Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Lính Thời Bình (7) |
Những thiên anh hùng ca về người lính thời chiến chinh được mô tả rất nhiều và thường gây được xúc động sâu sắc lòng người. Thế còn cuộc đời những người lính khi thời bình ra sao? Cuốn sách này sẽ kể cho bạn nghe chơi...
Tên nhân vật trong câu chuyện không phải là thật.
Một số chi tiết sự kiện được sửa đổi
Và trong câu chuyện dài này cũng có rất nhiều đoạn được hư cấu thêm thì tất cả chúng cũng không đi ra ngoài sự thật bao nhiêu.
Câu chuyện này dài, rất dài, có thể bị cho rằng nhiều trang mô tả những điều quá vụn vặt. Nhưng nếu không mô tả chúng thì cũng chẳng có mấy điều gì nữa để mà kể. Than ôi, có lẽ phải nhờ rất nhiều đến những chi tiết tầm thường vụn vặt mới có thể làm nổi được hình ảnh của người lính trong thời bình, hình ảnh mà rất ít người chịu bớt chút thời gian để ngẫm suy.
Nguyễn Ngọc Nam Phương - Lính Thời Bìnb (chương 1)
Nguyễn Ngọc Nam Phương - Lính Thời Bình (chương 2)
Nguyễn Ngọc Nam Phương - Lính Thời Bình (chương 3)
Nguyễn Ngọc Nam Phương - Lính Thời Bình (chương 4)
Nguyễn Ngọc Nam Phương - Lính Thời Bình (chương 5)
Nguyễn Ngọc Nam Phương - Lính Thời Bình (chương 6)
CHƯƠNG 7
Những bài học chính trị
Tuần lễ huấn luyện thứ hai rồi cũng nặng nề trôi qua. Chúng tôi vui mừng lại đã đến ngày Chủ nhật.
Tôi may mắn cũng không phải gác vào ngày Chủ nhật tuần này nên có thể xin phép ra ngoài được. Thằng Phúc béo có một người bà con ở thành phố Đà Nẵng. Nó rủ thằng Dũng to đi chơi thăm và hai đứa Nghệ An này cũng muốn rủ luôn cả tôi đi nữa. Thích thú với việc dạo chơi giữa một thành phố lớn của đất nước nên tôi đồng ý liền.
Sáng sớm, ba đứa chúng tôi ra chợ Mai bắt xe đò để tới Đà Nẵng. Chiếc xe đò cũ kỹ máy kêu phành phạch inh ỏi, trên xe chất đầy hàng tôm cá và nước mắm tanh nồng. Lơ xe luôn thò cả người ra khỏi xe hét người qua đường :"Dẹp dô! Dẹp dô!" thay cho tiếng còi. Mấy đứa tôi ngồi ở đằng sau xe. Trên chuyến xe này chủ yếu là các bà các chị đi buôn hàng. Tôi ngồi cạnh một bà già nhất. Bà ta nhìn dáng không phải là dân buôn bán, vẻ mặt hiền hậu hơi vẻ tiều tuỵ. Ngồi cạnh, bà cứ nắm chặt lấy tay tôi, nhìn tôi không chớp với cặp mắt u uẩn buồn bã. Động lòng trắc ẩn tôi định hỏi vài điều nhưng tiếng xe ồn quá tôi không mở miệng ra hỏi được.
Khi xe dừng bánh ở một cái chợ gần bến phà sông Hàn, chúng tôi xuống xe loay hoay móc túi trả tiền thì bà già hiền hậu ấy lấy tiền ra trả luôn cho chúng tôi. Chúng tôi ngơ ngác. Thằng Phúc béo nhanh nhảu:
- Này bác ơi, bác để chúng cháu trả tiền...
Bà gạt tay thằng Phúc ra:
- Các con là lính, làm gì có nhiều tiền, mấy đồng tiền xe này bác trả hộ cho.
Định xoay lưng bỏ đi. Nhưng rồi đột ngột níu lấy tay áo tôi, bà già nói:
- Con ơi, nhìn các con bác lại thấy nhớ con trai của bác...
Hơi tò mò ngạc nhiên, tôi hỏi:
- Thưa bác, con trai bác giờ làm gì ạ!
Bà già run run:
- Nó chết rồi các con ạ. Nó cũng đi lính như các con, nhưng là lính Cộng hoà, đi lính được một năm thì trúng đạn chết...
Nói đến đó bà già ấy nghẹn ngào, dứt vội tay ra khỏi áo của tôi và chùi nước mắt trên gương mặt nhăn nheo, bà hấp tấp vội vã đi sang bên đường. Chúng tôi ngơ ngẩn đứng như bị chôn chân nhìn theo bóng dáng xiêu vẹo ấy mau chóng mất hút giữa các ngõ ngách ngoằn ngoèo.
Lính Cộng hoà, có nghĩa là lính "nguỵ", con trai của bà già này là lính nguỵ và đã chết từ lâu.
Thằng Dũng to cũng có cái vẻ sững sờ suy nghĩ. Chỉ riêng thằng Phúc béo là vẫn tỏ ra vô tư lự, nó cũng sững sờ ngạc nhiên nhưng chủ yếu là sững sờ ngạc nhiên do bị tác động bởi những thái độ cử chỉ bất ngờ của một người đàn bà hiền lành xa lạ còn thì những từ như "lính Cộng hoà" "cũng đi lính như các con" "được một năm thì trúng đạn chết" không đủ sức xuyên vào đầu óc nó để buộc đầu óc nó phải động đậy. Tôi và thằng Dũng to trao đổi với nhau những cái nhìn đầy suy nghĩ. Thằng Dũng to định nói cái gì nhưng rồi lại thôi. Đường phố đông đúc chật chội quá, những vấn đề như vậy không phải là đem ra bàn luận giữa đường giữa phố. Nó và tôi im lặng bước. Thằng Phúc béo đi bên cạnh không chen vào sự im lặng của chúng tôi, gương mặt tròn vo của nó cứ nghiêng ngó nhìn nhà cửa lạ mắt cùng với những người đi lại trên đường.
Dòng sông Hàn mênh mông xanh biếc. Từ bờ bên này nhìn sang như thể là trông thấy một nửa thành phố Đà Nẵng nghiêng nghiêng in xuống mặt sông. Chiếc phà to chứa được hàng trăm người lẫn xe đạp xe máy chen chúc nhau, một chiếc đầu máy tàu nhỏ kéo phà chậm rãi đưa chúng tôi sang sông. Bọn trẻ bán báo, bán thuốc lá và bán vé số lượn chung quanh rao bán inh ỏi.
Con đường Bạch Đằng nằm ở ngay bên kia sông Hàn tuyệt đẹp với những hàng cây xà cừ đại thụ. Những gốc xà cừ sần sùi đường kính khoảng bảy tám mươi phân được quét vôi trắng phía dưới, cành cành đan nhau xoắn xuýt, tán lá rộng với những chiếc lá tròn dày mập mạp đè lên nhau, chúng toả bóng mát lên khắp con đường, tạo cho con đường một nét nên thơ kỳ lạ.
Chúng tôi đi bộ vì phải tiết kiệm tiền. Đến chợ Hàn thì hoàn toàn chẳng biết đường nào mà đi nữa... Nhà cửa chen chúc, những con phố dài dằng dặc với những ngôi nhà to lớn uy nghi, người người đi lại rộn ràng tấp nập. Thú thật tôi cảm thấy choáng ngợp thật sự. Đà Nẵng là một thành phố rất lớn của miền Trung. Thành phố này nằm sau vùng đèo Hải Vân và được những ngọn núi chất ngất của vùng đèo che chắn những cơn gió mùa Đông Bắc rét mướt độc địa, các đường giao thương lớn như đường sông đường bộ đường biển đường không đều rất tấp nập. Một thành phố sẽ khó có thể phát triển thành tầm vóc lớn nếu thiếu đi địa thế. Mà về mặt địa thế thì Đà Nẵng không thua kém ai và có lẽ là một trong những thành phố có địa thế đẹp nhất của vùng Đông Nam Á.
