Đối Thoại                                        Website: Doi-Thoai.com                         Email: toasoandoithoai@yahoo.com


Hội Tham Nhũng làm luật bảo vệ tham nhũng

 

Ðối thoại :

1. Yêu cầu nhà nước và đảng CSVN làm bảng kê khai 16 tấn vàng cuả nhà nước Miền Nam vào tháng 4 năm 1975?

2. Yêu cầu đảng CSVN làm bảng kê khai tài sản của đảng với những chứng từ chứng minh

3. Yêu cầu đảng CSVN chứng minh lương bổng, tiền chi tiêu, trợ cấp nhà cửa, phương tiện cho các Ủy Viên Bộ Chính Trị với các chứng từ do luật pháp quy định

 

2005.07.20   -  0630

Trường Văn, phóng viên đài RFA

 

Giới Thiệu: Thưa quý thính giả, bắt đầu từ ngày hôm qua 20 tháng 7, dự luật phòng chống tham nhũng được đưa ra để lấy ý kiến của nhân dân. Mời quý vị nghe phần trình bày sau đây của Trường Văn về vấn đề đó.

Tòa Soạn Đối Thoại : Đối Thoại đã sao chép bài phỏng vấn từ các chương trình phát thanh cuả RFA. Trong mục đích gởi đến độc giả các bài phỏng vấn bằng dạng viết thật nhanh, nếu có sự sơ sót , xin tác giả , độc giả và đài RFA thông cảm. Mời độc giả nghe lại buổi phát thanh để hiệu đính các chỗ sai trước khi xử dụng.

Theo nghị quyết về chương trình xây dựng luật pháp lệnh cho năm 2005 được quốc hội thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2004 thì pháp lệnh chống tham nhũng được nâng lên thành luật và sẽ được xem xét thông qua và kỳ họp cuối năm 2005. Để luật chống tham nhũng được ban hành đúng kỳ hạn, cũng như đáp ứng lòng mong mõi của mọi tầng lớp dân chúng về nội dung của luật cũng như các biện pháp thi hành, Ủy ban thường vụ quốc hội Việt Nam đã phát động chiến dịch lấy ý kiến của dân về luật chống tham nhũng. Dự thảo luật sẽ đăng trên phụ chương của báo Nhân Dân để nhân dân cả nước, các ban ngành các giới đều có thể đóng góp ý kiến được.

Vấn đề đặt ra ở đây là liệu các ý kiến đóng góp đó có được phản ánh đúng đắn trong dự thảo cuối cùng đưa ra quốc hội thảo luận hay không?

Trao đổi với người dân thành phố HCM và các tỉnh, chúng tôi thu thập được các ý kiến sau đây:

Lấy ý kiến của nhân dân là lấy ý kiến của một tổ dân phố, thí dụ như tổ của tôi ở là tổ 64 có được 52 hộ, 260 đầu người. Bắt đầu sinh hoạt bằng cách lấy ý kiến nhân dân là phải họp tổ đó lại, đưa ra những cái đó rồi nhân dân góp ý, nhân dân góp ý gởi về phường, rồi phường gởi lên quận, quận gởi lên thành phố, rồi thành phố mới gom cái đó lại gởi về trung ương. Tụi tui cũng đi họp cấp quận,tụi tui đại diện đi họp cấp quận, dân họ cũng nói thẳng luôn, tại bây giờ mấy ông này dùng chữ là "dân biết, dân bàn, dân lắng nghe, dân góp ý" rồi bắt đầu ai phát biểu ý kiến lên trong sổ dân số thì ghi tên, ghi địa chỉ số nhà. mà họ cũng nói, không phải phản động nhưng mà họ cũng nói thẳng luôn. Thí dụ như những khu nhà mà mấy ổng muốn chỉnh trang đô thị đó thì mấy ổng vô quy hoặch, quy hoặch bằng cách là bồi đền, thì dân cũng làm dữ lắm chớ, cũng đấu tranh đủ thứ, nhưng mà đấu tranh để giá bồi đền cho nó đúng, chính xác, không qua những tay mà dự án, bồi đền ăn chặn hết, họ cũng nói thẳng luôn. Nó nói ghê lắm, họ nói là "xóa đói giảm nghèo" thì đưa người nghèo đi ra khỏi thành phố, đưa cán bộ về để xây nhà lầu! Bắt buộc là cũng phải viết vô biên bản đó để đưa lên trên, vì vậy mà mấy ổng mới có sửa sai chứ. Nếu mà mấy ổng không sửa sai thì bây giờ mấy ổng như Liên Xô sao? Mấy ổng cũng lắng nghe.

Trong dự thảo luật có nêu lên vấn đề kê khai tài sản thu nhập của những người đứng đầu cơ quan, xin bà cho ý kiến về việc này.

Nói vấn đề kê khai tài sản của đảng viên của cán bộ, nhưng mà nói rồi để đó, mỗi cuộc họp xong rồi, nói rồi lại đâu vào đó hết. Chứ còn đi vào thực tế thì chưa có gì rõ ràng về kê khai tài sản hết mà tài sản đó nếu bây giờ là tui thì tui cũng chôn xâu giấu kỷ chứ kê khai làm chi!

