Đối Thoại                                    Website: Doi-Thoai.com                                  Email: toasoandoithoai@yahoo.com


Ai thương tiếc ông Võ Văn Kiệt?


Thursday, June 12, 2008

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=79964&z=7

Ngô Nhân Dụng

Thương cho ông Võ Văn Kiệt. Lúc còn sống ông từng lên tiếng ủng hộ việc cởi trói thêm cho báo chí, muốn cho các nhà báo được dễ thở hơn một chút; nhiều nhà báo biết ơn coi ông như một “ô dù” bảo vệ họ mỗi khi lỡ nói “những sự thật không được phép nói.” Nhưng khi ông qua đời, hai ngày sau báo chí ở Sài Gòn mới được phép loan tin! Có báo lỡ đưa lên mạng rồi cũng được lệnh phải cắt bỏ. Và họ đành răm rắp vâng lệnh các ông chủ! Tự do báo chí, như có lần ông Võ Văn Kiệt đã đòi phải mở rộng hơn, bây giờ vẫn như thế đó!

Tại sao người ta sợ một bản tin đơn giản giống như bài “cáo phó” vậy? Chắc Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản ở Hà Nội đã mất hai ngày bàn cãi vì họ khó “nhất trí” với nhau. Họ chưa biết nên cho ông Kiệt được hưởng nghi lễ cấp bậc nào; cũng không biết nên tổ chức đám tang ở Sài Gòn, Vĩnh Long, hay Hà Nội! Tình trạng chậm trễ này cho thấy giới lãnh đạo đảng sợ. Họ sợ cả thi hài một người chết! Chắc họ còn nhớ vụ sinh viên và công nhân Bắc Kinh làm lễ tưởng niệm Hồ Diệu Bang, một tổng bí thư đảng Cộng Sản Trung Quốc đã mất chức. Lễ tưởng niệm đó, vào Tháng Tư năm 1989, lớn lên dần dần, biến thành một cuộc biểu dương lực lượng đòi tự do, sau cùng dẫn tới vụ tàn sát ở Thiên An Môn vào đầu Tháng Sáu năm đó.

Có lẽ ban lãnh đạo đảng Cộng Sản không lo đám tang Võ Văn Kiệt sẽ trở thành một ngòi nổ như lễ tưởng niệm Hồ Diệu Bang 19 năm trước đây, vì Sài Gòn không phải là Bắc Kinh. Mấy tháng trước đây, guồng máy công an Cộng Sản đã đè bẹp những cuộc biểu tình chống Trung Quốc chiếm Hoàng Sa. Trước ngày rước Ðuốc Thế Vận 2008 qua Sài Gòn, công an đã triệt hạ tất cả những nhóm muốn biểu tình chống đối. Ngược lại, đội ngũ công an Việt Cộng đã thành công mỹ mãn trong việc bảo vệ các đồng nghiệp công an Trung Cộng (đóng vai lực sĩ) tổ chức tuần hành phất cờ ngũ tinh diễu võ dương oai ngay trên đường phố Sài Gòn, trước những con mắt ngơ ngác của người dân Việt.

Và như vậy, đảng Cộng Sản sẽ tổ chức một “quốc táng có kiểm soát chặt chẽ” cho ông Võ Văn Kiệt. Không những họ sẽ kiểm soát từng người đi dự lễ, từng vòng hoa, từng lời phúng điếu, mà sẽ còn kiểm soát đến từng chữ viết, từng bức hình chụp khi loan tin về đám tang đó!