Chúng tôi đứng ngẩn ngơ bên chợ Hàn, nhà người bà con của thằng Phúc béo gần chợ này. Nhưng ở đây đâu có phải như ở quê, chung quanh chợ là nhiều con phố khác nhau với hàng ngàn người ở, hỏi thì chẳng ai biết ai cả. Loay hoay một hồi, biết rằng chẳng thể tìm ra nổi, chúng tôi quyết định đi vào chợ Hàn ngắm chơi cho biết. Rồi chúng tôi đi lang thang khắp trên những con phố của Đà Nẵng. Nhiều phố có vẻ khá cổ với những ngôi nhà đã được xây dựng từ rất lâu trước thời 1975. Những ngôi nhà này có một vẻ gì đó khá đặc biệt. Bêtông cốt thép rất vững vàng nhưng hình như chúng không được tu bổ bảo dưỡng đúng cách nên khoác bên ngoài một vẻ buồn bã tiều tuỵ. Một vài con đường đang được mở mang cho rộng rãi ra. Ngắm nhìn những thân cây bị đốn ngã bất giác tôi cảm thấy chua xót. Thành phố Đà Nẵng rất ít cây cối. Những hàng cây ven đường tạo cho phố xá nét thanh tao bớt đi những sự nặng nề của ngàn vạn ngôi nhà bêtông sắt thép chen chúc nhau. Khi mở rộng đường người ta không thương tiếc chặt bỏ những hàng cây. Thật là vô ơn vô tình. Để làm một con đường đẹp chỉ cần một năm, nhưng để làm nên một hàng cây đẹp trên con đường ấy phải đến hàng mấy mươi năm.
Lòng vòng khắp trên các con đường Đà Nẵng rồi chúng tôi lại quay trở lại con đường Bạch Đằng rộng rãi đẹp đẽ nằm bên bờ sông Hàn. Thú thật, ở quê chúng tôi đi bộ cả ngày cũng không cảm thấy mỏi mệt, nhưng chỉ mấy tiếng đi bộ trên các con đường Đà Nẵng đã thấy rã rời. Tôi suy nghĩ và cho rằng, có lẽ trên những con đường quê rộng rãi giữa đất trời bao la cứ thả lỏng mình tự nhiên mà bước nên ít thấy mệt. Còn giữa chốn thị thành đông đúc người người chen chúc nhìn ngó lẫn nhau khiến đi trên ấy thốt nhiên gò bó toàn thân không thả lỏng tự nhiên được, đập vào mắt là đủ các hình ảnh, chui vào tai là đủ tiếng động và thêm nữa không khí hỗn tạp không được trong sạch bằng, tất cả những cái ấy đều làm các giác quan và thần kinh con người ta căng thẳng nên rất mau chóng thấy mỏi mệt.
- Đà Nẵng đẹp thật! Thằng Phúc béo nói: Tổ sư cha, cũng nhờ người bà con trốn quá kỹ của tao thì mới biết Đà Nẵng như thế nào!
Chúng tôi đang ngồi ở một hàng bán nước mía ép cạnh con sông Hàn. Thằng Phúc béo nói điều ấy ra chiều mê mẩn. Cũng như tôi, hai thằng này cũng không giấu được sự choáng váng vì lần đầu tiên được đặt chân đến một thành phố lớn.
Thằng Dũng to trầm ngâm:
- Tao nghe nói, nếu miền Nam tiếp tục tiến lên con đường Tư bản chủ nghĩa thì giờ đây có lẽ không thua kém gì những con rồng châu Á khác như Hồng Kông, Sinhgapo, Hàn Quốc... Mẹ kiếp, sao mà tao thấy nghi ngờ những gì người ta nói về Xã hội chủ nghĩa quá.
- Ừ! Tôi gật đầu với nó: - Các nước Xã hội chủ nghĩa khác ở bên châu Âu đang sụp đổ hàng loạt. Cái đó minh chứng hùng hồn rằng Xã hội chủ nghĩa giãy chết chứ không phải là Tư bản chủ nghĩa đang giãy chết.
Tôi nói điều đó nhại bằng giọng của các ông thầy chính trị vẫn đứng trên bục oai nghiêm khẳng định Tư bản chủ nghĩa sắp đến hồi cáo chung.
Vào thời điểm ấy, nghĩa là năm 1991, tôi đang ngây thơ ấu trĩ về chính trị lắm, người ta dạy cho cái gì thì biết về cái ấy. Nhưng một sự kiện cực lớn là các nước Xã hội chủ nghĩa ở bên trời Tây thi nhau sụp đổ thì không khỏi giáng những nhát búa rất mạnh vào những gì tôi được nhồi nhét trong đầu.
Tôi đang định hỏi thằng Dũng to những suy nghĩ của nó về bà mẹ lính "nguỵ" lúc nãy thì có tiếng thở dài:
- Mấy cậu là lính ở bên Sơn Trà hả?
Chúng tôi giật mình ngó lên. Đó là một người đàn ông trạc khoảng trên năm mươi tuổi, dáng vẻ gầy gò, bộ quần áo trên người tồi tàn, gương mặt nhiều nếp nhăn hằn sâu, chỉ riêng đôi mắt ẩn sau lớp lông mày rậm là có những tia sáng nào đấy khiến người ta phải ngạc nhiên. Ông ta kéo một chiếc ghế ngồi cạnh chúng tôi:
- Làm cho tôi ly nước mía bà!
Người đàn bà chủ hàng bán nước mía, hỏi với giọng mỏi mệt:
- Ông hôm nay về sớm vậy à!
Người đàn ông trả lời:
- Ừ, từ sớm đến giờ đạp xe lòng vòng cả buổi có khách ma nào đâu. Xe lại còn bị công an chặn bắt phạt đang giữ trên phường.
Quay sang phía chúng tôi, người đàn ông ấy nói:
- Tôi làm nghề xích lô. Chiếc quán này là vợ bán. Chồng đạp xích lô, vợ và mấy đứa nhỏ bán hàng nước mía, cơ cực lắm... Thế mấy cậu là lính bên Sơn Trà hả?
- Dạ, vâng ạ!
Người đàn ông im lặng lấy một tờ giấy mỏng ra vê với nhúm thuốc sợi quấn thành một điếu thuốc sâu kèn để hút. Ngón tay dài mảnh nổi rõ những sợi gân xanh quấn điếu thuốc rất khéo léo thành thục. Cảm thấy có điều gì đó nể nể người đàn ông đạp xích lô này thằng Phúc béo đưa mời một điếu thuốc đầu lọc mà nó đã mua lúc nãy, nhưng ông ta lắc đầu, bảo rằng hút thuốc rê quen rồi.
Ngậm điếu sâu kèn trên môi, châm lửa, ông ta nhả khói mù mịt.
Vừa hút thuốc ông ta vừa trầm ngâm ngó sang phía bên kia sông Hàn, đôi mắt u uẩn.
Tôi gợi chuyện:
- Bác làm nghề đạp xích lô lâu chưa ạ?
Ông ta quay lại, chăm chăm nhìn tôi một lát, rồi khẽ thở dài:
- Từ sau năm 1975 cậu à!