Một bà khác thì cho rằng không thể nào diệt trừ được tham nhũng dù cho có biện pháp gì đi chăng nữa:

Bây giờ nó có ra điều lệ chống hay tất cả những gì mà làm tới 100 lần, đi rêu rao 100 lần, phổ biến 100 lần, em thấy cũng như không. Không nghe ngóng gì hết, dân Việt Nam là vô địch tham nhũng mà! Không ăn thua đâu, cái đó là cái cuộc sống mà, em thấy là hình như phải vậy đó, không chống được đâu. Thấy không bao giờ chống được. Chống thì chống nhưng khi mình đi ngã sau mình đưa họ vẫn lấy, không lấy thì lấy gì mà sống, bởi vì họ muốn làm giàu, tất cả ai cũng muốn làm giàu thôi. Nhất là cái giới làm việc ở nhà nước, có chức có quyền, thí dụ nó muốn ký một cái gì đó thì anh phải đưa bì thư nó mới nhanh, nếu không nó giam riết cả mấy tháng.

Sau khi nhận được ý kiến phản hồi của mọi tầng lớp dân chúng, văn phòng quốc hội sẽ đút kết và đưa ra thảo luận tại các ủy ban quốc hội, các cơ quan chính phủ và ban soạn thảo để hoàn chỉnh lại một lần chót, trước khi đưa ra quốc hội thảo luận để thông qua.


Sẽ sung công tài sản không chứng minh được nguồn gốc

(VietNam Express)

 

Hôm nay, dự thảo luật phòng chống tham nhũng sẽ chính thức được đưa ra lấy ý kiến người dân. Việc kê khai, chứng minh nguồn gốc tài sản, mức quà biếu... sẽ là những nội dung được nhiều người dân đặc biệt quan tâm. Xung quanh vấn đề này, VnExpress đã trao đổi với ông Vũ Phạm Quyết Thắng, Phó tổng thanh tra Nhà nước. 
* Dự luật phòng chống tham nhũng

- Thưa ông, vì sao phải lấy ý kiến nhân dân về dự thảo luật phòng chống tham nhũng?

- Có thể nói đấu tranh chống tệ tham nhũng quan liêu là yêu cầu bức thiết của cuộc sống, là nguyện vọng và quyết tâm của Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam. Trong chế độ xã hội của ta, nhân dân là người làm chủ và lâu nay nhiều vụ việc tiêu cực của cán bộ, công chức, cơ quan tổ chức chính quyền đã được nhân dân phát hiện sớm, được báo chí thông tin, rồi sau đó mới đến cơ quan chính quyền vào cuộc. Vì vậy, hơn ai hết nhân dân phải được biết, được hiểu về quyền, trách nhiệm của mình trong việc đấu tranh phòng chống tham nhũng, được tham gia góp ý cho dự luật này.

- Dự thảo luật đưa ra lấy ý kiến nhân dân sẽ tập trung vào những điểm nào?

- Thứ nhất là phạm vi điều chỉnh luật, đối tượng nào cần phải đấu tranh chống tham nhũng? Có phải là tất cả công dân, hay chỉ công chức và có nên tính đến thành phần người hoạt động kinh doanh?

Thứ hai là làm thế nào để kiểm soát nguồn thu nhập của công chức, đối tượng mà dự luật hướng tới trong đấu tranh chống tham nhũng, nhất là việc minh bạch hoá tài sản, làm rõ nguồn gốc tài sản của những người được coi là “có khả năng, có nguy cơ nằm trong vùng nhạy cảm”. Thực tế, minh bạch hoá tài sản không chỉ là việc kê khai, mà còn là kiểm soát, đánh giá đúng sai, khẳng định nguồn gốc tài sản ở đâu, như thế nào và vì sao mà có.

- Hiện còn nhiều ý kiến khác nhau về đối tượng phải kê khai tài sản, quan điểm của ông thế nào?

- Trong dự thảo có nói đến kê khai tài sản của vợ, hoặc chồng, con chưa thành niên có cùng đăng ký trong hộ tịch, tức là muốn nói đến sự dính kết của những người liền kề nhất. Nhưng có ý kiến đề nghị kê khai tài sản của cả bố mẹ, con cái đã thành niên không cùng một hộ khẩu.

Cá nhân tôi, dự thảo đã đưa ra vấn đề đơn giản hơn, dễ khả thi hơn tức là kê khai tài sản của vợ, chồng, con cái chưa thành niên trong cùng hộ khẩu. Cũng phải nói thêm là nhiều trường hợp, người có hành vi tham nhũng luôn biết tẩu tán tài sản của mình cho con chưa thành niên, bạn bè hoặc thuê người khác giữ hộ. Nhưng cái đó thuộc về cơ quan chức năng phải làm tiếp.

- Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, việc kê khai như thế sẽ làm mất đi tính dân chủ, sự tôn trọng quyền cá nhân?

