Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Diễn tiến phiên xử hai luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân |
(Quan sát viên tại phiên toà)
Quang cảnh:
Phiên xử sơ thẩm hai bị cáo Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân đã diễn ra tại Toà án Nhân dân Hà Nội từ lúc 8g đến 12g ngày 11/05/2007. Có khoảng 100 người tham dự phiên xử này. Chỉ có những người có giấy mời mới được cho vào tham dự. Nhiều người kể cả thân nhân và bạn hữu của các bị cáo đã bị ngăn chặn ở cổng vào. Phía các bị cáo chỉ có mẹ của Lê Thị Công Nhân và vợ của Nguyễn Văn Đài được tham dự. Họ đến toà từ sớm nhưng chỉ được cho vào phòng xử khi phiên xử đã bắt đầu. Họ bị đưa đến ngồi ở hàng ghế cuối cùng và luôn luôn bị nhiều nhân viên công an kèm giữ. Khoảng 20 phóng viên báo truyền thông và đại diện cơ quan ngoại giao ngoại quốc đã theo dõi phiên xử qua màn ảnh truyền hình ở một phòng bên dưới phòng xử.
Trên bục cao ở trong phòng xử, thẩm phán chủ toạ Nguyễn Hữu Chính ngồi giữa 2 hội thẩm nhân dân Nguyễn Thanh Hà và Trần Thị Hồng Thúy. Cũng trên bục, phía trái là bàn của thư ký Nguyễn Thu Huyền, phía phải là bàn của 2 kiểm sát viên Đinh Trọng Nghiã và Đinh Quốc Thái. Phía dưới bục của chủ toạ, hai luật sư Trần Lâm và Đàm Văn Hiếu ngồi riêng rẽ ở bên phải và bên trái phòng và bị cách ly với thân chủ. Mỗi bị cáo ngồi trên một cái băng gỗ, hai bên là 2 công an. Khoảng trên 10 công an mặc sắc phục ngồi trên hàng ghế đầu phía sau 2 bị cáo.
Phiên xử được quay phim và được phát qua loa trong phòng. Hệ thống âm thanh rất xấu nên người ta rất khó nghe hiểu được lời phát biểu của các luật sư biện hộ và các bị cáo nhưng nghe rất rõ lời của chủ toạ và kiểm sát viên.
Một hàng rào cản được thiết lập chung quanh toà án từ ngày hôm trước và người ta thấy có nhiều bảng cấm không cho quay phim và chụp ảnh. Khi xe chở tù nhân đến, một số ký giả ngoại quốc chạy đến để chụp ảnh nhưng bị ngăn chặn. Trong khu vực toà án điện thoại di động bị phá sóng.
I/ Phần thủ tục bắt đầu phiên toà (từ 8g00 đến 8g20).
Sau một số phát biểu để mở đầu phiên xử, thẩm phán chủ toạ yêu cầu các người làm chứng sau đây giới thiệu sơ qua về tên, tuổi, nơi làm viêc: 3 sinh viên Khoa báo chí, trường Cao đẳng Phát thanh Truyền hình I, Hà Nam là Khổng Văn Thành, Giáp Văn Hiếu, Đồng Thị Giang; 2 nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân là Trần Thanh, Nguyễn Xuân Đệ (đến trễ vào lúc 8g30); và Phạm Văn Trội. Sau đó họ rời phòng xử.
II/ Phần xét hỏi (từ 8g20 đến 10g10)
1) Viện kiểm sát đọc cáo trạng (từ 8g20 đến 8g30).
Sau khi nghe đọc cáo trạng, các bị cáo và người làm chứng rời khỏi phòng xử.
2/ Xét hỏi bị cáo và người làm chứng (từ 8g30 đến 10g10).
Trong phần này chủ toạ lần lượt mời riêng từng người. Tất cả bị cáo và người làm chứng khác bị đưa ra khỏi phòng để mỗi bị cáo không được nghe câu trả lời của bị cáo kia hoặc những người làm chứng khác.
Thẩm phán chủ toạ xét hỏi bị cáo Nguyễn Văn Đài:
a) tại sao Nguyễn Văn Đài có những tài liệu? Chủ toạ hỏi tại sao bị cáo không huỷ đi hoặc phải đem nộp cho chính quyền vì nếu để ở văn phòng là phạm tội tàng trữ.
b) tại sao Nguyễn Văn Đài tranh luận về vấn đề dân trí Việt Nam ở trên đài BBC? Tại sao bị cáo không tranh luận ở Việt Nam mà tranh luận ở nước ngoài.
c) về việc thường xuyên trả lời phỏng vấn các đài báo nước ngoài.
d) về quan hệ với 3 sinh viên Hà Nam? Dạy gì? Chương trình học?
e) về quan hệ với Nguyễn Văn Lý, về việc vào Sài gòn gặp Đỗ Nam Hải, về khối 8406 , về quan hệ với Vũ Quốc Dụng, Nguyễn Đình Thắng.
f) về việc giao tài sản cho nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân và cho họ vào Sài gòn khảo sát về Tin Lành.
g) về việc Trần Văn Hoà khai là Đài sai Hoà đi gặp Trần Ngọc Thành.
h) về việc tham gia Nhóm Luật sư Vì Công Lý.
i) về việc Nguyễn Văn Đài viết điều lệ cho Đảng Dân chủ 21.
Thẩm phán chủ toạ xét hỏi bị cáo Lê Thị Công Nhân:
a) về một số tài liêu liên quan đến vấn đề đình công, việc thành lập Đảng Thăng Tiến, Tuyên ngôn tự do dân chủ, tờ rơi kêu gọi mặc áo trắng ngày 1 và 15 hàng tháng. Chủ toạ hỏi tại sao bị cáo lại lưu trữ tài liệu trong máy tính mà không huỷ đi hoặc đem nộp chính quyền.
b) về việc trả lời phỏng vấn đài báo nước ngoài
c) về việc nhận là Phát ngôn viên của Đảng Thăng Tiến.
d) về việc tham gia Đảng Thăng Tiến và khối 8406
e) về việc ủng hộ Tuyên ngôn Tự do Dân chủ VN 2006.
f) về việc tư vấn pháp lý cho công đoàn độc lập.
Chủ toạ nói rằng tất cả các tổ chức trên là bất hợp pháp nên hành vi tham gia là có tội.
Thẩm phán chủ toạ xét hỏi người làm chứng
(Đây là những sinh viên Khoa báo chí, trường Cao đẳng Phát thanh Truyền hình I, Hà Nam tham dự lớp học nhân quyền được toà án mời đến làm người làm chứng)
a) Khổng Văn Thành: Có gặp Nguyễn Văn Đài một lần, Nguyễn Văn Đài nói rằng trong luật Việt Nam có sự khập khiễng giữa Hiến pháp và nghị định. Nguyễn Văn Đài nói xấu Hồ Chí Minh.
b) Giáp Văn Hiếu: Chưa gặp Nguyễn Văn Đài bao giờ. Có gặp Lê Thị Công Nhân một lần vào ngày 3/2/2007 và được Công Nhân phát tài liệu về Nhân Quyền nhưng chưa kịp đọc thì công an đã vào bắt. Trong lúc học có mặt Phạm Văn Trội và Bạch Ngọc Dương. Công Nhân tự giới thiệu là phát ngôn viên của đảng Thăng Tiến và nói rằng bên cạnh đảng CSVN còn có nhiều đảng khác.
c) Đồng Thị Giang: Tiếp xúc với Nguyễn Văn Đài 3 lần và Lê Thị Công Nhân 2 lần. Trong những lần gặp này, hai bị cáo nói về dân chủ, nhân quyền. Nguyễn Văn Đài đề cập đến vấn đề tiêu cực trong các lãnh vực kinh tế, xã hội, có hứa cho đi học ở nước ngoài. Nguyễn Văn Đài phát cho tài liệu: sổ tay phóng viên và tài liêu xã hội dân chủ.
(Thẩm phán chủ toạ không mời luật sư xét hỏi 3 người làm chứng này. Thẩm phán chủ toạ cũng không xét hỏi 2 nhân viên văn phòng Luật sư Thiên Ân và ông Phạm Văn Trội)
Luật sư hỏi các bị cáo
Thẩm phán chủ toạ lưu ý rằng luật sư chỉ được hỏi những câu mà chủ toạ chưa hỏi.
