng đến một cô gái lẳng lơ, ban ngày “hót” diệu “wo ai ni” với Bắc Kinh đêm về lại ủng oẳng bài “l like your money” với Hoa Thịnh Đốn.  Còn về phía Hoa Kỳ cũng không muốn làm căng với VN trên hồ sơ nhân quyền vì sợ VN nhảy hẳn vào lòng TQ điều mà Mỹ không muốn, nên VN là bài toán chưa có lời giải . Về phần TQ càng phải giữ chặt VN trong tay nếu để mất VN TQ sẽ bị “hồi mã thương”. Và để VN tiếp tục phát triển theo mô hình đó để tiếp tục chính sách thôn tính. Tóm lại chính quyền CS các nước VN và TQ, một mặt qua sang đường lối KT kiểu Tư Bản, một mặt thay đổi lý luận theo kiểu A Quy. Và dù phương phát và mánh lới có “nhuận tràng” đến đâu đi chăng nữa vẫn không che đậy được bản chất “ Đảng CS là đội tiên phong.......Lãnh đạo Nhà nước và xã hội” Nhưng thực chất đây là việc Vô sản hoá nhân dân, bần cùng hoá XH và Tư bản hoá Đảng viên CS dưới nhãn hiệu Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Và cuối cùng là biến VN trở thành một tỉnh của TQ.

Sau Hội nghị T/Ư vừa kết thúc, có nhiều nguồn tin lọt ra là lực lượng tay sai đã thất thế và một người xuất thân từ miền nam lên làm Tổng Bí Thư (điều này chưa từng xảy ra), tôi hy vọng rằng chúng ta có thể thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Cộng, và đưa Việt Nam hội nhập với thế giới văn minh và nền DC của thế giới. Còn bằng không cứ tiếp tục cái mô hình TQ thì   NGÀY TẬN THẾ ĐANG ĐẾN GẦN.

                  .  

 

      Ngày tận thế của CS Trung Quốc.

 

             Trung Quốc hiện nay là nước có GDP đứng hàng thứ 4 trên thế giới . Cứ nhìn vào sự phát triển KT,QS của TQ mọi người sẽ cho rằng TQ sắp thống trị cả Thế giới, và những lực lượng tay sai sẽ nghĩ rằng TQ sẽ cho họ mãi mãi quyền lực, thì xin các vị đừng có mơ lâu nữa. Tôi cho rằng sự phát triển hiện nay tại TQ là rất “vô học” ( vô học là cách gọi của tác giả), và đang tiềm ẩn một nguy cơ khủng hoảng cao trong XH. Và sự ra đi của đảng CSTQ là một tất yếu của lịch sử.

      Thật vậy : Mức tăng trưởng KT hàng năm của TQ là 9% nhưng chủ yếu là do vốn của các công ty nước ngoài không phải do các công ty trong nước. Mà việc tăng trưởng lại do xuất khẩu không phải do tiêu dùng nội địa. TQ có lợi thế xuất khẩu vì đồng Nhân dân tệ bị nhà nước khống chế giá trị thấp hơn giá trị thực của nó so từ 15%-30%, và vì TQ trả lương cho người lao động rất thấp, nên hàng hoá của TQ mới có lợi thế trên thị trường, Điều gì sảy ra nếu TQ bị buộc phải nâng đông Nhân dân tệ lên đúng giá trị thực của nó. Hàng hoá TQ sẽ không bán được trên thị trường vì nó cùng chủng loại với hàng hoá các nước trong khu vực ĐNA , đều là những thứ có hàm lượng trí tuệ không cao như lắp ráp linh kiện và dệt may. Khi đó hàng TQ không còn lợi thế về giá người ta sẽ đổ đi mua hàng của các nước trong khu vục vì hàng của các nước ĐNA tốt hơn. Hàng triệu lao động TQ sẽ thất nghiệp .

               Sự phát triển của TQ lại phụ thuộc hoàn toàn vào năng lượng nhập khẩu, điều gì sảy ra khi các nguồn cung cấp đó bị cắt, hoặc bị gián đoạn.