Trong tình cảnh như vậy thì linh hồn ông Võ Văn Kiệt cũng phải đau lòng! Vì nếu được chọn, chắc ông sẽ muốn người ta nhớ đến ông như một người tiêu biểu cho các đảng viên muốn thay đổi nhanh chóng, chứ không phải của một tổ chức khép kín gồm các lãnh tụ đảng đang lo chia phần sôi thịt! Mấy năm sau cùng khi còn tại thế, ông Võ Văn Kiệt tự biến mình thành điểm hội tụ của những đảng viên và người ngoài muốn thay đổi mạnh bạo hơn. Có lúc ông nói và viết như một người đối lập. Trước đại hội mười của đảng Cộng Sản, những người muốn thay đổi nhanh chóng hơn đã quy tụ quanh ông. Trong năm 2005 ông Kiệt đã đi khắp các tỉnh ở miền Nam vĩ tuyến 17, mỗi tỉnh đến thăm nhiều lần, để cổ động khuynh hướng thay đổi mạnh hơn.

Ðặc biệt, trong đám những người ở quanh ông Kiệt có những nhà báo trẻ, những người dám ngỏ ý đòi thêm quyền tự do ngôn luận. Khi có những mạng lưới loan tin đồng bào biểu tình phản đối bị chiếm ruộng đất, hoặc loan tin những hành động của thanh niên, sinh viên, văn nghệ sĩ chống Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, nhiều người dám làm những việc đó vì họ tin đã được ông Võ Văn Kiệt ngấm ngầm hỗ trợ. Ông Kiệt trở thành một thứ “ô dù” của những đảng viên Cộng Sản có tư tưởng tiến bộ ở miền Nam. Nếu được chọn, chắc ông Kiệt muốn được người ta nhớ đến như một “đầu tầu” của phe tiến bộ trong đảng, của những người sẽ thay đổi đảng; chắc ông không muốn được lãnh huy chương, được phong làm “anh hùng” của một đảng Cộng Sản đang thối nát đến tận xương tủy. Võ Văn Kiệt đã tìm cách thay đổi cái đảng thối nát đó, một đảng mà ông đã theo trong gần 70 năm; nhưng sau cùng ông vẫn không thành công. Ngay cái chết của ông cũng sẽ được đám lãnh tụ tham ô sử dụng để củng cố quyền hành và bảo vệ những lợi lộc của họ!

Một đảng viên Cộng Sản lâu năm như ông Võ Văn Kiệt phải nhuần nhiễn “kỹ thuật tồn tại” khi sống trong lòng chế độ, cho nên chúng ta không hy vọng khi còn sống ông Võ Văn Kiệt dám nói thẳng đến những sai lầm căn bản của Chủ Nghĩa Cộng Sản cũng như của chế độ toàn trị bất lực và thối nát của họ. Nhưng trong khuôn khổ hạn chế đó, ông đã dám nói lên rất nhiều điều để người đọc có thể suy ra ý kiến sâu kín của ông. Năm 1995, lá thư ông Võ Văn Kiệt gửi cho Bộ Chính Trị trong khi ông đang đóng vai thủ tướng đã được tiết lộ, cho thấy ông muốn dùng dư luận bên ngoài để tạo sức ép lên đám lãnh tụ thủ cựu chung quanh. Trong thư đó, ông Kiệt đã phản đối chủ trương dùng kinh tế quốc doanh làm chủ đạo, ông còn gợi ý không được để cho cơ chế đảng lấn áp guồng máy nhà nước. Ông viết thẳng sự thật là các đảng viên và các tổ chức cơ sở đảng “chỉ hoạt động hình thức, hoặc tê liệt, thoái hóa.”

Nhưng phải đợi 10 năm sau, ông Kiệt mới dám nói thẳng hơn khi góp ý kiến công khai trước đại hội X. Ông dám viết một sự thật mà đảng Cộng Sản vẫn che lấp, là họ không còn dính gì đến giai cấp công nhân lao động nữa: “Chúng ta thường nói như một công thức rằng đảng Cộng Sản là đội tiền phong của giai cấp công nhân... Thực tế là trong một thời gian khá dài, đảng dường như không phải là của giai cấp công nhân... Giai cấp công nhân trong thực tế không biết và không có quyền được biết đội tiên phong của mình đang làm gì.” Cả nước biết và muốn nói như vậy mà phải lặng câm, những lời nói của ông Kiệt tạo cơ hội cho nhiều người dám nói mạnh dạn hơn.