- Không nên đặt vấn đề như vậy. Mỗi người có một bổn phận, chức năng riêng, anh chấp nhận làm công chức, làm công bộc của dân, hưởng lương, chính sách của Đảng và Nhà nước thì phải có nghĩa vụ kê khai tài sản và coi đó là việc bình thường. Tôi khẳng định là việc kê khai không vi phạm nhân quyền, đây vừa là sự bắt buộc, vừa là sự tự nguyện. Mặt khác, khi tài sản được kê khai minh bạch, rõ ràng thì bản thân nhân phẩm, danh dự của người công chức cũng được nâng cao hơn rất nhiều. Lòng tin của nhân dân, đồng nghiệp vào người công chức rõ ràng có tính thuyết phục hơn.

- Vậy vấn đề chứng minh nguồn gốc tài sản sau kê khai có được đặt ra hay không, thưa ông?

- Rất khó để xác minh, kiểm soát nguồn gốc tài sản. Bao nhiêu năm qua, nhất là khoảng 10-15 năm trở lại, một loạt thay đổi về cơ chế chính sách đã làm cho một số người lợi dụng giàu lên. Trước đây cán bộ cao cấp, trung cấp, sơ cấp thu nhập chỉ chênh nhau vài chục nghìn đồng, không đáng bao nhiêu. Nhưng nay thì khác, khoản thu nhập chênh nhau là rất lớn, nhất là khoản “thu nhập ngoài lương”, chúng ta chưa thể kiểm soát được. Báo chí đã đưa tin ở một tổng công ty nọ, ông lãnh đạo thu nhập theo lương đến 40 triệu đồng/tháng và nếu theo logic suy luận, khoản thu nhập ngoài lương chắc lớn hơn nhiều.

Dự thảo lần này đề cập, kê khai xong thì anh phải báo cáo để xác minh nguồn gốc tài sản. Nhưng việc xác minh chỉ thực hiện khi có dấu hiện bất minh. Theo tôi, cần xác minh nguồn gốc đối với những tài sản quá lớn.

- Ông nghĩ sao trước việc có ý kiến cho rằng cần có một cơ quan độc lập, đứng ra kiểm soát nguồn gốc đối với những tài sản quá lớn?

- Dự thảo đề cập người kê khai phải tự mình xác minh nguồn tài sản của mình. Còn người kiểm tra tính chân thực của bản kê khai đó trước hết là cơ quan chuyên môn, nơi người đó làm việc. Nếu không chứng minh được nguồn gốc thì mặc nhiên tài sản đó là bất minh và phải sung công.

Nhưng có ý kiến đề nghị là chỉ kê khai, còn muốn xác minh là nhiệm vụ của cơ quan chức năng. Thực tế với đội ngũ công chức hiện nay, không thể dùng một cơ quan để chứng minh nguồn gốc tài sản của từng người. Theo tôi, hãy quan niệm việc chứng minh tài sản là trách nhiệm, thể hiện sự trong sạch của công chức, đừng nghĩ đó là trách nhiệm của cơ quan khác. Trường hợp anh không chứng minh được hoặc có dấu hiệu vi phạm thì sẽ có cơ quan chức năng để làm việc đó.  

- Vấn đề quà biếu sẽ được quy định như thế nào trong dự thảo lần này?

- Quà biếu vừa là phong tục tập quán của Việt Nam và cũng là của nhiều nước. Nhưng quà biếu trở thành tài sản lớn, vượt trên mức tình cảm thì lại không được. Tuy nhiên, xác định thế nào là mức tình cảm thì rất khó bởi đây là phạm trù không có thước đo cụ thể. Dự luật chỉ đặt vấn đề quà có giá trị trên 500.000 đồng thì người công chức phải cân nhắc kỹ và báo cáo với cơ quan. Đây là vấn đề khó cho cơ quan chức năng, nhưng không khó với từng cá nhân công chức.

Cá nhân tôi cho rằng, người ta biếu bao nhiêu thì tuỳ, vấn đề là anh có nhận hay không. Anh là công chức thì phải hiểu cái gì là giới hạn của tình cảm, cái gì là ràng buộc về công việc mà anh phải xử lý sau này, đừng để quà biếu trở thành thứ để “bôi trơn” bộ máy chính quyền. Cái đó thuộc về bản lĩnh chính trị, nhân cách, văn hoá của công chức, chứ không thể nằm trong câu từ của luật định.

- Nhưng ai sẽ là người kiểm soát quà biếu, khi mà thường chỉ có người cho và nhận mới biết được giá trị của quà biếu? 

- Nó cũng giống như minh bạch hoá tài sản. Cái gì giá trị lớn thì anh phải báo cáo nguồn gốc. Nhưng tôi cũng phải thừa nhận là khi thanh toán chi tiêu của mình còn là tiền mặt thì chưa thể kiểm soát được quà biếu, quà tặng. Vì nó không giới hạn là con chuột vàng hay con trâu vàng như câu chuyện ngụ ngôn mà có thể là phong bì rất nặng, là chuyến nghỉ mát, dưỡng bệnh ở nước ngoài, chu cấp tiền học hành cho con cái công chức...