Ông ta quay mặt đi không nói nữa.
Hút xong điếu thuốc, vội vã uống cạn ly nước mía vợ đưa, nói với vợ là sẽ sang bên nhà ông Tư Hồng nào đấy để mượn đỡ tiền lấy chiếc xe xích lô ra. Ông ta đứng dậy gật đầu từ biệt chúng tôi và tất bật bỏ đi.
Cảm thấy có điều gì đó bất an, chúng tôi đưa mắt nhìn nhau.
Thằng Dũng to hỏi chuyện bà vợ khi đó đang đứng gần bàn ngồi của chúng tôi:
- Bác trai vất vả quá bác nhỉ?
Bà vợ chùi tay lau mồ hôi trên mặt, kéo một chiếc ghế nhựa gãy chân khập khiễng, ngồi lên đó và mắt dõi theo bóng người chồng đang tất tả bên kia đường, trả lời:
- Ôi, khổ lắm các cậu ơi!
Bà ta ôm ngực húng hắng ho, sau cơn ho đột nhiên nói với chúng tôi bằng giọng giãi bày:
- Trước 1975 ông ấy là bác sĩ, tôi là y sĩ. Ông ấy là bác sĩ quân y giỏi trong quân đội của Việt Nam cộng hoà. Tôi là y sĩ trong một bệnh viện tư. Khi Việt Nam cộng hoà sắp sụp đổ, nhiều người bàn nên di tản, nhưng chồng tôi nói vợ chồng mình làm nghề y cứu người thì đâu có tội tình gì mà phải trốn chạy ra khỏi đất nước. Chúng tôi ở lại, thế rồi, thế rồi...
Bà vợ ngập ngừng, như chợt suy nghĩ có nên nói tiếp hay không, đôi mắt một thoáng nhăn lại, lắc lắc mái tóc xơ xác và rồi bà ta thở dài tiếp tục:
- Lạy trời phật, thế rồi những người cộng sản đem chồng tôi đi học tập cải tạo, nói là học tập cải tạo nhưng mà khổ sở lắm mấy cậu ơi. Sau cải tạo người ta đem gia đình tôi ra vùng kinh tế mới. Ở vùng kinh tế mới tôi và mấy đứa nhỏ chịu không nổi nên được vài năm chúng tôi lại dắt díu về đây. Về lại chúng tôi đâu còn nhà cửa gì nữa đâu, nhà cửa đã bị tịch thu đem cho người khác ở mất rồi, cũng chẳng làm nghề y được nữa, người ta cấm. Cực chẳng đã, ông nhà tôi nghe theo mấy người bạn bàn quyết định liều mình đưa cả gia đình vượt biển sang bên kia. Về quê vay mượn khắp anh em bạn bè được ít tiền vàng. Nhưng chưa xuống tàu thì hoá ra tất cả mọi người đã bị lừa lấy sạch tiền vàng chứ có tàu nào đâu, không có ai đi được. Chẳng còn chỗ nào dung thân, về quê thì mắc nợ tiền anh em họ hàng, ở đây thì không có hộ tịch hộ khẩu, gia đình chúng tôi sống chui sống nhủi như những kẻ ngoài vòng pháp luật. Lạy trời phật, gia đình chúng tôi xoay đủ cách cuối cùng ông ấy đi đạp xích lô và tôi cùng mấy đứa con đi bán nước mía như mấy cậu thấy đấy...
Chúng tôi im lặng ngỡ ngàng... Ra là thế, người đàn ông lúc nãy là một bác sĩ giỏi trước kia, giờ phải đi đạp xích lô kiếm sống, chả trách gì mặc dù phải khắc khổ lam lũ vì phải lao động chân tay nhiều nhưng đôi mắt ông ta vẫn giữ được nét của người trí thức.
Và câu chuyện ngắn bà vợ vừa kể cũng thật quá khốc liệt.
Tôi ngập ngừng hỏi tiếp:
- Thế con của bác giờ học lớp mấy rồi ạ?
Bà vợ nói bằng giọng cay đắng cam chịu:
- Nào học hành gì được đâu mấy cậu. Cha mẹ bị quy cho là thành phần "nguỵ" là thành phần "tư bản bóc lột" thì con cái nào có học hành được nổi. Đường đời của mấy đứa nhỏ vô tội này bị ngăn trở làm tình làm tội đủ đường có chỗ nào mà tiến thân được nữa đâu.
Chúng tôi im lặng không dám hỏi gì nữa...
Dòng sông Hàn xanh biếc hiền hoà thây kệ những chiếc thuyền, những con tàu đang phành phạch xuôi ngược dọc ngang trên mình. Con đường Bạch Đằng lồng lộng với hàng xà cừ đại thụ thả một vài chiếc lá vàng xoay xoay trong gió rồi đậu trên tóc chúng tôi. Những chiếc lá này hình dấu hỏi lẻ loi... Trong buổi sáng đẹp trời hôm nay, chúng tôi được gặp một "bà mẹ nguỵ" và một "gia đình nguỵ" là như thế đó. Cũng chẳng biết gì nhiều lắm về họ ngoài một vài lời đau đớn bật ra. Như thằng Phúc béo thì nó chẳng nghĩ ngợi gì cho mệt cái óc của nó, nhưng như tôi thì không khỏi phải đặt ra rất nhiều câu hỏi trong lòng.
Dưới trời gay gắt của Đà Nẵng đám lính mới chúng tôi tiếp tục với giáo án huấn luyện tân binh.
Giờ đây chúng tôi đã chuyển sang giai đoạn tập lăn lê bò trườn mà thường lại được gọi là "lăn lê bò toài". Những động tác này gây hứng khởi hơn nhiều so với những động tác tập hàng ngũ ngớ ngẩn vô vị. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi thằng Phúc béo vẫn là đứa kém nhất trong các động tác tập luyện, nhưng nó không bị hạ sĩ Quang quát thét như hồi đầu nữa. Nói chung, may mắn cho bọn trong tiểu đội tôi là có thằng Dũng nhỏ, nhờ thằng này mà rõ ràng hạ sĩ Quang trở nên hiền hơn, thái độ của hạ sĩ Quang đối với chúng tôi luôn có một sự đăm chiêu như nghĩ ngợi điều gì đó chưa giải đáp được. Còn các tiểu đội khác trên sân thì khỏi nói, chúng tôi vẫn thường nghe những tiếng quát giận dữ của các A trưởng và cứ lo hộ cho bọn chúng.
Những bài học chính trị có lẽ rất đáng để mà kể. Rất đáng kể ở chỗ là rốt cuộc chúng tôi chẳng hiểu mình được học về cái gì.
Cái này thì không riêng gì đám lính trẻ chúng tôi, mà là chung cho toàn bộ thế hệ trẻ của đất nước. Nói chung thế hệ trẻ của nước Việt ở cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 không hiểu nổi mình đang được nhồi nhét vào đầu những cái gì về Học thuyết Mác- LêNin, về Xã Hội Chủ Nghĩa là ưu việt của loài người mà Đảng Cộng Sản thánh thần quyết tâm đưa dân tộc đeo đuổi.
Mỗi tuần ba buổi học chính trị đan xen với các buổi tập quân ngũ ngoài trời. Thiếu tá Dũng là người đứng ra giảng chính trị. Chúng tôi ngồi học trong nhà đại đội, vờ làm ra cái vẻ chăm chú lắng nghe và ghi chép.