Ông Võ Văn Kiệt có dám đòi tự do dân chủ thật sự cho người Việt Nam hay không? Ông đã phê phán đảng Cộng Sản vì trong lòng đã nhìn thấy chế độ độc tài là một tai họa của dân tộc; hay là ông chỉ theo thời mà nói lên những điều cả nước Việt Nam ai cũng thấy? Chúng ta biết là trong guồng máy độc quyền của đảng Cộng Sản mà ông đã sống, một người như ông chỉ dám hô lên những khẩu hiệu chung chung, không dám nói những điều cụ thể. Trước đại hội X, ông viết, “Phải rèn tập cho xã hội Việt Nam một thói quen của đời sống dân chủ. Trong đó quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do nghiên cứu... cần được mở rộng hơn nữa.” Khi một lãnh tụ cấp cao như ông đã viết như vậy, các đảng viên tiến bộ thấy như đã được “bật đèn xanh” để mạnh dạn biến các khẩu hiệu đó thành hành động. Họ dám viết báo chống tham nhũng, dám làm những mạng lưới đòi tự do, dám chống Trung Quốc xâm lăng. Nhưng tiếc rằng họ chưa bao giờ đạt được kết quả nào cụ thể. Tức là chính ông Võ Văn Kiệt, cho đến trước lúc ông qua đời, cũng vẫn thất bại - nếu ông thực tâm muốn thay đổi!

Bây giờ ông Kiệt qua đời, những đảng viên tin theo ông và từng lên tiếng đòi quyền sống cho nông dân, chống cường hào ác bá sẽ bơ vơ. Những người đó, phần lớn đều trẻ tuổi, mới lâm vào cảnh “mồ côi.” Họ là những người sẽ thương tiếc ông nhất. Không những thương tiếc một con người mà thương cho những cơ hội đã mất không bao giờ tạo được nữa! Họ sẽ phải đi tìm “chỗ dựa” nếu muốn tiếp tục vận động đảng Cộng Sản bỏ chế độ độc tài và phục hồi danh dự đất nước. Hiện nay không thấy một ai đủ sức làm ô dù cho họ cả! Trong đám tang ông Võ Văn Kiệt, đó là những người sẽ khóc ông thành thật nhất. Chính khi còn sống ông Võ Văn Kiệt chưa bao giờ tổ chức được những người đang theo mình, chuẩn bị cho có người làm đầu tầu thay thế mình. Có lẽ vì lòng ông vẫn “tận trung” với đảng Cộng Sản; mà cũng có thể vì ông bất lực trước guồng máy kiểm soát chặt chẽ của đảng, họ không bao giờ để cho một ý đồ như vậy có thể thực hiện.

Bây giờ ông chết rồi, đảng Cộng Sản sẽ chiếm cái thi hài của ông. Ðám tang sẽ được tổ chức “đúng đường lối!” Từ nay ông sẽ thuộc về họ, họ bảo đảm guồng máy thông tin làm cho cả nước hiểu như vậy. Ðám lãnh tụ đảng sẽ đọc điếu văn, sẽ ban thêm huy chương cho ông, sẽ khen ngợi những thành tích phục vụ đảng của ông mà không bao giờ nhắc đến những ý kiến “chệch hướng.” Họ sẽ không dại dột lăng mạ ông như đã làm trong đám tang Tướng Trần Ðộ. Nhưng họ sẽ khuyên các đảng viên khác chỉ theo tấm gương tận tụy phục vụ đảng của ông, khi nào chết sẽ được phát thưởng huân chương y như vậy!