- Ông muốn nói phải kê khai cả vấn đề khác ngoài tài sản, ví dụ chuyến du lịch của vợ con công chức?

- Là một thành viên trong bạn soạn thảo, khi thảo luận, tôi đã đặt vấn đề phải kê khai chồng, vợ, con cái đi học, chữa bệnh, tham quan ở nước ngoài không bằng tiền của ngân sách vì nó dính líu đến vấn đề nguồn tài chính biểu hiện bằng quà biếu, quà tặng, có thể là một biến tướng của quà. Con đi học ở nước ngoài một năm 25.000 USD, nhưng đi tham quan cả gia đình thì khoản tiền đó không dừng lại 25.000 USD, đi chữa bệnh còn lớn nữa.

- Dự luật chỉ có 2 tháng để lấy ý kiến của nhân dân liệu có quá gấp?

- Không phải chỉ đến lúc xây dựng luật, nhân dân mới đóng góp ý kiến. Thực tế, vấn đề phòng chống tham nhũng tôi tin người dân đã ấp ủ, trăn trở lâu nay. Khi dự thảo được công bố, người dân có thể có ý kiến ngay. Thời gian chỉ 2 tháng song với sự đóng góp tích cực của nhân dân cả nước, tôi tin rằng, ban soạn thảo sẽ thu được nhiều ý kiến quý báu. Tất nhiên, chúng ta không thể cầu toàn. Ngay cả khi luật đã ban hành, nhân dân vẫn có thể đóng góp ý kiến. Nếu quả thật những ý kiến đó là xác đáng, tôi tin rằng Chính phủ, Quốc hội sẵn sàng sửa đổi để luật có sức sống mạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn, góp phần đắc lực cho việc lành mạnh hoá một xã hội mà chúng ta đang hướng tới.

- Người dân quan tâm đến việc xử lý tiếp thu ý kiến của họ khi đóng góp cho dự thảo. Theo ông, phải có cơ chế xử lý như thế nào để việc lấy ý kiến người dân không rơi vào tính hình thức?

- Các cơ quan chức năng làm nhiệm vụ tiếp nhận, xử lý ý kiến đóng góp của nhân đã nghĩ tới điều đó và có biện pháp tổng hợp, phân tích trình cơ quan chức năng của Quốc hội xem xét. Trung thành với ý kiến đóng góp của nhân dân, chúng tôi cũng có thể đưa ra ý kiến khác nhau mà người dân đề cập để Quốc hội cân nhắc, quyết định. Tôi xin nhắc lại, chúng ta không cầu toàn, phải nói và hành động rồi sau đó tiếp tục hoàn chỉnh luật cho nó tốt hơn.

Như Trang thực hiện

 

http://www.vietnamnet.vn

Tham nhũng: Chống thế nào cho hiệu quả?

14:38' 20/07/2005 (GMT+7) VNNet

 

 

Dự thảo Luật phòng chống tham nhũng (đưa ra lấy ý kiến nhân dân từ 20/7 đến 10/9), đã kê nhiều ''đơn thuốc'' để phòng ngừa và xử lý tham nhũng. Theo bạn, những phương thuốc này đã đủ mạnh chưa?

>>Toàn văn dự thảo Luật phòng chống tham nhũng

Kê khai tài sản? Nên kê của ai và có nên công khai không?

Về kê khai tài sản, có quy định: người có chức vụ  ngoài kê khai tài sản của chính mình, còn phải kê khai thêm tài sản của những người thân nhất. Hiện tại đã thực hiện ''kê khai không công khai''. Theo bạn, như vậy đã là hợp lý hay không?

Trách nhiệm của người đứng đầu? Có nên đề cập trách nhiệm liên đới?

Dự thảo luật đã quy định trách nhiệm của người đứng đầu (khi để người mà mình trực tiếp quản lý, giao nhiệm vụ tham nhũng). Có quan điểm cho rằng cần quy định thêm trách nhiệm liên đới khi để xẩy ra tham nhũng, tiêu cực trong cơ quan, đơn vị mình. Theo bạn?

Ban chỉ đạo chống tham nhũng? Có nên "kéo" đến địa phương?

Tiếp thu ý kiến của Quốc hội tại kỳ họp vừa qua, quy định về Ban chỉ đạo chống tham nhũng không nói rõ thành phần cụ thể mà để ngỏ 2 phương án:

- Chỉ thành lập Ban chỉ đạo ở Trung ương do Thủ tướng đứng đầu; tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định và - Thành lập Ban chỉ đạo ở cả cấp tỉnh.

Theo bạn, có nên thành lập cơ quan chuyên trách chống tham nhũng, có quyền lực thực sự trực tiếp tham gia vào điều tra, phá án? Liệu có chuyện tiêu cực lại nảy sinh từ ... Ban chống tham nhũng?

Thư nặc danh có nội dung cụ thể - chấp thuận không?