Luật sư Trần Lâm hỏi Nguyễn Văn Đài
Các lần gặp sinh viên như thế nào? gặp bao lâu?
Anh giảng bài cho ai nghe?
Ở VN anh có viết bài nào không?
Anh lấy tài liệu buôn bán phụ nữ để làm gì?
Quan hệ với Nguyễn Đình Thắng?
Luật sư Đàm Văn Hiếu hỏi Nguyễn Văn Đài
Anh có lôi kéo nhân viên văn phòng tham gia tuyên truyền không?
(Hai luật sư không hỏi Lê Thị Công Nhân.)
III/ Phần tranh luận (từ 10g10 đến 11g)
(Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân bị đưa ra đứng trước vành móng ngựa)
1. Phần luận tội của kiểm sát viên (từ 10g10 đến 10g25):
Kiểm sát viên cho rằng các hành vi trên đủ là chứng cứ để kết luận là Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân đã bôi xấu nhà nước, tuyên truyền chống nhà nước… (Kiểm sát viên đọc lại cáo trạng)… Trong lúc Việt Nam đang xây dựng đất nước thì các bị cáo đã đi ngược lại, lợi dụng danh nghĩa luật sư làm việc xấu. Họ đã gặp Nguyễn Văn Lý, Đỗ Nam Hải để bàn công việc. Đài Nhân không bào chữa vụ án nào, ngoài ra còn móc nối với Nguyễn Khắc Toàn, Trần Khải Thanh Thuỷ để thành lập cái gọi là "Công đoàn độc lập". Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân không đóng góp ý kiến xây dựng đất nước. Các bị cáo cần phải bị cách ly xã hội. Kiểm sát viên đề nghị hội đồng xét xử kết án Nguyễn Văn Đài từ 5 đến 6 năm tù giam và 4 năm quản chế, Lê Thị Công Nhân từ 4 đến 5 năm tù giam, 3 năm tù quản chế; và đề nghị tịch thu, tiêu huỷ toàn bộ tài liệu.
2. Phần bào chữa của luật sư (từ 10g25 đến 11g)
Luật sư Trần Lâm bào chữa cho Nguyễn Văn Đài:
- Việc làm của Nguyễn Văn Đài, nếu xét về mặt chính trị thì nguy hiểm nhưng nếu xét về mặt luật thì không thể xem là tội.
- Toà không nên xét đến những việc liên quan đến đảng phái vì không đúng nội dung truy tố.
- Về lớp học: Tuy Nguyễn Văn Đài có mở lớp học nhưng lớp học này chưa hình thành vì mới chỉ có 2, 3 người; lúc có người này đi học, lúc thì người kia đi hoc. Vì mới tổ chức được 1, 2 buổi nên không thể gọi là lớp. Tài liệu lớp học nói về những khái niệm nhân quyền, bình đẳng, bác ái nên không có nội dung chống nhà nước.
- Lời nói của các sinh viên có giá trị rất thấp mà phải có thêm những bằng chứng khác thì mới có giá trị.
- Trong số các vật chứng có nhiều tài liệu và văn bản viết liên quan đến thế giới và không có nội dung gì liên quan đến Việt Nam ngoài 1 văn bản nói về Việt Nam.
- Về tội tàng trữ: Nếu toà cho rằng những tài liệu lấy được ở trên mạng internet xuống phải đem nộp cho chính quyền ngay hoặc đem tiêu huỷ ngay thì điều này rất khó làm được trong thực tế.
- Về tài liệu Quốc - Quốc: Tài liệu này dày gần 500 trang, chữ lèm nhèm, bản thân luật sư đọc còn khó khăn nên không thể đem đi phổ biến được.
- Về liên hệ bên ngoài: bị cáo không thu thập thông tin cho bên ngoài. Nếu buộc tội thì lạm vào quyền suy đoán vô tội.
- Về việc đi lấy tài liệu: Bị cáo là người có tôn giáo nên việc thu thập tài liệu là làm việc tôn giáo… NÓI ĐẾN ĐÂY THÌ CHỦ TOẠ ngắt lời và nói rằng luật sư không được nói về vấn đề tôn giáo (lúc này âm thanh phát ra rẤt xẤu, người ta khó nghe hiểu lời nói của luật sư Trần Lâm).
- Sau đó chủ toạ hỏi luật sư đã nói nói xong chưa. Luật sư Trần Lâm xin thêm 2 phút để kết luận là nếu xét theo luật pháp Việt Nam thì Nguyễn Văn Đài hoàn toàn vô tội .
Luật sư Trần Lâm bào chữa cho Lê Thị Công Nhân.
- Về tội làm phát ngôn viên: phải dẫn chứng bị cáo đã nói câu gì?
- Về việc tham gia vào lớp học: xin toà không xét đến vì bị cáo chưa dạy được gì.
- Về việc tuyên truyền bằng miệng: Lê Thị Công Nhân không có tội.
- Về việc viết tài liệu liên quan đến Nghị định 31 CP: Việc làm này cần phải được hoan nghênh và cá nhân luật sư bảo vệ quan điểm này.
- Về công đoàn: xin toà không xét đến vì không đúng nội dung truy tố.
Tư cách và con người riêng của Lê Thị Công Nhân luôn luôn rõ ràng, thấy đúng thì nói là đúng, thấy sai thì nói là sai nên Công Nhân không có tội.
Luật sư Đàm Văn Hiếu bào chữa cho Nguyễn Văn Đài.
a) Về mặt pháp lý cần chú ý đến 2 yếu tố cơ bản:
- Về mặt chủ quan của tội phạm thì người pham tội phải nhằm chống nhà nước. Nhưng Nhà nước Việt nam không có văn bản hướng dẫn, giải thích cụ thể thế nào là chống Nhà nước nên khái niệm chống nhà nước còn chung chung không cụ thể, chưa rõ ràng, nên phần thực hiện chưa được chặt chẽ. Chẳng hạn: nếu có quan điểm trái với Nhà nước hoặc có quan điểm trái với quan điểm của Đảng thì có phải là chống không?
- Về mặt khách quan người phạm tội phải có các hành vi như đã quy định trong điều 88 Bộ luât hình sự. Ngoài 3 hành vi này thì không gọi là chống.
Nếu thiếu một trong 2 yếu tố chủ quan, khách quan trên cũng không gọi là chống. Chẳng hạn do vô tình có chứa tài liệu nói xấu nhà nước ngoài ý muốn của mình mà không nằm mục đích chống Nhà nước thì không phạm vào tội này.
b) Nguyễn Văn Đài có nhằm chống Nhà nước không? Nguyễn Văn Đài luôn khẳng định là không có tư tưởng chống Nhà nước. Nguyễn Văn Đài muốn các quyền tự do dân chủ như được quy định trong điều 69 Hiến pháp nước ta được thực hiện đúng với luật pháp Quốc tế là: Tuyên ngôn nhân quyền 1948 và các công ước quốc tế nhân quyền dân sự và chính trị 1966 mà nước ta đã ký kết tham gia năm 1982 cũng như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: Nước được độc lập mà dân không được tự do dân chủ thì độc lập ấy không có ý nghĩa gì.
c) Nguyễn Văn Đài không có ý thức chống lại nhà nứoc nhưng cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân Hà Nội nói là Nguyễn Văn Đài chống Nhà nước và nêu ra một số việc để quy kết như:
- Tàng trữ: phần lớn những tài liệu này không rõ do ai đem đến văn phòng luật sư của Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Văn Đài không quan tâm, có cái xem qua, có cái không đọc, không tham gia vào các bán nguyệt san tự do, không tham gia tài liệu tẩy chay bầu cử. Các tài liệu trên để ở văn phòng luật sư Thiên Ân là ngoài ý muốn của Đài và do sơ xuất chưa kịp huỷ đi.
Vì vậy về việc này mà quy cho Nguyễn Văn Đài là chống Nhà nước thì không xác đáng.
d) Việc viết bài "Quyền tự do thành lập Đảng ở Việt Nam" điều này tuy trái với quan điểm của đảng và Nhà nước nhưng là quan điểm riêng của Đài, không thể coi là chống Nhà nước.
e) Nguyễn Văn Đài không mở lớp về nhân quyền mà chỉ trao đổi với 1 số người về nhân quyền. Sự việc xảy ra ngày 3/2/2007 gọi là lớp học thì cũng quá đáng vì chỉ có 3 sinh viên, nội dung giảng là: Nhân phẩm, công bằng, bắc ái. Như vậy nội dung giảng không có gì chống Nhà nước
f) Cáo trạng của Viện kiểm sát Hà Nội không những không đưa ra bằng chứng cụ thể mà còn nằm ngoài phạm vi điều 88 như:
- Tiếp xúc với Vũ Quốc Dụng, Nguyễn Đình Thắng. Mọi hoạt động của các nhân viên trong văn phòng đều được báo cáo ra nước ngoài để nhận ý kiến chỉ đạo.