Tuần lễ đầu tiên chúng tôi đã được học về: "Mười lời thề danh dự quân nhân". Mười lời thề này quan trọng, được dùng trong lễ thề để chào cờ mỗi thứ hai hằng tuần, nên chúng tôi bắt buộc phải thuộc lòng. Sau đó thì chúng tôi học "Mười hai điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân"... Những lời thề, những điều kỷ luật này ngắn gọn dễ hiểu, khi giảng về chúng không mất bao nhiêu thời gian, chúng tôi chẳng phải là ngu đần nên chẳng khó khăn gì để hiểu chúng. Và thế là thời gian còn lại chúng tôi lại được nghe về học thuyết chủ nghĩa Mác Lê, về xã hội cộng sản ưu việt sẽ là cái đích cuối cùng của loài người, về thời kỳ quá độ của đất nước để chuyển mình lên xã hội chủ nghĩa...vv Người giảng thì nói lộn xà lộn xộn, cũng chẳng biết mình đang nói gì, mà người nghe thì khỏi nói nữa, những lời giảng lọt vào tai này để rồi chui ra tai bên kia.
Học thuyết Mác Lê, xã hội cộng sản ưu việt sẽ là cái đích cuối cùng của loài người, thời kỳ quá độ của đất nước để chuyển mình lên xã hội chủ nghĩa...vv Những kẻ ngu si nhất thì cũng thấy rõ rành rành các nước theo đường lối xã hội chủ nghĩa bên trời Tây đã sụp đổ tan tành. Điều đó chứng tỏ học thuyết vĩ đại của các ngài Mác Lê và những môn đệ của họ không thể đúng. Thế nhưng người ta vẫn cố bịt mắt chúng tôi cho bằng được, giảng rằng học thuyết của Mác Lê đúng còn những nước bên trời Tây sở dĩ sụp đổ là vì đi sai đường, vậy ra cái nước Việt khốn khó chậm tiến này sẽ thông minh hơn để mà đi đúng đường chăng?
Rồi thì chúng tôi được nghe về những lời dạy của Hồ Chủ Tịch.
Rồi thì chúng tôi được nghe về đường lối của Đảng.
Rồi thì chúng tôi được nghe về kẻ thù của đất nước, đế quốc Mỹ với âm mưu thống trị toàn cầu, Bắc Kinh với tham vọng bành trướng. Vào thời điểm này, tức là năm 1991, Việt Nam chưa quan hệ bình thường với Trung Quốc, lại càng chưa tới cái mức thân thuộc đến lệ thuộc với Trung Quốc như về sau, nên chúng tôi luôn được nghe cái câu: "Mỹ chỉ là kẻ thù tạm thời, Bắc Kinh mới là kẻ thù trực tiếp và lâu dài". Câu này hình như sau này thì bị bỏ đi, nhưng tiếc rằng nó lại là một trong ít ỏi những câu đúng nhất mà chúng tôi được nghe.
Rồi thì chúng tôi được nghe về những người Việt "phản động trong và ngoài nước" cấu kết với các "lực lượng phi tiến bộ của loài người" âm mưu bạo loạn lật đổ chế độ xã hội ưu việt mà chúng ta đang xây dựng.
Những cụm từ "kẻ địch", "kẻ thù", "âm mưu","bạo loạn lật đổ", "chống phá chế độ", "chống phá Đảng, Tổ Quốc" là những cụm từ mạnh chúng tôi liên tục được nghe, và sau những cụm từ ấy luôn được giải thích hùng hồn nghiêm khắc rằng nhiệm vụ của chúng tôi là phải luôn luôn sẵn sàng đứng lên để đập tan chúng.
Thật ra mà nói, người thuyết giảng đứng ra nói cũng không theo một trình tự chủ đề nhất định. Không thể so được với những bài thuyết giảng trên ghế nhà trường. Điều này là khá dễ hiểu, vì trên ghế nhà trường như trường đại học chẳng hạn, sẽ có đến bốn năm để nhồi các bài học liên quan tới chính trị. Thế nên chúng được phân ra các bài giảng rành mạch. Còn thời gian đối với chúng tôi cấp tốc hơn, nên các bài giảng cũng đòi hỏi phải cấp tốc hơn. Ở trên ghế nhà trường nhất là trên ghế nhà trường đại học người ta cốt nhồi nhét về chính trị làm sao cho rốt cuộc học sinh trở nên chẳng hiểu gì về cái đồ sộ mình được học. Thành ra trên ghế nhà trường các bài giảng cao siêu hơn. Có cao siêu thì mới dễ dẫn đến chẳng hiểu gì. Còn đối với chúng tôi bài giảng không cần cao siêu lắm mà cái cực kỳ quan trọng là chúng được giảng để phụ hoạ thêm cho nhiệm vụ mà ở trên cao kia người ta mong muốn chúng tôi.
Các bài giảng chính trị thì tuỳ từng người nghe mà hiểu ra một phách. Điều này cũng không khó hiểu. Như học toán thì hai nhân bảy nhớ một là rằm không thể sai trật được, nhưng học chính trị thì thật lung ba lung bung. Mỗi người tuỳ theo trí óc, quan sát và cảm nhận của riêng mình mà hiểu theo mỗi kiểu khác nhau.
Thật tựa như bác sĩ nhìn đâu cũng thấy vi trùng thì người lính chúng tôi được banh mắt ra cho thật sáng để nhìn đâu cũng thấy kẻ địch. Điều cảm nhận chung của chúng tôi là trong những mớ bài giảng hỗn tạp luôn nồng nặc mùi "kẻ thù", "chiến tranh", "bạo loạn", thế cho nên khi lắng nghe không ít khi chúng tôi giật mình thon thót cảm thấy như kẻ thù đang trước mắt và chiến tranh sắp đến, bạo động bạo loạn sắp xảy ra.
Vào thời điểm này khái niệm "diễn biến hoà bình" chưa xuất hiện nên chúng tôi chưa được nghe.
Như buổi sáng học chính trị hôm nay tôi lơ đãng ngẫm suy đối chiếu những gì mình được giảng dạy với hiện thực mắt thấy tai nghe. Đứng trên bục thiếu tá Dũng đang nói cái gì đó liên quan đến cụm từ "sự khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta" cũng là một trong những cụm từ thường thấy của các bài chính trị. Tôi bâng khuâng nhớ lại "bà mẹ nguỵ" và "gia đình nguỵ" bữa trước.
"Bà mẹ nguỵ" và "gia đình nguỵ" mà tôi tình cờ gặp đã khiến cho tôi cứ lởn vởn suy nghĩ rất nhiều.
Rồi thì nhiều cái khác nữa trong các bài chính trị cũng khiến tôi phải ngẫm suy... Nhưng phải đến khi tôi gặp được một thằng bạn kỳ dị và chí thân trong ba năm đời lính của mình thì thằng bạn này mới giúp tôi khai mở ra nhiều điều trong đầu. Nhưng than ôi, giá như đừng gặp nó thì hơn.
Sau khi buổi học chính trị kết thúc chúng tôi tụm lại chuyện trò với nhau. Nằm ngửa nằm nghiêng trên phản mà trò chuyện, nhưng phải để ý đừng gối đầu lên đống quân tư trang đã được sắp xếp gọn gàng. Như lệ thường mấy thằng cùng huyện trong nhà đại đội tìm đến chỗ tôi.
Thằng Kiệt rên rỉ:
- Mẹ sư cha, đôi dép rọ của tao bị ăn trộm mất rồi!
Mấy đứa kia chẳng đứa nào tỏ ra ngạc nhiên lắm, vì các vụ mất trộm lặt vặt đã xảy ra khá thường xuyên. Nói như thiếu tá Dũng thì những vật dụng quân tư trang ấy được các đồng chí khác mượn sử dụng tạm mà thôi.