Trong bộ ba Mười, Anh, Kiệt mười năm trước, Ðỗ Mười và Lê Ðức Anh vẫn còn sống và vẫn kiểm soát giềng mối bộ máy đảng, quân đội và công an. Tay chân của hai ông này vẫn nắm quyền, tha hồ chia chác nhau các thứ lợi lộc. Ông Võ Văn Kiệt đã thua vì chết sớm hơn. Ông ra đi, không còn bảo vệ được những người tiến bộ đã theo ông nữa. Trong vòng hai tháng nữa trung ương đảng Cộng Sản sẽ họp để sắp xếp lại, và khẳng định “Võ Văn Kiệt đã chết thật!” Khuynh hướng thủ cựu sẽ thống ngự trong hai ba năm sắp tới, trong đảng cũng như ngoài xã hội. Chỉ trong vòng một năm tới, những người đàn em trẻ tuổi của ông Kiệt sẽ bị phân tán, nhiều người sẽ bị bắt, nếu mạng lưới của họ không bị tiêu diệt thì cũng bị làm cho tê liệt!

Cho nên đám tang ông Võ Văn Kiệt là cơ hội sau cùng để những người đã theo ông hành động. Không biết họ sẽ làm gì để chứng tỏ những ý kiến có khuynh hướng tiến bộ mà ông Kiệt đã nói trước đây là có thật, xuất phát từ tim óc, chứ không phải chỉ là những lời a dua giả dối, hô khẩu hiệu theo thời thế đổi thay. Họ sẽ phải đối đầu với lực lượng công an, mật vụ của chế độ, không biết họ có đủ sức và đủ dũng cảm để làm được gì hay không.

 

Osin's Blog

 

"Anh Sáu Dân"

http://blog.360.yahoo.com/blog-_Q78P6g5br89WVUa77qC3PG4?bid=4662&yy=2008&mm=6

Permanent Link

Huy Đức

Sáng 24-5, Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhập viện để rồi đi mãi. Buổi làm việc chiều 23- 5, giờ đây, đã là “buổi làm việc cuối cùng” của ông. Hôm ấy, trong cơn mưa không dứt, ông say sưa nói về vai trò của người trí thức trước những vấn đề của đất nước. Những ai đã từng biết đến Võ Văn Kiệt, người chứng kiến một đội ngũ trí thức trước năm 1975 hăm hở ở lại Sài Gòn để rồi, sau đó, lặng lẽ rời bỏ Sài Gòn. Mới hiểu, vì sao ông có thể để lại dấu ấn sâu đậm và được các bậc trí thức quý trọng.

“Để Tôi Đưa Anh Đi, Đừng Vượt Biên Nguy Hiểm”

Năm 80, trong khi GS Chu Phạm Ngọc Sơn đang đi công tác ở Liên Xô, một người con của ông “vượt biên” không thành. Phải sống ở Sài Gòn thời ấy mới cảm nhận được sự dữ dội của hai từ ấy, “vượt biên”. Trở lại Sài Gòn, ông Kiệt nói với giáo sư Sơn: “Để cháu đi như vậy, có gì, tôi với anh có tội”. Vợ GS Chu Phạm Ngọc Sơn là một dược sỹ, đang làm ở một bệnh viện lớn, “giải phóng” vô, bà được xếp vào thành phần “bóc lột”, bị thay thế bởi một người yếu kém về chuyên môn. Con gái ông, sau này trở thành một bác sỹ giỏi ở Mỹ, những năm ấy, thi vô dự bị y khoa không đậu. Cho dù ông vẫn quyết tâm gắn bó với chế độ mới, lòng tin của vợ con ông vơi dần.

Biết chuyện, Ông Võ Văn Kiệt thỉnh thoảng qua lại, trò chuyện với gia đình giáo sư Chu Phạm Ngọc Sơn, nhưng ông nhận ra mình bất lực. Ông Kiệt nói với giáo sư Sơn: “Thôi, anh cứ để cho cô ấy và mấy cháu đi, đi chính thức. Bên đó, có điều kiện cho các cháu học hành. Sau này, nếu các cháu trở về thì tốt, nếu không, tôi với anh cũng được làm tròn bổn phận”.