- Nguyễn Văn Đài gặp Nguyễn Văn Lý, Đỗ Nam Hải. ( NÓI ĐẾN ĐÂY THÌ CHỦ TOẠ phiên toà ngẮt lỜi và yêu cầu luật sư Hiếu tập trung vào các vấn đề tàng trữ, tuyên truyền, làm ra và không được nói đến các vấn đề khác). Luật sư Hiếu nói rằng, về việc tuyên truyền chỉ liên quan đến 3 sinh viên. Ngoài ra do Lê Thị Công Nhân chứ không phải Nguyễn Văn Đài giảng… (lúc này âm thanh phát ra rẤt xẤu nên cử toạ không nghe được gì cho đến lúc kết thúc phần bào chữa của Luật sư Đàm Văn Hiếu).
3. Đối đáp
Chủ toạ hỏi bị cáo Nguyễn Văn Đài có muốn nói gì không và lưu ý không được nói những gì mà luật sư đã nói. Nguyễn Văn Đài trả lời là không.
Chủ toạ hỏi bị cáo Lê Thị Công Nhân có nói gì không? Nhân trả lời là không.
Một kiểm sát viên đứng lên nói: Trong khái niệm Bộ luật hình sự không có quy định cụ thể thế nào là chống nhưng các hành vi trên cho thấy các bị cáo tàng trữ tài liệu, căn cứ vào 3 sinh viên làm chứng, kêu gọi thành lập Đảng, Đa Đảng, trực tiếp viết tài liệu, có hành vi đi ngược lại Hiến pháp Việt Nam. Hành vi chống lại Hiến pháp là đi ngược lại Nhà nước.
Luật sư Trần Lâm nói: nếu chỉ có lời nói thì không có giá trị buộc tội. Các tài liệu và lời khai của sinh viên có giá trị rất thấp. Ngoài ra các tài liệu là của tác giả ở nước ngoài, có 1 bài của người ở Việt Nam. Lê Thị Công Nhân vừa phát tài liệu, chưa kịp dạy.
Không thể kết tội Nguyễn Văn Đài được vì chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Trong nước đã có nhiều ý kiến là phải đa đảng chứ không phải độc Đảng. Đài không phá Hiến pháp và chưa có hành động gì. Nên về pháp lý thì không hề có tội.
Lúc này chủ toạ chuyển sang bị cáo và cho phép bị cáo nói lời sau cùng.
IV/ Phần bị cáo nói lời sau cùng (từ 11g05 đến 11g15)
(lúc này âm thanh phát ra rẤt xẤu nên cử toạ không nghe rõ lời phát biểu của các bị cáo)
Bị cáo Nguyễn Văn Đài:
Vì trong luật không quy định là lời nói cuối cùng kéo dài bao lâu nên tôi xin nói:
a) “Viện Kiểm sát căn cứ vào các lớp học của tôi thì các lời nói hay lời trao đổi của tôi với các học viên của Trường Cao đẳng Phát thanh Truyền hình chỉ là về tình hình chính trị xã hội đất nước, không liên quan gì đến việc nói xấu đảng và nhà nước cả. Thứ hai chỉ là những lời thăm hỏi đến việc học hành của họ. Còn những lời nói của họ trước cơ quan điều tra là những lời nói không chính xác. Và trong những lần tôi gặp mặt họ thì đều có mặt anh Phạm Văn Trội, một người bạn của tôi, dẫn họ đến và chứng kiến. Hôm nay tôi không biết anh Phạm Văn Trội khai những gì trước toà, nhưng những gì anh Trội chứng kiến đều không có nội dung tuyên truyền hay chống đối nhà nước trong các lớp học của tôi.”
b) Tôi bác bỏ cáo buộc về tội tàng trữ vì những tài liệu không có chữ ký, có thể mạo danh (NÓI ĐẾN ĐÂY THÌ CHỦ TOẠ NGĂN KHÔNG CHO NÓI TIẾP). Nguyễn Văn Đài yêu cầu: Xin chủ toạ không được cắt quyền của tôi vì trong luật không quy định thời gian được nói kéo dài bao lâu nên tôi được quyền nói.
c) Lấy các tài liệu là các bài viết từ trên mạng xuống là quyền của tôi, tôi không phổ biến. NÓI ĐẾN ĐÂY THÌ CHỦ TOẠ NGĂN KHÔNG CHO NÓI TIẾP và nói rằng điều này đáng lẽ đã phải nói ở phần tranh luận.
Bị cáo Lê Thị Công Nhân:
„Tôi thấy phiên toà hôm nay không đúng vì tôi không phải là vị thành niên, tôi không bị bệnh tâm thần và cần người giám hộ và tôi có quyền tranh luận tự cá nhân tôi. Và tôi chưa hề được thẩm phán chủ toạ …(không rõ) thì thẩm phán chủ toạ đã tuyên bố kết thúc phần tranh luận“.
Sau đó chủ toạ tuyên bố sẽ nghị án đến 11g45.
V/ Tuyên án (từ 11g45 đến 12g00)
Vào lúc 11g45, chủ toạ mời những người tham dự phiên xử đứng lên nghe đọc bản án. Chủ toạ tuyên án Nguyễn Văn Đài 5 năm tù giam, 4 năm tù quản chế; Lê Thị Công Nhân 4 năm tù giam, 3 năm tù quản chế.
Phiên toà kết thúc lúc 12g00.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
_______________ _______________________
BẢN ÁN HÌNH SỰ SƠ THẨM
Số: 153 /2007/ HSST
Ngày: 11.05.2007
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Toà án nhân dân thành phố Hà nội
với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Chính
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Hả
2. Bà Trần Thị Hồng Thuý
Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thu Huyền - Cán bộ Toà án nhân dân thành phố Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:
1. Ông Đinh Trọng Nghĩa - Kiểm sát viên
2. Ông Đinh Quốc Thái - Kiểm sát viên
Ngày 11 tháng 5 năm 2007, tại trụ sở toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 138/2007/HSST ngày 24 tháng 4 năm 2007 đối với các bị cáo:
1. NGUYỄN VĂN ĐÀI sinh năm 1969; quê quán: Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, trú tại: phòng 302, nhà Z8, tập thể Bách Khoa, phường Bách Khoa, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội; khi phạm tội là luật sư Trưởng văn phòng luật sư Thiên Ân; trình độ văn hoá: lớp 12/12; con ông Nguyễn Văn Cấp và bà: Nguyễn Thị Thơm; có vợ là: Vũ Minh Khánh; bị bắt tam giam: ngày 06.03.2007; có mặt tại phiên toà.
2. LÊ THỊ CÔNG NHÂN sinh năm 1979; quê quán: Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang; trú tại: phòng 48, nay là phòng 316 nhà A7, tập thể Văn phòng Chính phủ, phường Phương Mai, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội; khi phạm tội là luật sư thuộc văn phòng luật sư Thiên Ân; trình độ văn hoá: lớp 12/12; con ông Lê Minh Đức và bà Trần Thị Lệ; bị bắt tam giam: ngày 06.03.2007; có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Đài:
Ông Trần Lâm - Luật sư thuộc Đoàn luật sư thành phố Hải Phòng - (có mặt)
Ông Đàm Văn Hiếu - Luật sư Văn phòng luật sư Thống Nhất thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội - (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị Công Nhân:
Ông Trần Lâm - Luật sư thuộc Đoàn luật sư thành phố Hải phòng - (có mặt).
NHẬN THẤY
Các bị cáo Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố về các hành vi phạm tội như sau:
Sáng ngày 03.02.2007, tại văn phòng luật sư Thiên Ân - số 10 Đoàn Trần Nghiệp, Cơ quan an ninh điều tra Công an thành phố Hà Nội và Bộ Công an phát hiện Lê Thị Công Nhân đang tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và xuyên tạc các chủ trương chính sách của nhà nước ta về dân chủ, nhân quyền cho 03 sinh viên Khoa Báo chí Trường Cao đẳng phát thanh truyền hình I Hà Nam.