Thằng Huy hằn học:
- Giờ mà ra Căntin con mụ Tư béo lục soát thì kiểu gì cũng thấy đôi dép của mày. Đó là ổ tàng trữ đồ trộm cắp.
Căntin của mụ Tư béo, chị vợ của đại uý Lê phụ trách hậu cần quả là nơi hút tiền của đám lính trẻ. Hàng bán rất đắt, so với bên ngoài giá chênh lệch rất cao. Khi đám lính trẻ hết tiền thì Căntin cho bán chịu, và chẳng có chú lính nào chạy nợ được vì khoản nợ Căntin sẽ được đại uý Lê trừ vào số tiền phụ cấp ít ỏi hàng tháng. Căntin cũng ngầm mua và cho cầm đồ từ thượng vàng đến hạ cám, từ đồng hồ, nhẫn, dây chuyền (nhưng mà ít đứa có lắm) cho đến những vật dụng quân tư trang.
Con mụ Tư béo quả là quỷ quái, không hề từ chước nào để hút cho cạn sạch tiền của đám lính trẻ. Mụ biết rõ đám lính trẻ làm gì được quyền bán hay cầm những vật dụng quân tư trang của mình. Chắc chắn đấy phải là đồ ăn cắp của nhau. Nhưng mụ ỡm ờ vờ như không biết, vờ tỏ thái độ khó khăn và làm ơn làm phúc khi mua hay cầm những thứ ấy. Mà mấy thằng có tính trộm cắp vặt cũng rất tinh ranh. Vật dụng quân tư trang có giá trị nhất là chăn màn, nhưng rất ít khi chúng dám lấy, vì những thứ ấy lềnh kềnh không dễ chi rinh được trước hàng mấy trăm cặp mắt. Thế nên thứ hay bị lấy trộm nhất là giày bố và dép rọ. Đứa hay trộm vặt tinh ranh sẽ lợi dụng dậy giả vờ đi tiểu tiện hay đại tiện ban đêm và lén xỏ chân mình vào giày dép của đồng chí đồng đội rồi đem đi giấu một nơi nào đó, sau đấy chờ lúc thuận tiện mới đem tới Căntin lúc vắng khách. Đôi dày hay đôi dép mà nó thó được cũng chỉ đổi được vài gói thuốc Mai, là loại thuốc không đầu lọc rất nặng và rất rẻ tiền đám lính trẻ hay hút. Còn đứa mất thì khỏi nói, nó điên tiết nghi ngờ tất cả, muốn tìm cho ra kẻ lấy trộm, nhưng có điều không dám báo lên chỉ huy. Kinh nghiệm giữa cánh lính trẻ cho thấy rằng nếu bị mất vặt mà lên báo chỉ huy như kiểu học trò thưa với cô giáo thì chỉ lôi thôi to chứ hầu như chẳng được tích sự gì, thủ phạm thì tìm không ra mà làm cả trung đội bị khổ lây. Trung đội sẽ bị tập hợp tra khảo đe nẹt rồi sau đó bị cấp chỉ huy phạt nặng cả đám. Còn chính bản thân đứa bị mất thậm chí còn bị chỉ huy nghi ngờ và vặn đi vặn lại rằng có phải chính nó làm mất hay chính nó đem đi bán rồi hô lên là bị mất cắp để trốn tội hay không. Thế cho nên đám lính thường thoả thuận ngầm sẽ tự tìm lấy thủ phạm chứ không báo cáo chỉ huy. Còn đứa bị mất trộm phải cắn răng ra Căntin mụ Tư béo mua lại với giá cắt cổ.
Mà mụ Tư béo tinh khôn ghê gớm. Mụ biết thiếu tá Hà sẽ không bỏ qua nếu biết mình tàng trữ đồ trộm cắp. Nên mụ rất thận trọng kín đáo.
Vì sao có tệ nạn trộm cắp. Một tệ nạn xa xưa cũ rích của loài người. Bây giờ thì tôi đã lờ mờ nhìn ra những sợi dây giằng buộc chằng chịt giữa các tệ nạn với nhau.
Và từ cái tệ nạn hút thuốc lá cũng đã có thể thấy được phần nào mối liên hệ giữa chúng.
Lúc này đây tôi đã là kẻ chập chững nghiện thuốc lá. Những điếu thuốc bé nhỏ khiến người ta nghiện mau chóng. Tôi đã tự hứa với mình nên bỏ đi, đừng bao giờ hút nữa, nhưng rồi thấy rất nhiều người hút một cách bình thản tươi vui và thế là tôi tặc lưỡi khi được đứa khác thân thiện đem thuốc ra mời. Khi ngậm điếu thuốc trên môi, tổ sư cha, thật là ngu ngốc và điên rồ, tôi cảm thấy như có một nét lãng mạn nào đấy. Và chẳng bao lâu sau tôi cũng đã hiểu khi cơn nghiền thuốc lá nổi lên thì nó gây tệ hại như thế nào. Trong người cứ day dứt rất khó chịu, đầu óc cứ nghĩ ngợi cách nào để có thuốc mà hút. Một vài đồng bạc lẻ ít ỏi mà cha mẹ cho lúc lên đường nhập ngũ thì đã hết từ lâu. Tiền phụ cấp thì chưa có. Có nghĩa là không có tiền để hút thuốc. Thế nên nhiều khi thèm rõ dãi.
Nghiện điếu thuốc lá chưa là cái gì so với nghiện Hêroin, thứ mà thế hệ trẻ của nước Việt chỉ sau chúng tôi một vài năm mắc phải như căn bệnh dịch kinh hoàng dữ dội mà xã hội vô phương ngăn chặn. Nghiện Hêroin đi kèm với hàng ngàn tiêu cực khiến người ta ghê rợn khiếp sợ. Nghiện thuốc lá không thể so được với nghiện Hêroin, nhưng tác hại của nó cũng không hề nhỏ.
