Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
Bàn Về Sự Lãnh Đạo Của Đảng CSVN |
Nguyễn Kiến Giang
Ông Nguyễn Kiến Giang tham gia hoạt động Việt Minh khi mới 14 tuổi, từng giữ chức Phó giám đốc nhà xuất bản Sự thật. Từ năm 1967 – 1973 ông bị bắt và giam trong vụ ‘xét lại chống Đảng” cùng với ông Hoàng Minh Chính. Bài này ông góp ý với Đảng về tính chính danh vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN. Cụ thể ông đã đòi phải huỷ bỏ điều 4 Hiến pháp, một điều khoản cực kỳ lạc hậu nhằm hợp pháp hoá vai trò lãnh đạo của Đảng. Có nhiều điều chúng tôi không cùng quan điểm với ông, ví dụ như ông khẳng định ‘Đảng lãnh đạo xã hội nhưng không được đứng trên xã hội…” Nhân dịp Hội nghị Trung ương lần thứ 12 của Đảng CSVN, đăng lại bài này để độc giả thẩm định về vai trò của Đảng CSVN. Hiện nay, trước cao trào đấu tranh giành lại quyền lãnh đạo về tay Nhân dân, lẽ ra cần phải đặt lại vấn đề có tính thời sự là “Bàn về vai trò của Đảng CSVN trong xã hội Tự do, Dân chủ”. Thực ra, tính độc quyền chân lý về vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN không thể là một thực tế lịch sử nếu không có bạo lực cách mạng đi song hành. Vất đi sức mạnh của hệ thống kềm kẹp, vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN sẽ bị sụp ngã rệu rạo trước xu thế của thời đại.
Trong các cuộc thảo luận về Đề cương Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của đảng, một trong những vấn đề nổi lên hàng đầu là về vị trí của Đảng trong xã hội. Theo tôi đó là vần đề gai góc, không giải quyết được đúng đắn vần đề này thì không thể nói tới bất cứ một sự cải thiện đáng kể nào trong quan hệ của Đảng với nhân dân, cũng như không thể nói một cách nghiêm túc tới vấn đề chỉnh đốn bản thân Đảng.
Lâu nay trong nhận thức và trong thực tiễn mọi mặt đời sống xã hội, sự độc quyền lãnh đạo của Đảng được coi như một nguyên tắc căn bản, bất di bất dịch. Và ngay cả hiện nay, hầu như cũng không thấy ai đặt vấn đề thay thế vai trò lãnh đạo của Đảng bằng một đảng hay một tổ chức chính trị nào khác. Có lẽ không cần phải phân tích dài dòng về cái thực tế tích tụ từ dòng chảy lịch sử đấu tranh giải phóng diễn ra trên đất nước ta từ hơn 60 năm nay ấy. Nó thường được nói lên bằng mấy tiếng đã trở thành thuộc lòng: sự độc quyền lãnh đạo của Đảng. Nhưng chính cách nói ấy đã bao hàm một sự lầm lẫn lớn, nguy hại cho chính sự lãnh đạo của Đảng. Nói vắn tắt, sự lầm lẫn ấy là ở chỗ biến sự độc quyền lãnh đạo của Đảng từ một sự chọn lựa lịch sử khách quan của nhân dân thành một sự áp đặt ý chí chủ quan của Đảng.
Xin nói rõ hơn. Vào cuối những năm 20, đầu những năm 30 trong các giai cấp xã hội ở nước ta, giai cấp vô sản tỏ ra có khả năng hơn về lãnh đạo đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội. Và người tiêu biểu cho giai cấp vô sản là đảng Cộng sản. Các chính đảng tư sản dân tộc và tiểu tư sản lần lượt hoặc thoả hiệp với kẻ thù, hoặc thất bại không gượng dậy nổi. Trong khi đó, đảng Cộng sản bằng những chủ trương cách mạng triệt để, bằng những sách lược thích hợp và bằng cả tấm gương anh dũng hy sinh của mình, đã dần dần tập hợp được quần chúng nhân dân ngày càng đông đảo dưới ngọn cờ giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội. Sự thật lịch sử ấy không thể nào bác bỏ được. Việc nhân dân hưởng ứng và nghe theo sự lãnh đạo của Đảng trong hơn nửa thế kỷ qua là sự chọn lựa lịch sử của nhân dân. Sự độc quyền lãnh đạo của Đảng trong cách mạng đã hình thành một cách khách quan như thế.