Về tiếp nhận và xử lý tố cáo tham nhũng, vấn đề đặt ra là chỉ tiếp nhận xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo tham nhũng hay tiếp nhận xử lý cả những đơn, thư mà người tố cáo không ghi rõ tên và địa chỉ của mình (nặc danh) nhưng lại có nội dung, sự việc cụ thể rõ ràng?

Quyền báo chí đến đâu?

Về vai trò của báo chí trong phòng chống tham nhũng, có cần quy định rõ hơn nữa về quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan báo chí trong phòng, chống tham nhũng như: quyền thẩm tra, xác minh về các vụ việc tham nhũng; quyền công bố, đưa tin về kết quả điều tra xác minh; trách nhiệm trước pháp luật đối với việc đưa tin và công bố kết quả điều tra vụ việc tham nhũng hay không?

Muốn chống tham nhũng hiệu quả, phải cần gì?

Một đại biểu QH nói, Luật phòng, chống tham nhũng mới chống ở ''ngọn''. Muốn chống tham nhũng tận gốc, cần giải quyết ''3 không'': không cần, không thể và không dám tham nhũng.

''Không cần'' được hiểu là tiền lương đảm bảo đời sống cho cán bộ, công chức để họ yên tâm làm việc mà không tìm cách xoay sở, kiếm chác.

''Không thể'' tham nhũng, là cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng từ chính sách, chế độ cho đến công khai, minh bạch hoá hoạt động của cơ quan, tổ chức... Nói gọn lại là đẩy mạnh cải cách cách hành.

''Không dám'' tham nhũng do pháp luật xử lý nghiêm. Bạn nghĩ sao về ý kiến: ''Không phải chúng ta không biết và không thể biết ai có hành vi tham nhũng. Vấn đề là có dám chống, kiên quyết chống tham nhũng hay không?''

Ý kiến của bạn thế nào? Mời bạn tham gia vào diễn đàn này!

·         VietNamNet

 

http://www.tienphongonline.com.vn

Thứ Tư, 20/07/2005, 10:26

Xin ý kiến nhân dân về 8 vấn đề trong Dự luật Phòng, chống tham nhũng

(TPO) Hôm nay, Dự luật Phòng chống tham nhũng được Ủy ban Thường vụ Quốc hội chính thức công bố lấy ý kiến nhân dân (từ 20/7 - 20/9) về 8 vấn đề quan trọng. Phóng viên Tiền phong Online đã ghi nhận ý kiến của ông Đinh Văn Minh - Phó Viện trưởng Viện Khoa học Thanh tra (Thanh tra Chính phủ) - xung quanh sự kiện này.

Cơ chế nào để lấy ý kiến đóng góp của nhân dân?

Cơ quan Quốc hội và Thanh tra Chính phủ sẽ có những địa chỉ cụ thể (kể cả bằng thư điện tử) để nhân dân chúng đóng góp ý kiến. Tuy nhiên theo tôi biết, bất cứ dự luật nào khi đóng góp cũng cần có sự định hướng cho xã hội.

8 vấn đề đưa ra xin ý kiến

Phạm vi điều chỉnh của luật; Biện pháp phòng ngừa; Kê khai tài sản thu nhập; Trách nhiệm của người đứng đầu; Tiếp nhận xử lý tố cáo hành vi tham nhũng; Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng; Vai trò của báo chí trong PCTN; Vai trò và trách nhiệm của xã hội trong PCTN. Ngoài ra còn một điểm rất mới là mở rộng luật PCTN trong cả lĩnh vực tư nhân.

Lần này sẽ đưa ra 8 vấn đề và một số vấn đề “nhạy cảm” sẽ có nhiều phương án để người dân lựa chọn. Chẳng hạn như vấn đề kê khai tài sản của người có chức vụ quyền hạn có tới 3 phương án để lựa chọn: Kê khai tài sản của mình và vợ chồng con cái; Chỉ kê khai tài sản thuộc sở hữu của mình; Kê khai cả tài sản của vợ chồng con cái có cùng một hộ khẩu.

Tôi cho rằng, các báo điện tử, trong đó có tienphongonline.com.vn sẽ là kênh đóng góp hết sức có hiệu quả và thuận tiện cho người dân. Các cơ quan chức năng cũng sẽ rất thuận tiện trong theo dõi, tổng hợp các ý kiến. Ngoài ra, đợt lấy ý kiến rộng rãi về dự thảo Luật PCTN chắc chắn sẽ được người dân quan tâm, và cũng là dịp tuyên truyền hiệu quả để luật PCTN đi vào cuộc sống.

Một điểm rất mới trong dự thảo Luật này là quy tắc ứng xử, tức là quyền và nghĩa vụ của công chức, văn hóa lãnh đạo. Anh là lãnh đạo có vấn đề gì anh nên tự nguyện từ chức trước. Việc này nhiều nước đã thực hiện được. Theo nghiên cứu của chúng tôi, ở các nước khác, không phải bất cứ cái gì cũng quy ra trách nhiệm cụ thể được. Thậm chí xã hội càng dân chủ thì công luận mới là điều quan trọng nhất, dễ gây sức ép nhất. Đến một lúc nào đó, luật pháp sẽ chính là vấn đề văn hóa ứng xử.