Không nói tới tác hại của điếu thuốc lá đến sức khoẻ mà hãy nói tác hại của nó tới nhân cách. Nó tác hại rất tệ tới nhân cách của những người quá ít tiền để có thể mua nổi điếu thuốc. Điếu thuốc không nhiều tiền, nhưng dù sao đi nữa muốn có để hút thì cũng phải có tiền. Một đứa trẻ đang đi học mà nghiện thuốc lá thì tác động tệ hại tới nhân cách rất rõ. Đứa bé dĩ nhiên không làm ra tiền. Cha mẹ chu cấp toàn bộ nhu cầu thiết yếu để nó ăn học, tất nhiên chẳng bậc cha mẹ nào nghĩ tới việc phì phèo điếu thuốc trên môi là nhu cầu thiết yếu cả, và không chi tiền cho cái khoản này. Khi nghiện thuốc lá, đứa bé con nhà khá giả có thể trích từ tiền quà sáng mua thuốc để hút, nhưng đứa con nhà nghèo thì lấy đâu ra. Khốn khổ cho nó, khi đã nghiện thuốc lá thì mỗi ngày nó cần phải hút một số lượng điếu thuốc nhất định, nghĩa là ít hay nhiều cũng phải có một số lượng tiền nhất định để tiêu hàng ngày cho việc hút thuốc. Mà nó thì không làm ra tiền, nên số lượng tiền này trở nên rất lớn. Đến đây sẽ thấy được tác hại của điếu thuốc tới nhân cách đứa bé ra sao. Thông thường nhất là đứa bé về dối lừa cha mẹ, nó trở nên cực kỳ khôn ngoan khi biết rằng cha mẹ luôn lo lắng chuyện học của nó nên luôn lấy chuyện học để xin tiền, nào là tiền học thêm, tiền mua sách vở, tiền thầy cô, tiền quỹ trường, quỹ lớp, tiền thể thao, tiền văn nghệ, ...vv Đấy rõ ràng là sự làm tiền cha mẹ. Tuy nhiên chẳng phải là ngày nào cũng xin được tiền thế nên nó phải xoay đủ cách khác. Nó bắt đầu tính tới chuyện cắp tiền của cha mẹ hoặc trộm những thứ lặt vặt trong nhà đem đi bán. Đấy là sự trộm cắp trong gia đình. Đi xa hơn nữa, có thể đứa bé sẽ nhòm ngó láng giềng, láng giềng hở ra cái gì là mà có thể dễ biến thành tiền thì nó chôm chỉa luôn. Đấy là sự trộm cắp ngoài xã hội. Rồi thì đứa bé cũng có nhiều cách khác để thoả mãn cho cơn nghiền thuốc lá của nó. Có thể là nó sẽ xin xỏ ở những đứa bạn, thấy đứa bạn ngậm điếu thuốc trên môi và nó sán lại tỏ thái độ cầu luỵ những đứa này để xin vài hơi thuốc, thậm chí chịu sự sai khiến để cốt cho được vài hơi thuốc vào phổi. Đấy là sự gập người luồn cúi. Hoặc nó dùng sức mạnh của mình để ức hiếp những đứa bạn khác khiến những đứa này sợ hãi mà cung phụng thuốc lá cho nó. Đấy là sự ăn cướp trấn lột. Rồi có một cách nữa không thể không nói đến, là đứa bé có thể sẽ đi nhặt những mẩu thuốc bỏ dở người ta quăng ra để hút, những mẩu thuốc bẩn thỉu hôi mốc, nhưng trong cơn nghiền đứa bé buộc mọi cách phải có chất thuốc trong người và nó chẳng kể gì nữa.
Tác hại của điếu thuốc lá tới nhân cách tạm có thể thấy như vậy. Nhưng như đã nói điếu thuốc không thể so được với Hêroin. Đơn giản bởi cơn nghiền thuốc lá không hung tàn ghê gớm như cơn nghiền Hêroin, cơn nghiền thuốc lá tuy cũng mạnh nhưng hoàn toàn chưa đủ để phá thủng được những thành luỹ luân lý kiên cố được xây dựng trong tim óc từ thuở còn ấu thơ. Nhiều người mặc dù nghiện hút thuốc lá rất sớm trong một hoàn cảnh khó khăn nhưng chưa chắc đã bị điếu thuốc đẩy đến chỗ xấu xa như đã nêu trên, bởi vì bức thành trì luân lý trong họ tương đối mạnh mẽ. Còn đã nghiện Hêroin thì đừng bao giờ nói tới chuyện ấy. Nghiện Hêroin mà còn giữ được nhân cách phẩm giá thì chắc chắn đấy là bậc thần thánh được đưa xuống trần gian để thử đời. Những thanh niên trai trẻ của nước Việt là bằng chứng hùng hồn.
Có một điều đáng lưu ý, theo tôi biết những đứa trẻ của thập niên 60, 70 của nước Việt hút thuốc lá khá sớm, còn những đứa trẻ thuộc thập niên 80, 90 thì lại rất ít hút thuốc lá. Tuy nhiên không nên lấy đó làm mừng, bởi vì bọn trẻ sinh sau đẻ muộn này như đã nói là phải đối diện với Heroin ngàn lần đáng sợ hơn nhiều.
May cho tôi là tôi chỉ bắt đầu nghiện hút thuốc lá khi vào lính. Ba tháng huấn luyện và sáu tháng học kỹ thuật nghiệp vụ thì tôi chập chững hút chứ chưa đến nỗi nghiện nặng. Đấy là thời kỳ đám lính chúng tôi hoàn toàn chẳng có gì ngoài việc trông chờ vào vài đồng phụ cấp cực kỳ ít. Nói cho cùng thì lúc ấy chúng tôi cũng từa tựa như đứa bé đang ăn học ở chỗ tự bản thân chẳng hề có tiền vậy... Còn sau này khi xuống tàu chiến trở thành một chàng lính hải quân thực sự trên biển rồi thì cũng có tiền thừa đủ để mua thuốc hút thế cho nên tôi không đến nỗi sa vào những tác động xấu tới nhân cách.
Nhưng như thằng Hùng đen cùng tiểu đội tôi chẳng hạn, thì nó nghiện thuốc lá đã từ khá lâu. Và nghiện rất nặng. Một lần tôi thấy nó lục lọi chui rúc dưới các phản giường. Hoá ra nó tìm các mẩu thuốc cũ. Những mẩu thuốc Mai không đầu lọc quăn queo, mốc xì và rất bẩn thỉu. Nó chìa cho tôi một mẩu, tôi ghê tởm lắc đầu, còn nó nhe răng cười: "Tao thèm quá, Hiển ạ! Tìm vài mẩu thuốc cũ này hút cho đỡ thèm". Mà chẳng riêng chi thằng Hùng đen, nhiều đứa khác cũng lục lọi các mẩu thuốc khi không có tiền mua thuốc.
Thằng Huy chày cối của tôi cũng là thằng nghiện thuốc lá từ lâu. Tôi biết chắc chắn thằng này không bao giờ trổ bệnh ăn cắp để có vài điếu thuốc mà hút. Và nó cũng không đi nhặt mẩu thuốc. Nhưng nó lại rơi vào một thói xấu khác, đấy là mượn tiền bạn bè để có mà mua thuốc. Nó mà đã mượn thì cũng chẳng biết khi nào thì nó trả. Nó đã từng mượn tôi, biết tính tình của thằng này nên tôi đưa nó ra Căntin mua một gói thuốc Mai nhét vào túi nó và bảo nó cứ cầm mà hút. Nó có vẻ rất cảm kích, và từ đó không tìm cách mượn tiền tôi nữa, kể ra thằng này vẫn còn có lòng tự trọng. Nhưng thằng Kiệt và thằng Nhân, là những thằng hiền lành thật thà thì bị nó mượn suốt, với lời hứa khi nào có tiền phụ cấp sẽ trả. Tiền mượn khắp nơi của nó đã nhiều hơn mấy lần số tiền phụ cấp ít ỏi hằng tháng sẽ được nhận, không biết nó sẽ trả nợ bằng cách chi. Chắc là cái tính chày cối của nó sẽ nổi lên, và phương sách tốt nhất là xù nợ.
Với thằng Huy, khi mấy đứa bạn cùng huyện có dịp ngồi đông đủ với nhau tôi đã dùng lời lẽ khéo léo để nói với nó chuyện này. Nói với nó rằng bạn bè cùng huyện với nhau đứa nào cũng nghèo khó cả, mấy đồng bạc ít ỏi chỉ đủ tằn tiện tiêu pha trong sinh hoạt cá nhân nếu nó mượn hết thì bọn bạn lấy gì mà tiêu. Nó im lặng có vẻ nghe nghe. Nhưng rồi khi cơn nghiền nổi lên nó lại tìm cách đi mượn bạn bè. Bọn bạn không cho mượn nữa, vì tôi đã kiên quyết nhắc chúng. Nhiều bữa nhìn thấy thằng Huy ngơ ngơ vẻ thèm thuốc tôi cũng thấy tội nghiệp cho nó. Thế rồi khi những thằng bạn cùng tiểu đội, hoặc những thằng các tỉnh khác kết bạn với tôi, mời tôi thuốc lá, tôi thường giữ lấy vài điếu và sau đó đem cho thằng Huy. Thằng này có vẻ cảm kích tôi thật sự.