Cũng trong những năm ấy, ông Kiệt cho gọi Tổng thư ký Hội Trí thức Yêu nước Huỳnh Kim Báu lên, dặn: “Anh nghe ngóng, anh em trí thức lỡ ‘đi’, nếu có bị bắt ở đâu, anh phải lãnh về”. Ông Huỳnh Kim Báu nhớ lại: “Một lần, nhận được tin công an Bình Thuận bắt giam kỹ sư Dương Tấn Tước về tội ‘vượt biên’, ông Kiệt cấp giấy cho tôi, ra Bình Thuận ‘di án’ về TP HCM thụ lý”. Ông Báu kể, khi bước vô trại giam, anh Tước thấy tôi, mừng quá định kêu lên, tôi phải giả vờ làm mặt lạnh, bước tới, còng tay anh Tước. Dọc đường, tôi cứ phải làm thinh mặc cho kỹ sư Dương Tấn Tước ngơ ngác. Qua khỏi Bình Thuận, tôi mới mở còng và giải thích: “Công an Bình Thuận mà biết, người ta chụp đầu cả tôi”.

Đích thân ông Kiệt nhiều lần đến các trại giam để bảo lãnh các trí thức. Theo ông Phạm Văn Hùng và Nguyễn Văn Huấn, hai người giúp việc thân cận thời đó của ông, hình thức “xử lý” đối với những trí thức vượt biên của “Anh Sáu Dân” là kêu tụi tôi đích thân đi làm lại hộ khẩu và sổ gạo cho họ. Một trong những trí thức mà ông Kiệt rất quý trọng là kỹ sư ngành dệt Phạm Văn Hai. Khi ông Hai vượt biên bị bắt, ông Kiệt vào trại giam, nói: “Khi nào không ở lại được nữa hãy nói với tôi, anh đừng đi như thế, nguy hiểm lắm”.

Nước Đâu Phải Là Chuyện Của Trí Thức”

Ông Võ Văn Kiệt nhiều lần tâm sự, ông hiểu, phần lớn những trí thức chọn ở lại sau ngày 30-4 không phải vì họ bị “kẹt”. Ông biết nhiều người có trong tay cả một chiếc máy bay đã cất cánh nhưng không thể nào rời bỏ Việt Nam được. Nhiều người, như giáo sư Châu Tâm Luân, đã từng là một “kẻ chống đối” trong chế độ cũ. Kết thúc chiến tranh là một cơ hội mà phần lớn người dân miền Nam lúc ấy hy vọng sẽ nhanh chóng thống nhất được lòng người để xây dựng một đất nước ấm no hạnh phúc. Nhưng, ông hiểu vì sao chính những người đó về sau đã “vượt biên”.

Ông Đặng Anh Võ, một chuyên gia trong ngành viễn thông, do từng phục vụ trong quân đội, sau 1975, phải đi “học tập” một thời gian. Cũng như nhiều trí thức lúc đó, ông Võ phải làm đủ nghề để kiếm sống. Ông, một người lãnh lương gần 4 cây vàng/tháng hồi trước 1975, kể lại cuộc sống về sau trong tập sách “Những Trang Đời” do Hội Nghiên cứu Dịch thuật xuất bản: 16:30 tan sở; 17:00 đến Trung tâm ngoại ngữ; 21:00 về, ăn qua loa rồi phụ vợ gọt thơm, gọt ổi để sáng còn kịp đi bỏ mối. Nhiều hôm, 21:00 dạy ra, bánh xe bị xẹp, phải dắt bộ 9 km về nhà tự vá để tiết kiệm 3 đồng! Nhưng, sự khốn khó của cuộc sống không phải là tất cả.