Chẳng hạn tại Singapore, có quy định nếu là sếp thì không nên vay tiền của nhân viên quá 3 tháng. Trong khoa học về làm luật, chúng tôi luôn quan niệm rằng pháp luật chưa bao giờ là tất cả. Ý thức tự giác, đạo đức, văn minh xã hội hay nói cách khác là phạm trù văn hóa luôn là yếu tố hết sức quan trọng trong việc thực thi pháp luật.

Báo chí thường phát hiện sớm các sự việc

· Toàn văn dự thảo Luật Phòng chống tham nhũng.

· Mời bạn đọc đóng góp ý kiến về dự thảo Luật tại đây

Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy báo chí có vai trò tương đối toàn diện. Nếu nhìn từ một khía cạnh nào đấy, nó toàn diện hơn cái mà chúng ta vẫn thường quan niệm về báo chí. Đó là, trong nhiều vấn đề đã đi trước được sự việc, ngửi thấy “mùi” tham nhũng, tiêu cực từ khi còn chưa có ai động đến, trước khi các chứng cớ được phơi bày và trước khi các cơ quan pháp luật vào cuộc.

Trong suy nghĩ của công luận, sự thật có cái lý riêng của nó, đôi khi thanh tra, cơ quan chức năng chưa đủ bằng chứng pháp luật để kết luận, nhưng báo chí đã giúp họ có cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn.

Trong nhiều trường hợp, báo chí đã chủ động nêu trúng vấn đề, trúng mạch suy nghĩ của người dân, do đó đã tạo ra sức mạnh rất lớn. Trước dư luận của báo chí, các cơ quan nhà nước đã phải xử lý rốt ráo vụ việc được nêu vì trách nhiệm và nghĩa vụ của họ.

Tham nhũng là căn bệnh bẩm sinh của quyền lực. Dân bầu nên các cơ quan nhà nước, nên dân cũng có quyền giám sát quyền lực đó. Do vậy, vấn đề công khai minh bạch cũng chính là một nội dung lớn trong Dự thảo Luật PCTN lần này. Công khai minh bạch chính là phương thuốc đặc trị chống tham nhũng.

Nhà báo cần được Luật PCTN bảo vệ

Trong luật có điều nghiêm cấm sự trù dập, trả thù đối với người đấu tranh chống tham nhũng. Vấn đề nhà báo cần được bảo vệ chính đáng trong khi thực thi nhiệm vụ chống tham nhũng đúng là chưa được quy định cụ thể trong Dự thảo Luật PCTN lần này.

Với tư cách là người tham gia soạn thảo, tôi cho rằng đây là điều đáng phải suy nghĩ bởi tính chất nguy hiểm mà nhà báo phải đối mặt trước các vụ việc ngày càng tinh vi và xảo quyệt. Các cơ quan nghiên cứu nên suy nghĩ thêm về điều này. Trong quá trình đóng góp cho dự thảo Luật, chúng ta nên có ý kiến về vấn đề này.

Về mặt tâm lý xã hội thì đó là điều hết sức cần thiết, giúp nhà báo nói riêng và người dân nói chung, có đủ dũng khí để đương đầu với tham nhũng, tiêu cực.

Trong soạn thảo chúng tôi đã nghĩ tới chuyện thưởng vật chất cho người đấu tranh, sau này chắc chắn phải thực hiện, song khi đưa vào luật đã gặp một số khó khăn trong khi thực thi.

Trước đây khoảng trên 20 năm, chúng ta đã có pháp lệnh chống tham ô, lãng phí với quy định người phát hiện sẽ được thưởng tối đa 10% giá trị tham ô. Thời bao cấp, ta chỉ mới gọi là tham ô, tính chất chưa phức tạp, giá trị vụ việc chưa lớn, có thể tính ngay được tài sản tham ô để trích thưởng.

Song ngày nay, tham nhũng đã rất tinh vi, nhiều vụ việc liên quan tới nhiều người, nhiều khâu, trên thực tế rất khó đánh giá lượng hóa cụ thể để khen thưởng. Do vậy, việc xác định vai trò của người tố giác là rất khó. Tuy nhiên, theo tôi về mặt nguyên tắc, pháp luật nên có những quy định cụ thể, song quy định như thế nào cho khả thi thì cần phải có thời gian.

Việt Hùng ghi

 

 http://www.laodong.com.vn

Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức:
Cấm nhận quà biếu - không thể chỉ "hô hào"

* Hôm nay (20.7), lấy ý kiến nhân dân về dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng và Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
* 25 vấn đề trong dự luật cần có văn bản hướng dẫn thi hành.
* Kết luận thanh tra phải được công khai.


Ngày 19.7, Thanh tra Chính phủ tổ chức hội thảo phần quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức được quy định trong dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng. Vấn đề được nhiều ý kiến quan tâm là nếu dự luật còn chung chung và còn có tới 25 vấn đề cần có văn bản hướng dẫn, thì dự luật nếu được thông qua, cũng sẽ chậm đi vào cuộc sống.