Còn một số đứa khác, dĩ nhiên không nhiều và rất khó tìm ra là ai, thường ăn trộm giày dép của đứa khác thì rõ ràng chỉ có thể giải thích là để đổi một vài gói thuốc Mai rẻ tiền mà thôi.
Tha hoá nhân cách vì điếu thuốc lá là như thế đó. Sợi dây giằng buộc lờ mờ của nó tới những tệ nạn khác là như thế đó.
Hỡi ôi, cũng chẳng bao lâu nữa rồi tôi biết rõ, tha hoá nhân cách vì rượu và những tệ nạn đi kèm sẽ là ra sao...
Thằng Đức lông mi dài không phải là đứa có số quý nhân độ mạng như thằng Phúc béo trong tiểu đội tôi.
Nó rơi vào tiểu đội mà A trưởng là hạ sĩ Hùng, một A trưởng tính tình cũng nóng như lửa không kém gì hạ sĩ Chiến, và nó là một trong những đứa được hạ sĩ Hùng chiếu cố nhiều nhất. Cũng chính nó đã một lần không biết mơ mơ màng màng đi đứng thế nào đã vào khu vực cần cực kỳ kiêng tránh, đấy là căn nhà hay đúng hơn là cái chòi khuất nẻo biệt lập của "con quỷ vùng Ba" là thượng uý Lệ đáng thương. Thượng uý Lệ xuất hiện như từ dưới đất mọc lên túm cổ áo quát bằng giọng rượu nồng nặc: "Mày... mày... có biết tao là ai không? ...Hả?". Thằng Đức kinh hãi: "Dạ,... dạ,... em biết ạ, là... là... thượng uý Lệ ạ". Trong cơn kinh hãi nó quên mất cần phải nói rằng thượng uý Lệ sắp là thiếu tướng đô đốc hải quân. Nếu trả lời được như thế thì thượng uý Lệ sẽ tử tế tha cho, bọn lính mới chúng tôi đều biết vậy. Thằng Đức quên mất nên thượng uý Lệ khùng lên. Hai bạt tai như trời giáng lên má nó và một cú đấm vào giữa ngực. Thằng Đức lảo đảo văng ra. Thượng uý Lệ tiếp tục lao vào nó với sức mạnh kinh khủng của những kẻ say. Cũng may bữa đó một A trưởng lực lưỡng đi kèm bên thượng uý Lệ đã rất kinh nghiệm khua tay khua chân loạn lên giả vờ hoạ theo cùng bạt tai nó và giả vờ hùng hổ lôi nó tới nhà đá để cứu nó thoát ra khỏi cơn say của thượng uý... Với thằng Đức lông mi dài, chuyện bị ăn bạt tai lại là sự bình thường, và nó không lấy làm hằn học như thằng Huy.
Xét cho cùng thằng này luôn bị A trưởng chiếu cố nhiều bằng các hình phạt khác nhau cũng là đáng. Không phải là ngang ngang chày cối như thằng Huy mà thằng Đức lông mi dài là đứa có tính tình hay điệu bộ, đức tính hay làm điệu làm bộ như một con gà trống luôn cố gắng trau chuốt bộ mã của mình giữa đông đúc lính tráng với nhau là đức tính khó được chấp nhận. Chúng tôi nhiều khi thấy cũng gai mắt huống hồ chi là cấp trên.
Tôi đã phát chán chuyện tình của nó, nào là những lá thư cho em Thuỳ Dung, nào là Quyên... Tôi đã vài lần nói thẳng với nó là nên bớt những sự màu mè hoa lá của một thằng lẳng lơ đi thì nó sẽ đỡ bị A trưởng phạt những cái tội không đâu vào đâu. Nhưng cũng biết rằng vô ích, đấy thuộc vào tính tình bẩm sinh, rất khó có cách gì mà thay đổi được.
Tôi không hề tin Thuỳ Dung hay là Quyên là tình yêu thật sự của nó. Thằng này cứ thấy gái đẹp là sáng mắt lên. Đâu có thể tin được tình cảm chân thật của nó ra sao.
Sau lần ra uống Càphê ở quán của em Quyên, ngày Chủ nhật nào nó cũng tìm cách ra đấy. Nó cũng hay rủ các đứa khác đến quán. Tất nhiên uống cà phê trong một cái quán thơ mộng với một cô chủ như thế ai mà chẳng mong, nhưng vấn đề là chúng tôi đâu sẵn tiền, thế cho nên lần lượt các đứa khác dù rất muốn nhưng cũng đều từ chối.
Nhưng tôi đâu có ngờ thằng Đức lông mi dài là đứa lì gái hơn tôi đánh giá rất nhiều. Không có tiền nó vẫn cứ vào ngồi trong quán, gọi một ly trà đá và vài điếu thuốc, mắt không rời cô chủ quán và tìm cách chuyện trò cho bằng được, ngồi cả buổi và sau đó thì xin khất nợ tiền bữa sau trả. Chủ nhật tuần trước không biết vô tình hay sao mà Quyên cho thằng Đức hay ngày sinh nhật của cô là thứ sáu tuần này. Và thế là đến hôm thứ sáu đó mấy đứa cùng huyện chúng tôi mới hiểu được sự liều lĩnh vì gái của một gã trai trẻ đa tình là ra sao.
Cả buổi chiều thứ sáu thằng Đức có vẻ nôn nóng. Nó không chú tâm tập luyện lắm nên đã bị A trưởng đá mấy lần vào chân. Rồi khi nghỉ tập luyện nó quanh quẩn đi đi lại lại mắt cứ liếc liếc ngó ngó trước khu vực dãy nhà chỉ huy. Đến tối, sau giờ sinh hoạt nó lén lút mò đến dãy nhà chỉ huy, nhanh tay hái trộm bông hồng đẹp nhất trước phòng làm việc của thiếu tá Hà mà nó đã quan sát kỹ từ ban chiều. Sau đó nó đi vòng tới dãy bờ tường bao quanh doanh trại. Dãy bờ tường này khá cao, tuy vậy cũng có một vài chỗ đã bị lún hỏng và có thể trèo qua được.
Thằng Đức trèo qua, cầm bông hồng trên tay và chân bước như bay tới quán của Quyên. Nó tặng cho Quyên bông hoa hồng bứt trộm này nhân ngày sinh nhật của cô. Khỏi phải nói Quyên ngạc nhiên như thế nào và có lẽ là cảm động nữa.
Đáng lý ra tặng hoa và nói vài lời thật ý nghĩa xong thì nên về vì mới gặp dăm lần như vậy cũng đã lãng mạn lắm rồi. Nhưng thằng Đức còn muốn nhiều hơn thế nữa. Nó cứ ngồi lì trong quán để chờ lúc vãn khách một chút sẽ tìm cách thổ lộ tiếp những lời có cánh đã chuẩn bị sẵn. Sau giây phút ngạc nhiên và xúc động ban đầu, Quyên cứ giục thằng Đức về vì cô cũng biết lính huấn luyện mà trốn ra bên ngoài buổi tối là tội không nhỏ. Mà có lẽ cô linh tính biết trước và không muốn nghe những lời ấy cũng nên.