Ông Huỳnh Kim Báu kể, năm 1978, khi có nhiều trí thức bỏ nước ra đi, ông Võ Văn Kiệt đã gặp gỡ trí thức Thành phố, kêu gọi họ ở lại. Ông nói: “Anh em cố gắng ở lại, trong vòng 3 năm nữa, nếu tình hình vẫn không thay đổi, tôi sẽ đưa anh em ra phi trường”. Lúc đó, GS Nguyễn Trọng Văn đứng lên trả lời ông: “Chúng tôi sẵn sàng ở lại, nhưng nếu 3 năm năm nữa mà tình hình không thay đổi thì tôi cho rằng người ra đi không phải là chúng tôi”. Câu nói của GS Nguyễn Trọng Văn gây rúng động. Tối hôm ấy tại văn phòng Thành ủy có một cuộc họp, Huỳnh Kim Báu được mời dự. Các ý kiến phê phán GS Văn hết sức gay gắt, có người đề nghị: “bắt”. Ông Báu kể, Sáu Dân làm thinh, nhưng cặp mắt đăm chiêu. Cuối cùng, ông nói: “Sau khi nghe anh Văn nói, tôi cũng bị sốc, rất sốc. Nhưng rồi suy nghĩ, tôi thấy, anh Văn đã phát biểu rất nghiêm túc. Tôi cho rằng, nếu 3 năm nữa mà tình hình không thay đổi thì rõ ràng người ra đi không thể là các anh ấy”. Kết luận của “Sáu Dân” khiến cho mọi người im lặng và nhờ kết luận đó, GS Nguyễn Trọng Văn đã không bị bắt.

Năm 1977, một lần, hệ thống nước máy của Thành phố bị đục, ông Võ Văn Kiệt mời các nhà trí thức tới hiến kế. Nhiều người phát biểu, riêng ông Phạm Bửu Tâm ngồi im. Ông Kiệt hỏi: “Sao vậy anh Tâm?” Ông Phạm Bửu Tâm là một nhà giáo dục rất được kính trọng. Ông Tâm cũng rất quý ông Kiệt nhưng có lẽ là đã dồn nén lâu lắm, ông đứng dậy, nói: “Từ ngày mấy anh về, cái đầu trí thức khỏe, vì cái gì cũng đã có mấy anh nghĩ hết. Nước là chuyện mấy anh đâu phải chuyện tụi tui”.

Những câu nói như vậy không làm cho ông Võ Văn Kiệt, lúc đó đang nắm “quyền sinh quyền sát” tại Thành phố, để bụng. Ông nhận thấy ở đấy sự đau đớn của giới trí thức. Ông biết, những người như kỹ sư Phạm Văn Hai không chỉ tiếc những tài sản bị “cải tạo”, mà còn không chịu được khi nhìn những nhà máy, khi “rơi vào tay cộng sản”, bị quản lý cẩu thả, chất lượng sản phẩm xuống cấp. Những người như GS Châu Tâm Luân, Dương Kích Nhưỡng thì xót xa về một vấn đề khác lớn hơn. Ông Kiệt kể: Anh Dương Kích Nhưỡng nói với tôi, “Ý của các anh rất tốt nhưng các anh không làm được”. Tôi hỏi vì sao, anh Nhưỡng nói, “Đất nước phải được quản lý theo luật chứ không thể theo tinh thần nghị quyết”. Cho tới hàng chục năm sau, khi nhớ lại thời điểm này, ông Kiệt nói: “Đau lắm, để họ ra đi là đau lắm! Nhưng, mình biết, cái cách của mình lúc ấy không thể nào giữ được họ”.