Tiến hành khám xét khẩn cấp văn phòng luật sư Thiên Ân ở số 10 Đoàn Trần Nghiệp, nhà ở của Nguyễn Văn Đài và nhà ở của Lê Thị Công Nhân, Cơ quan an ninh điều tra Công an thành phố Hà Nội thu giữ của Nguyễn Văn Đài 121 đầu tài liệu, 02 ổ cứng,05 CPU và 01 máy tính xách tay, 01 Webcam, 01 Modem dùng để nối mạng Internet trực tuyến, thu của Lê Thị Công Nhân 25 đầu tài liệu,01 CPU. Các tài liệu được thu giữ dưới dạng văn bản đánh máy, viết tay hoặc thu trong ổ cứng máy vi tính và có nôi dung chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong số đó, có một số tài liệu có nội dung chống đối rất quyết liệt như: Tài liệu viết tay dầy 475 trang đề tên Quốc-Quốc; tài liệu „Đảng cộng sản Việt Nam là nghiệp chướng, chính Đảng đã đem vừng trời đen về cho dân tộc Việt Nam“ gồm 04 trang mang tên Đoàn Hoà Bình; tài liệu „những bí ẩn về tân thủ tướng Việt Nam“; tài liệu „nhật ký dân oan“. Cơ quan điều tra cũng đã thu giữ tài liệu của các phần tử cơ hội chính trị, chống đối trong nước biên soạn, tán phát đã bị nhà nước cấm lưu hành như cuốn: „Dân chủ- nhân quyền tại Việt Nam“, „Khát vọng ngàn đời“ của Nguyễn Thanh Giang. Trong số tài liệu thu giữ còn có hàng chục đầu tài liệu, ấn phẩm do các tổ chức người Việt phản động ở nước ngoài và các nhóm đối tượng chống đối ở trong nước tán phát như : Bán nguyệt san „Tự do ngôn luận“, tập san „Tổ quốc“; đặc san „Tự do dân chủ“; tài liệu „Tuyên ngôn tự do dân chủ cho Việt Nam của khối 8406, „Vu cáo là nghề của cộng sản“ của báo Viet Tide phỏng vấn Dương Thu Hương, „khối 8406 phát động cao trào kêu gọi nhân dân tẩy chay bầu cử Quốc Hội năm 2007“... Các tài liệu trên có nội dung: Bịa đặt, xuyên tạc lịch sử đấu tranh cách mạng, xuyên tạc đường lối chính sách, pháp luật của Đảng, nhà nước, đả kích bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, tuyên truyền đòi thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo, kêu gọi nhân dân không tham gia cuộc bầu cử Quốc Hội khoá XII.
Quá trình điều tra, cơ quan an ninh điều tra còn xác định Phạm Văn Trội và 4 nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân là: Phạm Sỹ Nguyên, Nguyễn Xuân Đệ, Trần Thanh và Nguyễn Thị Hương Lan do bị Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân tuyên truyền lôi kéo nên đã tham gia vào các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc chống nhà nước. Tài liệu điều tra cũng xác định: Từ tháng 12 năm 2006 Nguyễn Văn Đài đã mở một số lớp học nhằm tuyên truyền chống nhà nước, xuyên tạc tình hình đất nước, bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh, tuyên truyền cho các tổ chức bất hợp pháp do các đối tượng chống đối thành lập như „Đảng Dân chủ thế kỷ 21“ „Đảng Thăng tiến Việt Nam“ „Khối 8406“. Học viên tham gia được phát tài liệu, tiền và được hứa hẹn tài trợ học bổng đi du học nước ngoài, tạo việc làm, ...
Ngoài việc tàng trữ các tài liệu có nội dung xuyên tạc lịch sử dân tộc, bôi nhọ chế độ xã hội do Đảng cộng sản lãnh đạo và vu cáo xuyên tạc chính sách của nhà nước đối với tổ chức công đoàn và giai cấp công nhân Việt Nam, Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân đã nhiều lần trả lời phỏng vấn các đài, báo nước ngoài và đã tán phát các tài liệu có nội dung tuyên truyền kích động nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Từ năm 2006 đến nay, Nguyễn Văn Đài đã sử dụng văn phòng luật sư Thiên Ân thông qua các phương tiện thông tin trực tuyến Internet để liên lạc, đối thoại với các cá nhân, tổ chức ở nước ngoài như Vũ Quốc Dụng (phụ trách ban Châu Á thuộc tổ chức „Mạng lưới nhân quyền Quốc tế“ ở Đức); Nguyễn Đình Thắng (cầm đầu tổ chức „Uỷ ban cứu trợ thuyền nhân Việt Nam“ ở Mỹ). Mọi hoạt động của Đài và các nhân viên trong văn phòng luật sư Thiên Ân đều đựơc Đài báo cáo ra nước ngoài và nhận các ý kiến chỉ đạo về chương trình hoạt động của các tổ chức đó.
Tháng 7.2006, Đài vào Huế gặp Nguyễn Văn Lý, vào Thành phố Hồ Chí Minh gặp Đỗ Nam Hải và một số các đối tượng chống đối khác để thống nhất các hoạt động nhằm chống nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đài đã chi tiền và cử Phạm Sỹ Nguyên, Trần Thanh, Nguyễn Xuân Đệ, đi các tỉnh Miền Nam, Tây Nguyên để thu thập thông tin tài liệu để Đài cung cấp cho Vũ Quốc Dụng và Nguyễn Đình Thắng nhằm mục đích tuyên truyền, xuyên tạc chống nhà nước. Đài còn móc nối với một số tổ chức chống đối như „Đảng dân chủ thế kỷ 21“ của Hoàng Minh Chính, “khối 8406“ và „Đảng Thăng Tiến Việt Nam“ của Nguyễn Văn Lý và Đỗ Nam Hải.
Từ đầu năm 2006 Lê Thị Công Nhân đã ký tên ủng hộ „Tuyên ngôn tự do - dân chủ cho Việt Nam“. Tháng 7 năm 2006, Nhân chính thức tham gia „Khối 8406“ và tham gia „Đảng thăng tiến Việt Nam“ của Nguyễn Văn Lý với tư cách là phát ngôn viên của „Đảng Thăng tiến Việt Nam". Nhân đã thông báo những vấn đề như : tuyên bố, các quyết định, các kháng thư đến dư luận trong và ngoài nước nhằm mục đích tuyên truyền, xuyên tạc phỉ báng chính quyền nhân dân.
Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKS-P2 ngày 23 tháng 4 năm 2007 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội thì bị cáo Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân bị truy tố về tội „Tuyên truyền chống nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam“ theo điểm a, c khoản 1 điều 88 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, khi trình bày lời luận tội cũng như kết quả đối đáp, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử kết tội các bị cáo theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và đề nghị xử phạt:
- Nguyễn Văn Đài 05 - 06 năm tù và phạt quản chế 4 năm.
- Lê Thị Công Nhân 4 - 5 năm tù và phạt quản chế 3 năm.
Về tang vật vụ án: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước các tang vật là phương tiện phạm tội.
Luật sư Trần Lâm bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Đài cho rằng bị cáo có ý định mở lớp nhưng chưa làm gì thì đã bị phát hiện. Lời tố cáo của các Học viên đối với bị cáo là không đúng, chứng cứ để quy kết hành vi tuyên truyền còn yếu. Về hành vi tàng trữ: Việc quy kết bị cáo lấy tài liệu trên mạng ra để quy kết bị cáo có hành vi tàng trữ là chưa phù hợp với thực tế vì công dân có quyền nghiên cứu, sao chép tài liệu trên mạng. Luật sư đề nghị Hội đồng xem xét về mặt tội danh đối với Đài.
Đối với Lê Thị Công Nhân luật sư cho rằng bị cáo thừa nhận tham gia các đảng phái, thừa nhận là phát ngôn nhưng chưa có hành vi phát ngôn gì. Về tuyên truyền: bị cáo đang mở lớp thì bị bắt ngay, nội dung các bài học không thể hiện gì việc tuyên truyền chống Đảng - chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Đề nghị hội đồng xem xét thái độ tâm lý của bị cáo và xem xét tội danh cho bị cáo.