Thằng Đức cứ lì lợm cố chờ cho vãn khách. Nhưng rồi đen đủi cho nó, khi mấy người lính có lẽ là thuộc tiểu đoàn Rada cũng đóng khá gần ngã ba Sơn Trà lục tục đứng dậy ra về thì có mấy người khác đi vào. Và đấy là các A trưởng trong doanh trại. Buổi đêm thì trừ một ít A trưởng phải luân phiên hỗ trợ trực cho các sĩ quan chỉ huy còn thì các A trưởng khác có thể thoải mái đi dạo chơi cho đến trước 21 giờ điểm danh. Ngay lập tức thằng Đức bị dựng dậy. Chẳng cần hỏi nhiều các A trưởng cũng biết thằng này trốn ra ngoài. Một A trưởng tức giận dẫn nó về như kiểu áp tải tù binh. Thằng Đức kiêu hãnh như một người anh hùng bước ra trường bắn với niềm tin rằng đằng sau là Quyên đang lo lắng đôi mắt nhoè lệ nhìn theo.
Khỏi phải kể thằng Đức lông mi dài bị kỷ luật ra sao. Nó bị "gọi lên phòng chỉ huy" và thượng uý Cát là trung đội trưởng của nó cho mấy bạt tai nảy lửa, rồi nó bị lôi ra kiểm điểm trong sinh hoạt trung đội, bị đe doạ tống vào nhà đá, và cuối cùng nó nhận hình thức kỷ luật là hai tuần lễ dọn nhà hố xí và cấm trại.
Lần tặng hoa ấy thằng Đức tỏ một thái độ tự hào giấu giếm đằng sau lưng cấp trên, còn mấy đứa cùng huyện chúng tôi không khỏi ngao ngán.
Những cơn gió đêm ngọt ngào tinh khiết luôn gợi cho chúng tôi biết cách không xa là biển. Là biển cả mênh mông. Nước Việt là đất nước nằm dọc theo biển thế cho nên trong tiềm thức của bất kỳ ai cũng cảm thấy rất gần gũi với đại dương. Ý thức này hằn sâu qua nhiều thế hệ, phản ánh trên nhiều câu ca dao và những áng văn thơ. Và đặc biệt nhất, năm mươi con theo Mẹ Âu Cơ lên rừng, năm mươi con theo Cha Lạc Long Quân xuống biển, huyền tích xa xưa ấy về thời dựng nước của dân tộc đều in dấu trong bất kỳ trái tim Việt nào...
Thời kỳ huấn luyện đang trong giai đoạn cực khổ nhất, chúng tôi thường đem những chuyện liên quan đến biển cả ra kể với nhau để quên đi nỗi cực nhọc. Và dĩ nhiên đám lính mới chúng tôi cũng rất hay đem chuyện nghe được trong căn cứ vùng để kể với nhau.
Trong căn cứ xung quanh đầu não chỉ huy có hai lữ đoàn tàu chiến, một hải đội tàu dầu và một hải đội tàu nạo vét cùng tàu đầu kéo. Lữ đoàn 191 là lữ đoàn tàu tên lửa. Lữ đoàn 181 là lữ đoàn tàu quét mìn. Hải đội 151 là hải đội tàu dầu gồm những con tàu chuyên có nhiệm vụ cung cấp dầu cho hai lữ đoàn tàu chiến này. Hải đội 141 là hải đội gồm những tàu nạo vét và những tàu đầu kéo có nhiệm vụ nạo vét cảng biển hoặc lôi cứu tàu chiến trong trường hợp khẩn cấp. Ngoài ra trong hải đội này cũng có một vài con tàu có nhiệm vụ cung cấp nước ngọt cho những tàu chiến trực ở nơi xa xôi nữa.
Những thằng lính cậu ao ước được xuống tàu dầu. Đơn giản xuống những con tàu ấy thì rất lắm tiền. Bọn này nói không cần ngượng ngùng che đậy rằng những con tàu ấy chỉ cần bớt ít dầu là tha hồ tiền bạc cho cả sĩ quan và lính trên tàu tiêu xài. Nếu không xuống được hải đội tàu dầu thì xuống các tàu đầu kéo trong hải đội 141 cũng tàm tạm. Còn nếu xuống các lữ đoàn tàu chiến thì hầu như chẳng có gì, xuống tàu tên lửa còn đỡ đỡ chút ít chứ xuống tàu quét mìn thì rất khổ.
Tất nhiên tôi và mấy thằng bạn cùng huyện không mơ xuống được hải đội tàu dầu vì chẳng có ai nâng đỡ để lọt vào đó cả. Nhưng đứa nào cũng mong xuống được một con tàu nào đấy. Ba năm lính hải quân mà không được xuống tàu ra khơi thì ai gọi là lính hải quân. Không biết tường tận biển cả hùng vĩ thì thật uổng cho ba năm đời lính biển. Tuy nhiên sợ rằng có một số đứa sẽ không xuống được tàu, vì trình độ học vấn của chúng không quá cấp Một, e rằng người ta sẽ phân chúng làm các nhiệm vụ đơn giản gì đó trên bờ mà thôi.
Trung uý mặt đỏ bữa trước hoá ra là một người rất nổi tiếng. Anh ta tên Hưng, người Thái Bình và là người nổi tiếng là vui tính khắp cả vùng Ba. Những trò giỡn cợt của trung uý Hưng được biến thành giai thoại mà đám lính trẻ từ trong căn cứ vùng đã truyền kể ra đến tận bên ngoài này.
Thế nhưng con tàu quét mìn HQ811 mà anh ta làm thuyền phó lại còn nổi tiếng hơn rất nhiều nữa.
Thằng Thắng lính cậu kể cho tôi hay, con tàu quét mìn của trung uý mặt đỏ là một con tàu ma.
Một con tàu Ma?!?
Nó thì thào theo lời cánh lính trẻ đồn đại thì đó là một con tàu bị ma ám. Từ rất nhiều năm nay con tàu bị hỏng hóc không chạy ra xa được, cứ neo quanh quẩn ở cảng. Trên tàu thì vẫn đủ cơ số lính và sĩ quan chỉ huy. Những chú lính trên tàu này khiếp sợ không bao giờ dám ngủ trong khoang ngủ dành cho lính. Vì ngủ ở đấy lập tức sẽ gặp những cơn ác mộng ghê rợn kinh hoàng. Những giấc mơ thấy bị bóp cổ, thấy tàu bị bốc cháy dữ dội, thấy cảnh chém giết đẫm máu. Đặc biệt thường mơ thấy lính Nga. Đủ kiểu, nào là lính Nga cụt đầu giãy dụa, nào là lính Nga thét gào xung phong với máu me ròng ròng chảy, nào là lính Nga... Theo như đám lính lắm chuyện về sự đời thì con tàu này là tàu mua lại của nước Nga, nó đã được người Nga sử dụng để chiến đấu, và chắc chắn đã có những người lính Nga chết và thế là hồn những lính Nga này ám lên con tàu.
Thằng Thắng lính cậu thì thào khẳng định rằng nó nghe lính trong căn cứ vùng kể là trong các ngày mưa gió âm u thì hồn lính Nga thường xuất hiện khóc lóc trên con tàu này. Những hồn lính Nga này nhớ nhà ở phương trời xa xăm và có lẽ rất muốn con tàu được trở về với quê hương của họ.
Tôi ngồi nghe mà những lời kể lọt từ tai này sang tai kia... Hừm, bây giờ là thế kỷ 20 sắp sang thế kỷ 21, làm gì có chuyện ma quỷ như thế. Nào tôi đâu có ngờ về sau khi xong ba tháng huấn luyện tân binh và sáu tháng học nghiệp vụ đời lính biển của chính tôi lại gắn chặt với con tàu kỳ dị ma quái này.
Hết chương 7- Còn nữa...
Nguyễn Ngọc Nam Phương
Sài Gòn, tháng 6 năm 2006