Nhưng từ khi Đảng nắm được chính quyền một cách toàn vẹn, lúc đầu ở miền Bắc và sau đó ở miền Nam, trên cả nước thì cách hiểu về độc quyền lãnh đạo đã biến đổi về tính chất của nó. Từ chỗ là một sự chọn lựa lịch sử khách quan, sự độc quyền lãnh đạo của Đảng dần dần được hiểu và được thực hiện thành sự thống trị tuyệt đối của Đảng trong mọi lãnh vực đời sống xã hội, thậm chí có khi cả đời sống cá nhân, thành Đảng trị (partocracy). Đảng biến thành Đảng Nhà nước, thành một thứ “siêu Nhà nước”, có toàn quyền quyết định tất cả, từ những chủ trương lớn, đến những biện pháp thực hiện nhỏ, và mọi người dân chỉ còn được phép nghĩ theo, nói theo và làm theo những quyết định của Đảng, có khi chỉ là của một cấp lãnh đạo thậm chí cá nhân lãnh đạo nào đó. Mọi ý kiến khác với ý kiến những người lãnh đạo của Đảng bị coi là chống Đảng, cũng có nghĩa là chống Nhà nước, chống chế độ, chống cách mạng. Cho đến khi Đảng nhận ra được những sai lầm của mình (triệt để hay không triệt để) thì xã hội đã gánh chịu những hậu quả cay đắng, chưa nói tới một số người phải chịu đựng sự trừng phạt trái pháp luật mà đến nay vẫn chưa rũ bỏ được hết số phận oan trái của mình.
Khi đường lối, chủ trương của Đảng về cơ bản là đúng, khi đội ngũ đảng viên, tức là những người nhân danh Đảng để lãnh đạo các công dân khác một cách ‘toàn diện, triệt để” về cơ bản còn lành mạnh, thì sự độc quyền lãnh đạo của Đảng cũng đã có thể đem lại những hậu quả tiêu cực rồi (và, trong thực tế đã có những trường hợp như vậy). Nhưng khi đường lối chủ trương của Đảng không đúng, khi nó lại được những đảng viên thoái hoá biến chất thực hiện, thì hậu quả thật không thể lường được. Mà hậu quả nặng nề nhất, tai hại nhất, lại là hậu quả mất dần lòng dân mà Đảng phái gánh chịu.
Ở đây có một mối liên hệ biện chứng được thể hiện rất rõ trong mấy chục năm qua. Khi nào chính bản thân người dân tự mình thừa nhận sự độc quyền lãnh đạo của Đảng, thì khi đó, dù Đảng không tự xưng tên (chẳng hạn trong thời kỳ Việt Minh 1941- 1945 hay trong thời kỳ chống Mỹ dưới ngọn cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam), người dân vẫn đi theo sự lãnh đạo của Đảng. Trong những trường hợp Đảng có nấp dưới danh nghĩa gì đi nữa, người dân vẫn nhận ra Đảng là lãnh tụ chân chính của mình. Trái lại, khi Đảng áp đặt ý chí chủ quan của mình lên xã hội, biến độc quyền lãnh đạo thành sự thống trị tuyệt đối của Đảng, thì khi đó người dân dần dần xa lánh, không còn tin vào Đảng như trước nữa, và sư độc quyền lãnh đạo của Đảng cũng mất đi từ trong lòng dân, một cách khách quan.
Sự thống trị tuyệt đối của Đảng thể hiện ở chỗ nào? Trước hết ở những đặc quyền và ở những độc chiếm của Đảng và các đảng viên. Tất cả các cơ quan dân cử, các cơ quan lãnh đạo quản lý xã hội đều được cấu thành từ đảng viên (tất cả hoặc hầu hết). Phải là đảng viên thì mới có thể giữ những chức vụ lãnh đạo và quản lý từ trên xuống dưới. Do đó, muốn hưởng những đặc quyền vật chất (lương bổng, gạo, phương tiện sinh hoạt) phải là đảng viên. Không phải tất cả những kẻ đặc quyền đặc lợi về vật chất hiện nay đều là đảng viên, nhưng phải nói rằng tình trạng đặc quyền đặc lợi của đảng viên có chức quyền đang nêu gương xấu và tạo cớ cho những người có đặc quyền, đặc lợi khác noi theo. Đặc quyền đặc lợi về vật chất, như đã thấy quá rõ, đang trở thành một thứ ung nhọt phá huỷ cơ thể xã hội.