Luật sư Đàm Văn Hiếu: bào chữa cho bị cáo Đài cho rằng khái niệm chống Nhà nước so với hành vi thực tế của Đài là chưa chặt chẽ. Việc viết bài phê phán Nhà nước không phải là chống Nhà nước.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo nhiều lần khẳng định không có ý thức chống Nhà nước và chỉ mong muốn thực hiện quyền tự do dân chủ. Một số tài liệu bị cáo đã xem nhưng đã không tán thành với nội dung tài liệu đó. Việc mở lớp không có nội dung chống Nhà Nước nên chưa đủ căn cứ bị cáo và đề nghị Hội đồng xem xét về tội danh cho bị cáo Nguyễn Văn Đài.
- Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đựơc thẩm tra tại phiên toà.
- Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, Luật sư bào chữa và những người tham gia tố tụng khác,
XÉT THẤY:
1. Đối với bị cáo Nguyễn Văn Đài:
- Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn Đài thừa nhận đã viết một số bài như: „Quyền tự do thành lập đảng“, „Dân trí Việt Nam có đủ khả năng để xây dựng chế độ đa đảng“, v.v... Các bị cáo đã phát tán các tài liệu này trên các phương tiện thông tin cho các tổ chức phản động người Việt tai nước ngoài; trả lời phỏng vấn trực tuyến qua Internet với các đối tượng chống chủ nghĩa xã hội ở nước ngoài. Những bài viết nêu trên đều có nội dung bôi nhọ, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho rằng trong điều kiện hiện nay Đảng Cộng sản Việt Nam không đủ năng lực để lãnh đạo cách mạng nên cần phải có một đảng khác thay thế hoặc phải đa nguyên, đa đảng mới đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo đói.
- Theo quy định tại Điều 4 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định „Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành với quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội ... Điều đó khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo Cách mạng Việt Nam nên mọi đảng phái, hoạt động đều là vi phạm, đều là bất hợp pháp. Bị cáo là người trực tiếp soạn thảo „Điều lệ Đảng dân chủ", là người ủng hộ „Cương lĩnh Đảng dân chủ“ của Hoàng Minh Chính, đồng thời viết một số bài phê phán chế độ, phê phán Đảng Cộng Sản và ủng hộ đa nguyên, đa đảng là vi phạm nghiêm trọng Hiến pháp và luật pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ, cũng như lời khai nhận của bị cáo Đài tại phiên toà, từ khi Văn phòng luật sư Thiên Ân được thành lập cho đến ngày bị bắt, bị cáo chưa bao giờ bào chữa cho ai và không thực hiện đúng chức năng hoạt động đã được quy định trong giấy phép hành nghề mà bị cáo luôn tiếp xúc và trao đổi thông tin tài liệu về „Dân chủ - Nhân quyền“ với một số đối tượng, phần tử cơ hội chính trị, có thái độ chống đối Đảng Cộng sản Việt Nam, chống đối Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bị cáo đã tham gia và ủng hộ tích cực cương lĩnh hoạt động của cái gọi là „Đảng Thăng Tiến Việt Nam“ và „Khối 8406“ của Nguyễn Văn Lý - một tổ chức hoạt động bất hợp pháp tại Việt Nam. Bị cáo trao đổi và thống nhất với Nguyễn Văn Lý về cương lĩnh hoạt động của „Đảng Thăng Tiến", đồng thời vào thành phố Hồ Chí Minh tập hợp một số đối tượng trong nhóm của Đỗ Nam Hải để tuyên truyền cho hoạt động của „khối 8406“ và "Đảng thăng tiến Việt Nam". Bị cáo còn là thành viên của „Công đoàn Độc lập“. Bị cáo đã thừa nhận tiếp xúc với một số đối tượng ở Hải ngoại như Nguyễn Đình Thắng, Vũ Quốc Dụng, Trần Ngọc Thành, v.v... và chỉ trao đổi xung quanh vấn đề „Dân chủ - Nhân quyền", nhưng qua tài liệu và chứng cứ thu thập được khẳng định đây là những phần tử người Việt Nam lưu vong ở nước ngoài có ý thức chống đối Nhà nước ta quyết liệt. Việc tiếp xúc của bị cáo với các đối tượng trên không chỉ dừng lại ở nội dung „Dân chủ - Nhân quyền", mà còn có ý thức muốn thành lập một số tổ chức, đảng phái chống lại Đảng Cộng sản Việt Nam, chống lại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo lời khai của nhân chứng Trần Văn Hoà khẳng định tháng 9 năm 2006, Đài yêu cầu Hoà lên Hà Nội để cùng Đài sang Trung Quốc gặp người có tên là Trần Ngọc Thành là Việt kiều ở Ba Lan sang bàn về thành lập cái gọi là „Tổ chức Công đoàn".
- Kết quả khám xét tại văn phòng luật sư Thiên Ân do Đài phụ trách, và tại nhà ở của Đài cơ quan điều tra đã thu giữ nhiều tài liệu, trong đó có 121 đầu tài liệu, và có nhiều tài liệu có nội dung cực kỳ phản động, bóp méo, xuyên tạc sự thật, bôi nhọ danh dự, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước ta, như tài liệu „Đảng cộng sản Việt Nam là nghiệp chướng“...“Những bí ẩn về tân thủ tướng“... Tài liệu dày 475 trang của người có tên là Quốc Quốc có nôi dung xuyên tạc lịch sử đấu tranh cách mạng, xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước qua từng thời kỳ cách mạng, bôi nhọ, nói xấu Lãnh tụ và một số cán bộ cao cấp của Đảng. Tài liệu „Nhật ký dân oan“ có nội dung bóp méo, xuyên tạc sự thật, vu cáo công an và chính quyền đàn áp dã man những người khiếu kiện. Ngoài ra còn thu giữ nhiều tài liệu của các đối tượng cơ hội chính trị, chống đối Nhà nước như tài liệu „Dân chủ- Nhân quyền tại Việt Nam“, „Khát vọng ngàn đời“ của Nguyễn Thanh Giang. Hàng chục đầu tài liệu, ấn phẩm do các tổ chức người Việt lưu vong ở nước ngoài như bản nguyệt san „Tự do ngôn luận“ , tập san „Tổ quốc“, đặc san „Tự do dân chủ“ , tài liệu „Tuyên ngôn tự do dân chủ cho Việt Nam“ v.v... Nội dung của các tài liệu trên rất phản động, xuyên tạc tình hình thực tế tại Việt Nam và cho rằng các quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam đều bị trà đạp thô bạo và mục tiêu đấu tranh là làm cho thể chế chính trị ở Việt Nam phải bị thay đổi.
- Tại phiên toà bị cáo thừa nhận đã từng liên hệ và trả lời phỏng vấn các đài, báo chí nước ngoài. Trả lời trực tuyến qua mạng những vấn đề về dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam. Nhưng các tài liệu thể hiện tại hồ sơ khẳng định trong những lần tiếp xúc và trả lời phỏng vấn này bị cáo đều cung cấp và trả lời sai sự thật, bóp méo, xuyên tạc vế dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam, kích động nói xấu chế độ xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam, kêu gọi thay đổi chế độ,v.v... Đồng thời, nhân các tài liệu kêu gọi tẩy chay bầu cử Quốc hội năm 2007, tài liệu „Chọn hai ngày 01 và 15 hàng tháng mặc quần áo trắng để ủng hộ dân chủ:“Khối 8406 công bố 10 điều kiện thiết yếu để bầu cử Quốc hội năm 2007 đa đảng, đồng loạt dân tẩy chay; tài liệu Khối 8406 phát động cao trào tẩy chay cuộc bầu cử Quốc hội độc đảng năm 2007“ v.v…
- Nguyễn Văn Đài thường xuyên mở lớp để tuyên truyền „Dân chủ - Nhân phẩm - Nhân quyền“ tại Văn phòng luật sư Thiên Ân. Qua lời khai của mộ số nhân chứng đã được bị cáo mời đến để giảng bài như Đồng Thị Giang, Khổng Văn Thành, Nguyễn Bá Trực, Giáp Văn Hiếu, khẳng định trong các buổi giảng Đài và Nhân đề cập đến tình hình chính trị, xã hội của đất nước với thái độ bức xúc, nói xấu Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không có nhân quyền, dùng vũ lực, nhục hình để đàn áp người dân lương thiện, hình thức „Đảng cử - Dân bầu“ là mất dân chủ, muốn có công bằng xã hội thì phải thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa và không cho Đảng Cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã cấu thành tội : Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam“ được quy định tại điều 88 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo.