              TQ thi hành một chính sách cạnh tranh không lành mạnh trong KT như trợ giá cho các hàng hoá xuất khẩu, đều này đã làm các nước nhập khẩu không hài lòng. Trong hai năm 2004-2005 Mỹ và liên minh Châu  đã áp dụng mức thuế chống bán phá giá lên các mặt hàng của TQ như: Thuỷ sản, giầy da, vải sợi làm các doanh nghiệp xuất khẩu của TQ lâm vào tình trạng khó cạnh tranh trên thị trường.

               TQ thiếu các biện pháp bảo vệ sử hữu trí tuệ, nạn đánh cắp sử hữu trí tuệ, sao chép sản phẩm VH tại TQ đứng hàng đầu thế giới. Nhiều công ty công nghệ cao của Nhật và Mỹ và Châu Âu  không tiếp tục đầu tư vào TQ mà chuyển sang các nước khác, vì họ sợ sản phẩm của họ bị TQ ăn cắp hoặc làm nhái. 

              Tăng trưởng KT quá nóng nên không kịp tăng trưởng các cơ sở hạ tầng vật chất và các phúc lợi và an sinh xã hội, nông dân lại không được bảo hiểm y tế cũng như các chế độ hưu bổng. Sự   phát triển lại chỉ tập trung tại các vùng phía đông nên tạo khoảng các giữa nông thôn và thành thị tạo hố sâu ngăn cách trong XH giữa người giầu và người nghèo, giữa người ở  nông thôn và người sống tại thành thị, giữa người ở phía đông với người tại phía tây. Tỷ lệ chênh lệch hiện nay là 3.1/1, so với 1.8/1 trong thập niên 80.

      Vì chỉ chú trọng tới xuất khẩu không có các biện pháp kích cầu nên tiêu dùng nội địa tại TQ trong 10 năm qua đã giảm 10% từ 46% năm1995 đến 36%.năm 2005.

               Cái gọi là kinh tế thị trường theo định hướng XHCN có nghĩa là không tôn trong quyền sở hữu về đất đai của ND, nhưng do nhu cầu phát triển KT,đất nông nghiệp bị quốc hữu hoá, công nghiệp hoá mà không được đền bù, hoặc đền bù không đáng kể. ND mất ruộng đất bị đẩy ra thành phố tạo một sự quá tải tại các vùng đô thị. Người ND do không có nghề nghiệp gì nên tại các đô thị họ phải làm việc vất vả với đồng lương bèo bọt. Các viên chức chính phủ tại địa phương  trắng trợn cướp đất của dân chia cho người trong gia đình, càng tạo sự căm phẫn trong nhân dân.

              Do áp dung chính sách sinh một con từ năm 1979 nên 1 người trưởng thành ngày nay phải cáng đáng 2 bố mẹ và 4 ông bà tổng cộng là 6 người. Nếu anh ta lấy vợ và có 1 con tổng cộng anh ta phải nuôi 14 miệng ăn. Không còn đất để canh tác 14 miệng ăn đó phải  trông cậy và 1 người, người đó lại bị trả một đồng lương rẻ mạt, và nếu anh ta lại thất nghiệp, thì điều gì sẽ sảy ra.

             Bộ máy chính quyên khổng lồ quan liêu, bộ máy Đảng cũng thế, Nên người lao động phải cõng trên lưng hàng triệu kẻ ăn không ngồi rồi. Gây nhiều bất bình trong XH.   

            Mỗi năm có hoảng 1 triệu viên chức bị tố các tham ô mà không bị xử lý. Hàng năm quan chức tham ô của TQ gửi tiền ra nước ngoài 3-5% GDP.

Phát triển KT một cách bừa bãi không tính toán quy hoặc một cách khoa học nên môi trường sinh thái bị huỷ hoại nhiêm trọng. Sự khô cạn của sông Hải hà và sông Hoàng Hà, sự ô nhiễm trên các sông Dương Tử, và sông Hoài, biến những vùng đất trù phú xưa kia thành hoang mạc. Đồng cỏ tại các vùng Mội Mông,Cam Túc, Thanh Hải, Tân Cương biến mất. Tình trạng chặt phá rừng lấy gỗ xuất khẩu không kiểm soát được dẫn đến tình trạng hạn hán, lũ lụt, đất bị sa mạc hoá bão cát  đang diễn ra như cơm bữa. 75% của 50.000km sông bị ô nhiễm không phù hợp cho cá sinh sống. 1/3 lượng nước ngầm bị ô nhiễm.