Lương thấp - khó tránh tham nhũng
Tại cuộc hội thảo, ông Mai Quốc Bình (Phó Tổng Thanh tra Chính phủ) nhấn mạnh đến một trong những nguyên nhân dễ dẫn đến tham nhũng của cán bộ công chức hiện nay, là do đời sống của cán bộ công chức còn ở mức rất thấp. Để đảm bảo đời sống của mình, phần đông trong số họ đều phải xoay xở, tìm cách kiếm sống. Trong điều kiện hoàn cảnh như vậy, khó có thể tránh được tham nhũng.

Về vấn đề này, một số đại biểu nhận xét: Sẽ là rất khiếm khuyết, nếu trong Luật Phòng, chống tham nhũng không đề cập đến vấn đề này để làm cơ sở cho việc thực hiện những giải pháp bảo đảm đời sống của đội ngũ cán bộ công chức.

Quyền tố giác tham nhũng bị hạn chế?
Về trình tự, thủ tục báo cáo và xử lý báo cáo về dấu hiệu tham nhũng được quy định tại khoản 1, Điều 37, nhiều ý kiến cho rằng, việc quy định cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ mà phát hiện dấu hiệu tham nhũng chỉ báo cáo với thủ trưởng trực tiếp, thủ trưởng cấp trên 1 cấp, ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng là chưa phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành. Theo đó, nếu bất kỳ người nào nếu phát hiện có dấu hiệu của hành vi vi phạm pháp luật thì đều có quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (công an, viện kiểm sát...); do đó nếu quy định như trong dự thảo luật sẽ hạn chế quyền và nghĩa vụ của cán bộ, công chức.

Hơn nữa, không phải trong trường hợp nào người phát hiện ra có dấu hiệu tham nhũng cũng có thể xác định được thủ trưởng trực tiếp của mình có liên quan đến tham nhũng hay không, hoặc mức độ nghiêm trọng của vụ việc tham nhũng mà có thể báo cáo đúng cơ quan có thẩm quyền.

Cấm nhận quà biếu - chỉ mang tính "hô hào"
Tại cuộc hội thảo, nhiều ý kiến cho rằng, dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng đã đặt ra các quy định cấm cán bộ, công chức không được làm, và quy định những việc cán bộ, công chức phải làm là rất cần thiết. Tuy nhiên, chỉ nên quy định những quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức để phòng, chống tham nhũng thôi, chứ không nên quy định thành bộ quy tắc ứng xử chung.

Dự luật quy định về việc tặng quà và nhận quà biếu của cán bộ, công chức: "Việc tặng quà và nhận quà của cán bộ, công chức phải phù hợp với truyền thống và phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc; nghiêm cấm việc lợi dụng tặng quà, nhận quà để hối lộ hoặc thực hiện các hành vi khác vì vụ lợi". Nhiều ý kiến cho rằng, quy định như trong dự thảo mang tính "hô hào" nhiều hơn là tính quy phạm. Và dự luật chỉ quy định hành vi nhận quà và tặng quà là chưa đủ, cần phải bổ sung thêm quy tắc ứng xử nữa, chẳng hạn như hành vi mời gia đình cán bộ, công chức đi tham quan, nghỉ mát ở trong nước và nước ngoài...

Kết thúc buổi hội thảo, ông Mai Quốc Bình (Phó Tổng Thanh tra Chính phủ) cho biết, ông đồng tình với quy định trong dự thảo luật quy định về việc kết luận thanh tra cần phải được công khai. Tiến sĩ Nguyễn Văn Thanh (Viện trưởng Viện Khoa học thanh tra) chỉ ra trong dự thảo luật có tới 25 vấn đề trong dự luật cần có văn bản hướng dẫn thi hành. Trước vấn đề này, nhiều ý kiến cho rằng nếu chậm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành thì Luật Phòng, chống tham nhũng cũng sẽ chậm đi vào cuộc sống?   Đỗ Lê Tảo

Ông Trần Quốc Thuận (Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội) cho biết: Từ ngày 20.7-10.9, dự án Luật Phòng, chống tham nhũng và dự án Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được đưa ra lấy ý kiến đóng góp của nhân dân, các cơ quan bộ ngành, tổ chức xã hội... trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bản tổng hợp ý kiến đóng góp về 2 dự luật này được gửi đến UBTV Quốc hội (qua Văn phòng Quốc hội, 37 Hùng Vương, Hà Nội) chậm nhất vào ngày 10.9. 

 

 

 

Thứ Tư, 20/07/2005, 10:06

Luật phòng chống tham nhũng (dự thảo lấy ý kiến nhân dân)

 

QUỐC HỘI

 

Luật số :      /2005/QH11

 

Dự thảo lấy ý kiến nhân dân

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

QUỐC HỘI

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Khoá XI, kỳ họp thứ 8

(Từ ngày ...  tháng ... đến ngày ... tháng ... năm 2005)

 

LUẬT

PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

 

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;

Luật này quy định về phòng, chống tham nhũng.