2. Đối với bị cáo Lê Thị Công Nhân:
- Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo khẳng định là thành viên của „Đảng Thăng Tiến Việt Nam”, „Khối 8406“ của Nguyễn Văn Lý. Bị cáo tham gia với tư cách là phát ngôn viên của Đảng thăng tiến Việt Nam. Bị cáo cho rằng việc tham gia vào tổ chức là tự nguyện. Hội đồng xét xử nhận thấy: mục đích hoạt động của tổ chức này là đấu tranh chống Đảng, chống Nhà nước xã hội chủ nghĩa, làm cho thể chế chính trị Việt Nam bị thay thế triệt để, tổ chức này kêu gọi đa nguyên, đa đảng, vận động nhân dân mặc áo trắng để ủng hộ dân chủ. Như vậy, việc tham gia và ủng hộ cương lĩnh hoạt động của tổ chức này của bị cáo là vi phạm pháp luật.
- Bị cáo trực tiếp viết bài „Sự thật về việc bãi bỏ Nghị định số 31/CP ngày 14.4.1997“ có nội dung cho rằng việc bãi bỏ nghị định này mang tính chất giả tạo, mục đích để đánh lạc hướng dư luận; bị cáo còn trả lời phỏng vấn và bình luận Chỉ thị số 37 của Thủ tướng Chính phủ không cho phép báo chí tư tự do hoạt động là phi dân chủ,v.v... Các bài viết này đều có nội dung bịa đặt, nói xấu, đả kích, chân biếm chế độ, bị cáo cho rằng nền chính trị của Việt Nam là độc quyền, là ấu trĩ, là không văn minh và tất cả các tài liệu bị cáo viết đã được tán phát ra bên ngoài theo hình thức bị cáo trả lời trực tiếp các đài báo nước ngoài như đài BBC, đài RFA, đài Châu Á tự do, trả lời phỏng vấn trực tiếp hoặc trực tuyến quan mạng Internet với các đối tượng phản động người Việt đang lưu vong tại nước ngoài.
- Khám xét tại nhà bị cáo Cơ quan điều tra đã thu giữ được nhiều đầu tài liệu của các đối tượng cơ hội chính trị trong và ngoài nước có nội dung xấu, xuyên tạc sự thật, phản đối đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, phản đối và yêu cầu tẩy chay cuộc bầu cử quốc hội năm 2007, đòi đa nguyên, đa đảng,v.v... như tài liệu „Hãy mặc áo trắng ngày 01 và 15 hàng tháng để ủng hộ dân chủ tại Việt Nam"; tài liệu „Phác thảo chân dung tự do dân chủ Việt Nam", tài liệu „Làm sao thắng nổi sợ hãi“ của Nguyễn Văn Lý, „Tuyên ngôn dân chủ cho Việt Nam 2006", tài liệu „Đảng thăng tiến cương lĩnh tạm thời",tài liệu „Tuyên bố thành lập liên minh các lực lượng dân tộc đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền"; tài liệu „Khối 8406 công bố 10 điều kiện để cuộc bầu cử Quốc hội đa đảng, đồng loạt dân tẩy chay"; tài liệu „Khối 8406 phát động cao trào tẩy chay cuộc bầu cử Quốc hội độc đảng năm 2007".
- Bị cáo còn có hành vi tuyên truyền cho một số học sinh tham gia lớp học gọi là „Dân chủ“ với thái độ bất mãn, phê phán, nói xấu chế độ, xuyên tạc lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đồng thời, kêu gọi đấu tranh để thay thế chính đảng Cộng sản bằng một đảng khác, hoặc kêu gọi đa nguyên đa đảng,v.v...
Hành vi phạm tội của bị cáo đã cấu thành tội „Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam“ quy định tại điều 88 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo.
Xét tính chất vụ án rất nghiêm trọng, lợi dụng quyền tự do dân chủ Nguyễn Văn đài và Lê Thị Công Nhân đã làm ra, tàng trữ, lưu hành, tuyên truyền các tài liệu có nội dung phỉ báng chính quyền nhân dân chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây dư luận không tốt ở trong và ngoài nước, xâm hại trực tiếp đến an ninh quốc gia, xâm hại đến lợi ích và thành quả đã đạt được của nhân dân ta đã đạt được trong thời gian dài đấu tranh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hành vi của các bị cáo làm giảm uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam, của chế độ xã hội chủ nghĩa, của Lãnh tụ đối với nhân dân. Các bị cáo là công dân Việt Nam thì phải tuyệt đối chấp hành pháp luật của Việt Nam, nếu vi phạm thì sẽ phải bị nghiêm trị theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Bị cáo Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân tuổi đời còn trẻ, chưa có công lao gì cống hiến cho tổ quốc, cho đất nước, nhưng đã thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng, xâm phạm đến lợi ích của dân tộc và an ninh của đất nước, nên cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật mới có tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Văn Đài là người tích cực thực hiện hành vi phạm tội, thái độ khai báo chưa thực sự thành khẩn nên mức hình phạt cao hơn. Bị cáo Lê Thị Công Nhân cũng rất tích cực thực hiện tội phạm. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà chưa nhận lỗi của mình, với thái độ khai báo không thành khẩn cũng phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo.
Ngoài hình phạt chính cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là quản chế đối với các bị cáo theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật hình sự.
Tang vật vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ một số vật chứng tại Văn phòng luật sư Thiên Ân, tại nhà riêng của bị cáo Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân. Xét những vật chứng này các bị cáo đã sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cho tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Một số vật chứng khác không có giá trị sử dụng cho tiêu huỷ.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn Đài và bị cáo Lê Thị Công Nhân phạm tội "Tuyên truyền chống nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam".
Xử phạt: Nguyễn Văn Đài 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 06.3.2007.
Xử phạt: Lê Thị Công Nhân 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 6.3.2007.
Về hình phạt bổ sung:
- Phạt quản chế đối với bị cáo Nguyễn Văn Đài thời hạn là 04 (bốn) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
- Phạt quản chế đối với bị cáo Lê Thị Công Nhân thời hạn là 03 (ba) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
Tang vật: tịch thu sung quỹ Nhà nước 06 CPU, 01 màn hình phẳng máy vi tính để bàn (16 inch, nhãn hiệu Samsung), 01 máy ghi âm kỹ thuật số (hiệu Digital Live SDR - 6404), 01 Card Reller (hiệu QS 034 Ba07), 01 bộ dây kết nối máy vi tính để bàn, 01 máy vi tính xách tay (máyHP:S/NCND604172F;PN EP412UA # ABA), 01 máy Scaner (hiệu Canon F915800), 01 Modern (hiệu AR 325W, 6H057 - 15379), 01 Webcam(Colorvis). Tiêu huỷ 01 ổ cứng (01 ổ cứng hiệu HD080HJ - P/N 137216FL740777P/V FS S/N08Ẹ1KL702016), 01 ổ cứng hiệu SP4011N - S/NSO1JJ50YB41562 - PN: 1187J2FYB 15242P/VFS).
Số vật chứng trên hiện lưu tại Thi hành án Hà Nội theo biên bản ngày 23 tháng 4 năm 2007.
Bị cáo Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, mỗi bị cáo phải chịu 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, và được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Trial Proceedings of attorneys Nguyen van Dai and Le thi Cong Nhan on May 5, 2007 at the Hanoi People’s Court
(Observer at the Court)
General Scene
The preliminary trial of Nguyen van Dai and Le thi Cong Nhan has taken place at the Hanoi People?s Court from 8am to 12 am, on May 11, 2007. There attended, reserved only for those who have invitations. Even families and friends of the accused were stopped at the gate. On the side of the accused were the mother of Le thi Cong Nhan and the wife of Nguyen van Dai. They have arrived at the court early, but were only allowed entry when the trial began. They were escorted to the last row of seats and were constantly under police guard. About 20 foreign press and media personnel were allow to follow the proceedings on a television screen in a room below the courtroom.
On the high platform in front of the courtroom, sat Nguyen huu Chinh, the presiding magistrate, flanked on the two sides by two people jurors Nguyen thanh Ha and Tran thi Hong Thuy. Also situated on the left of the platform is the table of the court secretary Nguyen Thu Huyen, and on the right is the table of two prosecutors Dinh Trong Nghia and Dinh Quoc Thai. Below the presiding magistrate?s platform sat attorneys Tran Lam and Dam Van Hieu on the left and on the right of the courtroom respectively. They are separated from their clients. Each of the two accused sat on a bench, flanked on the two sides are two security police officers. About ten uniformed polices sat directly on the row behind the accused.