Nhưng còn một thứ đặc quyền khác còn nguy hiểm hơn nhiều: đặc quyền tinh thần, độc quyền chân lý. Có thể tính tác hại của đặc quyền vật chất thành những số tiền của mất đi, nhưng không thể nào tính được tác hại của đặc quyền tinh thần, của độc quyền chân lý bằng những thước đo sờ thấy. Mà tác hại của thứ đặc quyền này đối với xã hội thật ghê gớm. Một chủ trương phiêu lưu về đối nội và đối ngoại có thể bắt xã hội trả giá nặng nề, làm chậm sự phát triển xã hội hàng thập kỷ. Một chủ trương sai, một quan điểm sai dẫn đến chỗ đánh thẳng vào di sản tốt đẹp của quá khứ, làm cho đời sống hiện tại xuống thấp và phá hoại cả niềm tin của con người vào tương lai, nhiều thế hệ liền phải gánh chịu hậu quả không dễ gì xoá bỏ được. Và bây giờ, nếu những đặc quyền vật chất ít ra cũng bị dần dần hạn chế về mặt công khai, thì đặc quyền tinh thần, độc quyền chân lý vẫn tồn tại dai dẳng, nhân danh lợi ích của đất nước, của chủ nghĩa xã hội, của nhân dân. Vì vậy, để đảm bảo nhân dân thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng (sự độc quyền lãnh đạo của Đảng xét về mặt khách quan), thì không có gì hay nhất bằng việc thủ tiêu càng sớm càng tốt những đặc quyền của Đảng đối với xã hội. Và một lần nữa: không chỉ thủ tiêu những đặc quyền vật chất, mà quan trọng hơn cả là thủ tiêu đặc quyền tinh thần, độc quyền chân lý. (Tất nhiên xã hội vẫn có thể có và cần có những ưu đãi vật chất nào đó đối với những loại lao động đặc biệt có hiệu quả xã hội cao, đối với bộ phận dân cư chưa đến tuổi lao động….nhưng đó không phải là đặc quyền, càng không phải là đặc quyền dành riêng cho đảng viên. Cũng tất nhiên khi những chủ trương của Đảng đã được các cơ quan đại biểu nhân dân chấp thuận và biến thành luật thì mọi người dân, trước hết là đảng viên, đều phải tuân theo).
Sự lãnh đạo của Đảng chỉ được thừa nhận một cách tự nguyện và đầy đủ khi Đảng thật sự là lãnh tụ trí tuệ (tập hợp được trí tuệ của toàn xã hội), là lãnh tụ chính trị (đưa ra được những chủ trương chính trị đúng đắn) và là lãnh tụ đạo đức (nêu gương đời sống lành mạnh) của xã hội. Và làm được như vậy, chắc chắn không có một lực lượng chính trị nào có thể giành mất vai trò lãnh đạo của Đảng.
Từ những phân tích trên đây, xin có mấy kiến nghị cụ thể:
1. Xoá bỏ điều 4 trong Hiến pháp quy định về pháp lý vai trò lãnh đạo của Đảng trong xã hội, các tổ chức Đảng và các đảng viên không thể dựa vào ưu thế pháp lý của mình trong lãnh đạo, và sự lãnh đạo của Đảng, chỉ còn dựa vào phương pháp thuyết phục, tất cả các nghị quyết, chỉ thị của Đảng không mang tính chất bắt buộc đối với các công dân về mặt pháp lý (trừ những trường hợp đã biến thành luật).
2. Đảng không độc chiếm các cơ quan dân cử, các cơ quan lãnh đạo, và quản lý xã hội, chỉ dành một tỷ lệ không quá 50% thành phần những cơ quan ấy, như vậy sẽ tập hợp được những người ngoài Đảng ưu tú vào công việc quản lý đất nước.
3. Ban lãnh đạo các cấp, kể cả Trung ương, tiến hành đều đặn những cuộc đối thoại bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau với những người tiêu biểu cho các xu hướng khác nhau trong xã hội, cả với những người có ý kiến ngược với ý kiến của Đảng, không định kiến, không trù dập.
4. Các cơ quan thuộc bộ máy Đảng không được trực tiếp chỉ huy sự điều hành của những cơ quan, những tổ chức không thuộc hệ thống tổ chức của Đảng (cụ thể Ban Tuyên Huấn không trực tiếp chỉ huy báo chí, Ban Tổ chức không trực tiếp quyết định công việc nhân sự….)
5. Cuối cùng, giải quyết tất cả những vụ án oan về tư tưởng và chính trị trước đây, sòng phẳng với những sai lầm của mình trong quá khứ, thật sự khôi phục đầy đủ các quyền công dân cho người bị oan ức, thực hiện hoà hợp dân tộc một cách chân thành.
Tóm lại, Đảng lãnh đạo xã hội nhưng không được đứng trên xã hội và phải chịu sự kiểm soát của xã hội.