               Đất đai ô nhiễm những vùng đất của TQ bị bỏ hoang tăng từ 1000 km vuông lên 2460 km vuông. Đất trồng trọt trên đầu người giảm từ  2 mẫu năm 1980 xuống còn 1.43 mẫu vào năm 2003. chỉ trong vòng vài năm TQ thu hồi hàng trăn triệu mẫu đất của nông dân, nhưng chỉ 43% trong số đó được đưa và sử dụng số còn lại bị bỏ hoang. Hàng chục thứ thuế vô lý đè lên đầu người nông dân.

             Các viên chức chính quyền tại địa phương tam nhũng chiếm đất của nông dân đẩy ND vào con đường bần cùng hoá “ tức nước vỡ bờ” người dân bắt đầu đứng lên phản kháng. Chỉ riêng trong năm 2005 ở TQ sảy ra 87.000 vụ biểu tình và hầu hết bị đàn áp một các dã man.

             Tại TQ hiện có hơn 100 triệu người sống dưới mức nghèo khổ, thu nhập dưới 1 USD / ngày. 1/2  dân số nông thôn không có nước sách để dùng, và do môi trường bị ô nhiễm nặng, nên TQ là trung tâm phát sinh các dịch bệnh như: SARS, bệnh Lợn đóng giấu, bệnh Cúm gia cầm, hàng trăm triệu người nhiễm HIV, tạo một gánh nặng cho XH.

              Năm 1997 tại Châu á xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính, TQ tránh được vì TQ khi đó chưa phải là thành viên của tổ chức thương mại thế giới. Cuộc khủng hoả đó có nguyên nhân là các nhà đầu tư tài chính quốc tế ồ ạt rút vốn và bán tháo cổ phiếu của mình trên thị trường. Năm 2001 TQ là thành viên thứ 143 của tổ chức WTO. Điều đó có nghĩa là TQ sẽ buộc phải mở cửa thị trường tài  chính trong nước cho tư bản nước ngoài, và các nhà tư bản cũng có quyền mua cổ phiếu của các công ty của TQ.

          Trong những năm sắp tới do sức ép của Châu  và Hoa Kỳ TQ sẽ phải nâng giá đồng Nhân dân tệ lên, nó sẽ khiến hàng hoá của TQ khó cạnh tranh trên thị trường, một khi thấy không có lãi các nhà Tư bán sẽ rút vốn, và một cuộc khủng hoảng tài chính tương tự như tại Châu á sẽ sảy ra.

                 Hiện TQ đã cho phép Đảng viên được làm KT, và không hạn chế về mức độ quy mô. Tưởng rằng làm như vậy Đảng sẽ lôi kéo được một lực lượng ủng hộ mình, nhưng xin thưa : Vì chỉ độc Đảng nên  thiếu một cơ chế giám sát và những chế tài ràng buộc, càng tạo điều kiện cho Đảng viên tham nhũng và hợp thức hoá tài sản ăn cướp của dân. Điều đó càng khoét sâu mối ngăn cách giầu nghèo, đẩy thêm những bất công trong xã hội.