Court proceedings were videotaped and broadcasted in the courtroom. The audio system was poor and people could barely make out what the defending attorneys and their clients were saying, but they can hear very clearly the presiding magistrate and the prosecutors.
Barricades were erected on the outside perimeter of the courthouse the day before the trial, and people could see many signs prohibiting people from videotaping and taking photos. When the automobile carrying the prisoners arrived, a number of foreign reporters rushed in to take pictures but were prevented from doing so. In the vicinity of the courthouse, mobile phones reception and transmission were scrambled.
I. Opening courtroom procedures (from 8am to 8:20 am)
After the perfunctory pronouncement to start court session, the presiding judge asked the following witnesses to give a brief introduction of themselves, e.g. names, ages, place of employment: the three Advanced Journalism college students of the Radio and Television I of Ha Nam: Khong Van Thanh, Giap Van Hieu, Dong Thi Giang; the two employees of the Thien An Law Office: Tran Thanh and Nguyen Xuan De (who arrived late at 8:30am); and Pham Van Troi. Afterwards, they left the courtroom.
II. The Discovery Stage (8:20 to 10:10 am)
1) The Prosecution reading of the charges (8:20 to 8:30am): After reading of the charges, the accused and witnesses left the courtroom.
2) Cross examination of the accused and witnesses (8:30 to 10:10am)
During this phase, the presiding judge questioned each person separately. The rest of the accused and witnesses were escorted out of the courtroom so as not to be able to hear the answer of the one being questioned.
The presiding judge questioned Nguyen van Dai:
a) Why did Nguyen van Dai possess the materials? The presiding judge asked why the accused did not destroy them or turning them into the authority instead of keeping them in the office and risk committing the crime of storing contrabands
b) Why did Nguyen Van Dai discuss the level of Vietnamese intellectualism on BBC? Why did the witnesses not debating the issue domestically instead of debating it overseas.
c) giving frequent interviews and discussion with foreign press
d) His relation with the three students from Ha Nam, what was the subject taught? The curriculum?
e) His relation with Nguyen Van Ly, his meeting with Do Nam Hai in Saigon, about the 8406 Bloc, his relation with Vu Quoc Dung and Nguyen Dinh Thang.
f) His entrusting the Thien An office employees with his asset and allowing them to go to Saigon to enquire about Protestantism.
g) Regarding Tran Van Hoa?s testimony claiming he followed Dai?s order to meet with Tran Ngoc Thanh.
h) Regarding his participation in The Lawyers for Justice Group.
i) Regarding Nguyen Van Dai drafting by-laws for 21 Century Democracy Party
The presiding judge questioned Le Thi Cong Nhan:
a) Regarding a number of materials relating to the strikes, formation of the Progression Party, Freedom, and Democracy Manifesto. Flyers urging people to wear white on the 1st and 15th of each month. The presiding judge asked why did the accused store documents on her computer instead of deleting them or turning them into the authority.
b) Regarding her giving interviews and discussing foreign media and press
c) Regarding her admission as being the spokesperson for the Progression Party
d) Regarding her participation and joining The Progression Party and Bloc 8406
e) Regarding her support for the 2006 Freedom and Democracy Manifesto
f) Regarding her giving legal consultation to the independent union.
The presiding judge considered all of the above organizations outlawed thus participation in them is criminal.
The presiding judge questioned witnesses
(These are Advanced Journalism students of the Radio and Television I of Ha Nam: who participated in the human rights classes and were invited to give testimony in court)
a) Khong Van Thanh: did meet Nguyen Van Dai once, he alleged Nguyen Van Dai told him that there is inconsistency between the Vietnamese constitution and the various government resolutions and decrees, and slandered Ho Chi Minh.
b) Giap Van Hieu: never met Nguyen Van Dai. He claimed he met Le Thi Cong Nhan once on February 2, 2007 and was given some human rights materials but before he had a chance to read it the police descended on them and arrested them. During the lecture session, he said there were Pham Van Troi and Bach Ngoc Duong. Cong Nhan introduced herself as the spokesperson for The Progression Party and said that besides the Vietnamese Communist Party there are other parties.
c) Dong Thi Giang: contacted Nguyen Van Dai three times and Le Thi Cong Nhan twice. During these meetings, the accused spoke of democracy and human rights. Nguyen Van Dai handed out some materials such as a reporter notebook and some materials on civil society.
(The presiding judge did not entertain cross-examination of these three witnesses by the attorney; neither did he question the two employees from the Thien An law office and Mr. Pham Van Troi)
Attorney questioned the accused
The presiding judge reminded the defending attorneys that they could only have question that were not already posed by him.
Attorney Tran Lam questioned Nguyen Van Dai
How were the meetings with the students conducted, and for how long?
Who did you lectured? Did you write any articles in Vietnam?
How come you have gathered materials on human (female) trafficking?
What is your relationship with Nguyen Dinh Thang?
Attorney Dam Van Hieu questioned Nguyen Van Dai
Did you entice the employees of your law office to participate in propaganda?
(The two attorneys did not question Le Thi Cong Nhan)
III. The arguments (10:10 to 11am)
(Nguyen van Dai and Le Thi Cong Nhan were put on the stand)
1. The arraignment session of the prosecutors (10:10 to 10:25 am)
The prosecutors regarded the above actions constituted enough evidence to conclude that Nguyen Van Dai and Le Thi Cong Nhan have slandered the state, propagated against the state?(they reread the indictment)? While Vietnam is trying to build the country, the accused have taken a contradictory path, taking advantage of their legal background to commit heinous acts. They have met Nguyen Van Ly, Do Nam Hai to conspire and discuss their plans. Both Dai and Nhan did not take on any cases nor defend anybody, moreover they have linked with Nguyen Khac Toan and Tran Khai Thanh Thuy to establish what is called ?United Labor Union?. Nguyen Van Dai and Le Thi Cong Nhan did not contribute constructive ideas to develop the country. The accused need to be separated from society. The prosecutors proposed that the arraignment committee to indict Nguyen Van Dai from 5 to 6 years of incarceration and 4 years of house arrest, Le Thi Cong Nhan from 4 to 5 years of imprisonment and three (3) years under house arrest and recommend to seize and destroy all the documents.
2. The attorneys defense session (10:25 to 11 am)
Attorney Tran Lam defended Nguyen Van Dai:
If examined under the political lens of the state, the actions of Nguyen Van Dai may deem dangerous, but if judged under constitutional aspects then they cannot be considered crimes.
The court cannot rule on matters relating to parties since they do not constituted materially under crimes to be prosecuted.
Regarding the coursework: Although Nguyen Van Dai did organize classes but these classes have not been materialized since there were only 2 to 3 people who attended; sometimes one person attended class, sometimes another. Since the class was only organized for one or two times, they do not constitute a class. Course materials speak of concepts of human rights, egalitarianism, and compassion; therefore, they do not construed to be crime against the State.
The words of the students by themselves carry very little value and we need a lot more evidence to build a case against the accused.
- Based on material evidence, there are a number of documents and written materials related to international source and their contents have nothing to do with Vietnam saved one.
- Regarding the storing of evidence: If the court considered these documents taken from the internet as contraband that needed to be turned in to the authority or to be destroyed, in reality these acts are so common that such measure should be required.
- Regarding the Quoc-Quoc document: this document is so thick, almost 500 pages long, the prints are so illegible that it is even difficult for an attorney to read, let alone should be considered materials to be disseminated.
- Regarding outside contacts: the accused did not gather evidence for foreigners. If they are thus charged then the court should be overruled with its guilty verdict.
- Regarding the act of collecting materials: The accused is a religious person thus the collection of materials should fall within the scope his religious duty. AT THIS POINT, attorney Tran Lam is interrupted by the presiding judge and was told he could not speak about religion (the sound was so poor at this juncture that one cannot make out what attorney Tran Lam is saying)
After that, the presiding judge asked if the attorney had finished speaking. Attorney Tran Lam asked for two more minutes to conclude that according to Vietnam law, Mr. Nguyen Van Dai is completely innocent.
Attorney Tran Lam defended Le Thi Cong Nhan.
- Regarding the role of spokesperson: the Court needs to prove what was being said?