Khát Khao Tri Thức

Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo. Ông Võ Văn Kiệt chưa bao giờ được đến trường một cách chính thức. Từ năm lên sáu, lên bảy tuổi, ông Kiệt, khi ấy có tên là Phan Văn Hòa, Chín Hòa, thường theo cha nuôi lênh đênh đi gặt mướn cho các điền chủ dọc sông Tiền, sông Hậu. Công việc của Chín Hòa là giữ ghe hoặc “mót” lúa. Năm tám tuổi, Chín Hòa mới được đi học. Lớp học do những gia đình trung nông, địa chủ, sau ngày mùa, cất trại, rước thầy về dạy, nên tiền học chỉ phải trả “rất nhẹ”. Ông Hai Mẹo, một trong hai người thầy “dạy mùa” của Chín Hòa, kể: “Năm 1932, lấy được cái certificat, tôi về Đình, ông chú thấy tôi có chữ, kêu tôi dạy cho trẻ con lối xóm. Chín Hoà, thông minh và ăn nói lễ độ lắm. Nhưng dạy được hai năm thì tôi cũng hết chữ, rồi thôi”. Lớp học thứ hai của ông là do những người truyền giáo tới ấp Bình Phụng, quê ông, mở. Ông học ở ngôi trường này khoảng một năm. Tuy nhiên con đường tìm kiếm tri thức của ông Võ Văn Kiệt không dừng lại ở đấy.

Khi tham gia cách mạng, được dự những cuộc họp của Uỷ Ban Kháng chiến Nam Bộ, nghe những bậc trí thức như Nguyễn Văn Hưởng, Ung Văn Khiêm, Phạm Ngọc Thuần…. nói, ông Võ Văn Kiệt thấy có một khoảng cách rất rõ giữa mình và những bậc trí thức đó. Ngay từ trong kháng chiến ông đã miệt mài đọc sách và học hỏi từ những bậc trí thức, cho dù có nhiều người chỉ là cấp dưới của ông.

Sau ngày 30-4-1975, ông không mang nguyên cái “thế” của một nhà lãnh đạo kháng chiến xuất sắc từ trong rừng trở về. Ông không ngần ngại học hỏi từ những người trí thức Sài Gòn cũ. Trong đó có những người đã từng là quan chức cao cấp trong chế độ Sài gòn như tiến sỹ Nguyễn Văn Hảo, tiến sỹ Nguyễn Xuân Oánh… Ông nhìn thấy ở họ phẩm chất của những người yêu nước và rất tự trọng. Hồi đó, một vị lãnh đạo thấy ông gần gũi với những quan chức cao cấp của chế độ cũ, muốn giữ cho ông, ra lệnh: “Đó là CIA đấy”. Ông trả lời: “Lúc nào anh đủ bằng chứng họ là CIA hãy đưa tôi, chính tôi sẽ bắt họ”. Những kiến thức về kinh tế thị trường của các ông như Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Xuân Oánh, những người đã từng là phó thủ tướng trong chế độ Sài Gòn, và của nhiều bậc trí thức Sài Gòn khác, mà ông có dịp tiếp cận rất sớm, tuy ngay lúc đó chưa dùng được nhưng về sau đã rất hữu ích với ông.

Năm 1989, khi ông đang là Phó Chủ tịch thứ Nhất Hội đồng Bộ trưởng, được giao chủ trì công tác cải cách hệ thống ngân hàng, ông Kiệt đã thiết lập một nhóm chuyên gia bao gồm cả những người đã từng hoạt động trong hệ thống ngân hàng Sài Gòn. Hai “tác giả” chính của Pháp lệnh Ngân hàng thời đó chính là hai chuyên gia được ông mời từ Sài Gòn ra: ông Huỳnh Bửu Sơn và ông Lâm Võ Hoàng.

Năm 1990, khi đại diện Việt Nam lần đầu tiên tham dự Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại Davos, Thụy Sỹ, ông kể: “Tôi không yên tâm với bài phát biểu do anh em văn phòng chuẩn bị. Anh em giỏi nhưng hiểu biết về phương Tây chưa nhiều”. Ông đã không ngần ngại đưa bài phát biểu của mình vào Sài Gòn nhờ tiến sỹ Nguyễn Xuân Oánh đọc lại. Đồng thời, ông cho bà Tôn Nữ Thị Ninh liên hệ mời tiến sỹ Nguyễn Văn Hảo lúc này đang ở nước ngoài bay đến Davos. Như vậy, trong chuyến đi tới phương Tây lần đầu tiên ấy, ông có không chỉ là một người bạn mà còn là một “cố vấn” ở bên. Trước chuyến đi, ông cũng nhờ bà Tôn Nữ Thị Ninh tư vấn về trang phục. Đó là thời điểm Việt Nam bắt đầu đổi mới và Thế giới bắt đầu nhìn thấy một nhà lãnh đạo “cộng sản”, từ trong cách ăn mặc, phát biểu, hết sức thân thiện và không có nhiều khác biệt với thế giới bên ngoài.