    Tóm lại sự phát triển KT tại TQ hiện nay chỉ là cách lấy mồ hôi nước mắt, và tài sản của người nghèo chia cho người giàu và chủ yếu là các Đảng viên và người thân trong gia đình họ. Nó hoàn toàn đi ngược lại tung chỉ của Chủ Nghĩa Marx và khẩu hiểu mà những người CS đề ra khi còn ở trong bào thai.  Tất cả những điều kể trên sẽ như những ngọn lửa âm ỷ cháy và chỉ cần một cơn gió nó sẻ thổi bùng lên ngọn lửa đốt cháy thể chế chính trị CS tại TQ. Còn giới trí thức đang đấu tranh cho DC tại TQ hiện nay mạnh hơn bao giờ hết. Họ có hàng vạn người ,cũng xin các vị nhớ cho rằng TQ có Thiên An Môn trước cả cuộc cách mạng Nhung tại Đông Âu. Điều đó có nghĩa là họ đã nhận thức và giác nhộ trước rồi. Vụ đàn áp tại Thiên An Môn, hay việc bức hại những học viên của môn Pháp Luân Công chỉ gây thên sự căm phẫn trong nhân dân mà thôi. Sự phát triển của công nghệ thông tin đã xé tan bức màn sắt của CNCS tại TQ. Chính quyền TQ đã cố gắng dựng lên những “Vạn lý tường lửa” để ngăn chặn, nhưng cũng không thể chặn nổi. Người ta gửi cho nhau những E-mail theo kiểu Spam và cả các công chức trong bộ máy nhà nước và cả các cơ quan hành chính nhà nước  cũng nhận được, họ  nhắn tin cho nhau qua điện thoại di động , dạy cho các vượt tường lửa. Tất cả những hành động đó chỉ cần thời cơ là một nguyên nhân đổ vỡ về KT hoặc một sự thay đổi về quyền lực trong Đảng là nông thôn và thành thị nhất tề đứng dậy. Những nhà lãnh đạo CSTQ hiện nay cũng khó có thể trông cậy và quân đội như dưới thời Mao, Đặng, vì họ đều xuất thân từ viên chức hành chính nên không có mối quan hệ thân thuộc như trước. điều đó có nghĩa là khó có thể trông cậy vào quân đội để đàn áp dân chúng.

Còn một điều hết sức quan trọng là từ năm 1997 Hông Kông đã trở về với TQ. HK chính là hậu phương vững chắc cho nền DC tại TQ. Tại HK dã từng sảy ra những cuộc biểu tình đòi DC mà số người tham gia lên tới nửa triệu người. Và các Môn đồ của Pháp Luân công khi lánh nạn CSTQ cũng chạy sang HK. Hồng Kông chính là hạt giống để gieo trồng thứ cây DC trên mảnh đất TQ.

               Sự sụp đổ của CS TQ sẽ diễn ra không lâu nữa, vì đó là quy luật tất yếu của lịch sử. Kèm theo nó  là hiệu ứng Đôminô đối với các nước nằm trong vùng đệm của TQ. Điều này đã từng xảy ra tại Đông Âu sau khi Liên Bang Xô Viết tan rã. Việt Nam cũng không thoát khỏi sự ảnh hưởng này. Và điều gì sẽ sảy ra xin nhờ những nhà lãnh đạo trong Đảng giải giúp. Đảng có thể tiếp tục đồng hành cùng dân tộc, nếu Đảng nhận thức được vấn đề.Chỉ cần công khai xin lỗi trước dân chúng về những lỗi lầm cũ do ấu trĩ và ngu dốt, Trong đó xin lỗi nhân dân miền Nam vì đã gây nên cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn này, Tịch thu tài sản của bọn tham nhũng, Nêu cao khẩu hiệu Hoà hợp và hoà giải dân tộc đoàn kết với các lực lượng tại Hải ngoại để cùng bắt tay XD lại đất nước.Dân ta vốn giàu lòng nhân ái và vị tha tôi thiết nghĩ nhân dân sẽ quên đi hoặc bỏ qua những quá khứ lỗi lầm của Đảng.  Và đa nguyên là điều không thể thiếu trong một thể chế chính trị DC . Tên gọi XHCN hay CSCN cũng không quan trọng, miễn là ở đó thực sự DC, và người dân có quyền trực tiếp bầu chọn những người xứng đáng đại diện cho mình vào Quốc Hội và các cơ quan quyền lực nhà nước khác.   Bằng không Đảng sẽ phải trả lại quyền lực cho ND, để ND tự quyết định vận mệnh của DT mình. Và tôi tin chắc rằng một tương lai sáng lạng đang chờ chúng ta ở phía trước và Dân tộc ta có thể đứng vững trên đôi chân của chính mình. Việt Nam sẽ mãi mãi là Việt Nam ./.

                                                         Xuân Bính Tuất

                                                          Lê Chí Quang.

                                          22 phố Trung Liệt Đống Đa  HN