- Regarding the enrollment in class: asking the court not to rule on this since the accused has barely taught.
- Regarding propaganda by word of mouth: Le Thi Cong Nhan is not guilty.
- Regarding writing document relating to Resolution 31CP: This act should be commended and the attorney, himself, defends this point of view.
- Regarding the union: Asking the court not to rule on this since it does not fall under the charges to be prosecuted. Her conduct and her personality are always transparent, seeing things for what they are, and knowing right from wrong. Therefore, she is not guilty.
Attorney Dan Van Hieu defended Nguyen Van Dai
On the legal aspect, we need to focus on two basic points:
- Under the subjective aspect of the crime, the person who committed the crime must have intent to be against the state. Yet the government of Vietnam has no document outlining or stipulating specifically what constitute a crime against the state, but it is so general and vague in nature that in reality the state cannot legally charge a person with such generality as ?crime against the state?. For example, if one?s viewpoint is considered different from the state or from the Party does that make him an enemy of the state or committing a crime against the state?
- Under fair and objective criteria, the person who commits a crime against the state must violate those stipulations outlining in Article 88 of the Penal Code. Besides the three stipulations, one cannot be considered to be against the state.
- If one of these stipulations does not meet the general subjective and objective points above, the person in question cannot be charged with the crime against the state. For example, if a person unwittingly possesses materials against the state, then he cannot be considered against the state.
b) Is Nguyen Van Dai working against the state? Nguyen Van Dai always insists that he is not against the state. Nguyen Van Dai wants the rights stipulated in Article 69 of our constitution such as Freedom and democracy to be carried out in accordant with international law, such as the Declaration of Human Rights of 1948 and other international covenants outlining civil and political rights of 1966 that our nation has signed in 1982, as well as the teaching of President Ho Chi Minh stating that of our country is independent but the people are not given freedom and democracy then that independence means nothing.
c) Nguyen Van Dai has no thought of being against the state yet the Hanoi Procuracy People?s Court?s indictment stating that Nguyen Van Dai is against the state and points out the following points to accuse him:
- Storing: It is unclear as by whom the majority of these materials were brought to Nguyen Van Dai?s law office, Nguyen Van Dai pays no mind to these things, there is something that he read, and others he did not read, he did not participate in the bi-monthly freedom magazine, he did not participate in the election boycott. The above materials were placed at the Thien An law office beyond his control, and due to his oversight, were not destroyed.
- Therefore, to base his intent of working against the state on this incident is not accurate.
d) Nguyen Van Dai wrote ?The right to form party in Vietnam? although did seem to go against the wish of the state and the party, but that is his own opinion, and should not be considered as being against the state.
e) Nguyen Van Dai did not organize a human rights class, he only exchanges ideas with a number of people about human rights. To consider the event that happened on February 3, 2007, as a classroom is perhaps too much of an exaggeration because there were only three people, the subject being taught were: integrity, fairness, compassion. Therefore, there was nothing in the lecture that could be against the state.
f) The indictment of the Hanoi Procuracy Court not only did not provide clear evidence but also lies outside the jurisdiction of Article 88, e.g.:
- Contact with Vu Quoc Dung, Nguyen Dinh Thang. All the activities carried by the employees of the law office were reported overseas in order to receive directives.
Nguyen Van Dai met Nguyen Van Ly, Do Nam Hai. (AT THIS POINT, THE PRESIDING JUDGE interrupted and requested attorney Hieu to concentrate on the issues of storage, propaganda, and what was produced but not on other issues). Attorney Hieu claimed that the propaganda only involves the three students. Besides it was lectured by Le Thi Cong Nhan and not Nguyen Van Dai?(at this juncture, the audio was very poor, so people in the courthouse could not make out anything until the end of the attorney Dam Van Hieu?s defense)
3. The Exchange
The Presiding Judge asked accused Nguyen Van Dai if he needs to say anything and reminded him that he can only say things that were not already discussed by the attorneys. Nguyen Van Dai said no.
- The Presiding Judge asked accused Le Thi Cong Nhan if she wanted to say anything. Nhan answered no.
A prosecutor stood up and said: In the principle of the Penal Code there are no clear stipulation regarding ?anti-state? crime, but based on the above activities, the accused did store materials, and based on the testimonies of the three students attesting to the accused intention to form party, multi party, to directly write documents, indicating their intent to violate the constitution of Vietnam. The action against the constitution is also against the state. Attorney Tran Lam said: if there are only words then they have no incriminating values. The documents and the testimonies of the students therefore carry little value. Besides the documents are written by foreign authors, there is only one from a Vietnamese. Le Thi Cong Nhan had only passed out the materials and had not begun to teach.
We cannot accuse Nguyen Van Dai because there are not enough criteria to constitute as crime. Domestically, there are many ideas supporting multi party and not one party. Dai does not go against the constitution and has not had any similar actions. So according to the law, he is never guilty.
At this juncture, the presiding judge turned to the accused and permitted the accused to have the last words.
IV. The last words of the accused (11:05 to 11:15)
(At this point, the audio is very poor so the people in courtroom cannot make out the statement of the accused)
a) ?The Procuracy Court can rely on my classes to know that my words or the exchange of my ideas with the students of the Advanced Journalism of The Radio and Television College are only about the conditions of our society, there are nothing about the slandering of the Party or the State. Secondly, I only asked them about their studies. What they say in front of the authority is not accurate. Every time I met with them, Pham Van Troi, a friend of mine, is always present. He brought them there and witnessed everything. Today I don?t known what Troi has said in front of the court, but I can assure you that whatever Troi witnessed in my classes have nothing to be considered against the state.?
b) I reject the accusation that I am guilty of the crime of storage, because there are no signatures on these documents, and they can be forged (AT THIS POINT, THE PRESIDING JUDGE STOPPED HIM AND FORBIDDED HIM FROM CONTINUING) Nguyen Van Dai requested: that he presiding judge does not cut him off, because the law does not stipulate how long a person could speak and he should be allowed to speak.
c) Downloading materials from the internet is my right, I do not disseminate them. AT THIS POINT THE PRESIDING JUDGE DID NOT ALLOW HIM TO CONTINUE and told him this should have been said at the argument stage.
Accused Le Thi Cong Nhan:
I see that the trial today is not just since I am not a minor, I am not mentally retarded who needs a chaperone, and I have the right to argue as a person. And I have not been allowed by the Presiding Judge (inaudible) when the presiding judge has already declared the argument session is over.?
After that the Court decided to recess until 11:45am
V. Sentencing Phase (11:45 to 12 am)
At 11:45, the presiding judge asked that everybody who attended the trial to rise and listen to the indictment. He sentenced Nguyen Van Dai to 5 years in prison, 4 years under house arrest; Le Thi Cong Nhan 4-year imprisonment, and three (3) years under house arrest.
The trial ended at 12 am.
-----------------------------------------------------------------------------------------------
The Socialist Republic of Vietnam
Independence ? Liberty - Happiness
of the Socialist Republic of Vietnam
The Preliminary Trial Committee is composed of:
Presiding Judge: Mr. Nguyen Huu Chinh
People?s Jurors:
1. Mr. Nguyen Thanh Ha
2. Mrs. Tran Hong Thuy
Court clerk / recorder: Mrs. Nguyen Thi Huyen, cadre of the People?s Court of Hanoi City
Representative of The Hanoi City People?s Office of Procuracy:
1. Mr. Dinh Trong Nghia, Procurator
2. Mr. Dinh Quoc Thai, Procurator
On May 11, 2007, the following defendants were preliminarily tried by the People?s Court of Hanoi City under Criminal Docket No. 138/2007/HSST of April 24, 2007:
1. NGUYEN VAN DAI born 1969, in Da Trach, Khoai Chau District, Hung Yen Province; domiciled at Apartment 302, House Z8, Back Khoa Communal Building, Bach Khoa Ward, Hai Ba Trung Precinct, Ha Noi City; occupation at the time of committing crimes: Head Attorney of the Thien An Law Office; educational background: Grade 12/12; born of Mr. Nguyen Van Cap and Mrs. Nguyen Thi Thom; married to Vu Minh Khanh; arrested and placed under temporary detention since March 6, 2007; is present at the trial.
2. LE THI CONG NHAN: born 1979 in Go Cong Tay, Tien Giang Province; domiciled at Apartment 48 (currently Apartment 316), House A7, Government Office Employees? Communal Building, Phuong