Sự Trân Trọng Chân Thành

Tiến sỹ Nguyễn Văn Hảo kể, cách đối xử của ông Võ Văn Kiệt gần như khác hẳn với nhiều nhà lãnh đạo Thành phố lúc đó. Ông nhớ, những năm sau 1975, ông ở lại nhưng rồi không được sử dụng, đôi khi cả ngày không có việc gì làm. Nhưng, khi nghe một vị lãnh đạo điện thoại bảo: “8 giờ sáng nay mời anh lên tôi gặp”, ông đã trả lời: “8 giờ tôi bận”. Ông Kiệt không bao giờ cư xử như vậy. Cho dù đang ở vị trí đầy quyền lực và lớn tuổi hơn, khi nào ông Kiệt cũng gọi tiến sỹ Nguyễn Văn Hảo bằng “ông”. Những khi muốn gặp ông thường trực tiếp nói chuyện điện thoại và bao giờ cũng hỏi trước: “ông tiến sỹ rảnh vào lúc nào?”

Một lần, ông Kiệt mời kiến trúc sư Ngô Viết Thụ cùng ông đi Angierie. Trên chuyến bay của hãng hàng không Air France, ông được xếp ở khoang hạng nhất còn KTS Ngô Viết Thụ, do sơ suất chỉ được mua vé ngồi ở phía sau. Ông muốn mời KTS Ngô Viết Thụ lên ngồi cùng nhưng không được. Ông “xin” phi hành đoàn cho được xuống hạng economy để ngồi với ông Thụ, thế là phi hành đoàn đã đồng ý để ông mời KTS Ngô Viết Thụ lên. Trong một chuyến đi khác cùng với KTS Ngô Viết Thụ ra Hạ Long, khi ông Thụ xúc động trước cảnh đẹp thần tiên, đích thân ông Kiệt đã lấy giấy và tự tay mài mực cho ông Ngô Viết Thụ vẽ.

Là một nhà lãnh đạo hết sức quyết đoán nhưng đồng thời, ông Võ Văn Kiệt cũng là người hết sức thận trọng, ông thường lắng nghe rất nhiều ý kiến khác nhau trước khi ban hành các quyết định của mình. Ông nói: “Kinh nghiệm của một nhà lãnh đạo là phải nghe rất kỹ ý kiến chuyên gia và đặc biệt, đã nghe chuyên gia thì phải nghe trực tiếp chứ không bao giờ nên nghe thông qua những người giúp việc”.

Cho đến những năm cuối đời, ông vẫn đọc rất nhiều, đọc cả những ý kiến chỉ trích ông gay gắt. Nhiều lần ông dặn những người giúp việc, nếu như những người chỉ trích ông về nước, hãy mời họ tới gặp ông. Ông trân trọng và muốn trao đổi sâu thêm về những khác biệt, với họ.

Bằng sự trân trọng tri thức và các bậc trí thức một cách chân thành. Ông tìm thấy ở họ, không ngừng, những điều mới mẻ. Và đặc biệt ông kiến tạo được rất nhiều mối quan hệ bè bạn với các nhà trí thức. Đó là lý do mà người ta có thể tìm thấy ở ông không chỉ là uy lực mà còn là sự thông tuệ. Và đặc biệt, ông có được từ những người đã gặp và làm việc, không chỉ là sự kính trọng mà còn là sự thân thiện. Sự thân thiện của một con người vẫn thường được gọi: “Anh Sáu Dân”.

Huy Đức

Friday June 13, 2008 - 07:02am (ICT) Permanent Link | 32 Comments