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Phương án 1: điều chỉnh hành vi tham nhũng của người có chức vụ, quyền hạn thuộc khu vực Nhà nước

1. Luật này quy định về phòng ngừa, phát hiện, xử lý người có hành vi tham nhũng và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong phòng, chống tham nhũng.

2. Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để thực hiện hành vi trái pháp luật vì vụ lợi.

3. Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm:

a) Cán bộ, công chức, viên chức;

b) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;

c) Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp nhà nước;

d) Người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó.

Phương án 2: điều chỉnh hành vi tham nhũng của người có chức vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi thuộc khu vực Nhà nước và khu vực ngoài Nhà nước

1. Luật này quy định về các biện pháp phòng ngừa, phát hiện hành vi tham nhũng, xử lý người có hành vi tham nhũng, tài sản tham nhũng và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong phòng, chống tham nhũng.

2. Tham nhũng là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi.

3. Người có chức vụ, quyền hạn là người giữ chức danh lãnh đạo, quản lý trong cơ quan, tổ chức, đơn vị được thành lập theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ, người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó.

Điều 2. Mục tiêu phòng, chống tham nhũng

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện các chính sách, biện pháp phòng ngừa, phát hiện, xử lý người có hành vi tham nhũng nhằm làm trong sạch bộ máy nhà nước, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, làm lành mạnh các quan hệ xã hội, giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Tài sản tham nhũng là tài sản có được trực tiếp từ hành vi tham nhũng hoặc tài sản có nguồn gốc từ hành vi tham nhũng.

2. Công khai là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị thông tin chính thức về văn bản, hoạt động hoặc nội dung nhất định.

3. Minh bạch tài sản, thu nhập là việc kê khai, giải trình, xác minh và kết luận về tài sản, thu nhập.

4. Nhũng nhiễu là hành vi cố ý gây khó khăn, phiền hà khi thực hiện  nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.

5. Vụ lợi là lợi ích vật chất, tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đạt được hoặc sẽ đạt được thông qua việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

Điều 4. Các hành vi tham nhũng

1. Tham ô tài sản.

2. Nhận hối lộ.

3. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.

4. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.

5. Lạm quyền trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.

6. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi.

7. Giả mạo trong công tác vì vụ lợi.

8. Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc vì lợi ích của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương.

9. Sử dụng trái phép tài sản nhà nước vì vụ lợi.

10. Nhũng nhiễu.

11. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi để bao che cho người có hành vi tham nhũng; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, giám sát, điều tra, truy tố, xét xử người có hành vi tham nhũng.

Điều 5. Nguyên tắc xử lý tham nhũng

1. Mọi hành vi tham nhũng đều phải được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh.

2. Người có hành vi tham nhũng ở bất kỳ cương vị, chức vụ nào đều phải bị xử lý theo quy định của pháp luật.

3. Tài sản tham nhũng phải được thu hồi, tịch thu; người có hành vi tham nhũng gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật.

 4. Người có hành vi tham nhũng nhưng đã chủ động khai báo, tích cực hạn chế thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra, tự giác nộp lại tài sản đã tham nhũng thì tùy theo từng trường hợp mà được xem xét giảm nhẹ hoặc miễn xử lý kỷ luật, giảm nhẹ hình phạt hoặc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

5. Việc xử lý tham nhũng phải được thực hiện công khai theo quy định của pháp luật.

 6. Người có hành vi tham nhũng đã nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác vẫn phải chịu trách nhiệm về hành vi tham nhũng do mình đã thực hiện.

Điều 6. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có thẩm quyền

1. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm:

a) Ban hành và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng;

b) Tiếp nhận, xử lý kịp thời tố cáo về hành vi tham nhũng;

c) Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người phát hiện, tố cáo hành vi tham nhũng khi người đó bị đe dọa, trả thù, trù dập;

d) Tham gia phòng ngừa, phát hiện hành vi tham nhũng; kịp thời cung cấp thông tin, tài liệu và thực hiện yêu cầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền trong quá trình thanh tra, điều tra, xử lý người có hành vi tham nhũng.

2. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:

a) Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mà mình quản lý;

b) Tổ chức, chỉ đạo việc phối hợp với cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có thẩm quyền trong việc phòng, chống tham nhũng;

c) Chịu trách nhiệm về việc để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mà mình quản lý.

3. Người có chức vụ, quyền hạn có trách nhiệm:

a) Thực hiện nhiệm vụ, công vụ đúng quy định của pháp luật;

b) Chấp hành nghiêm chỉnh quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp và các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng;

c) Kê khai tài sản, thu nhập của mình và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của việc kê khai đó.

Điều 7. Quyền và nghĩa vụ của công dân

Công dân có quyền phát hiện, tố cáo hành vi tham nhũng; có quyền và nghĩa vụ tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Nhà nước có chính sách khuyến khích, khen th­ưởng người có thành tích trong việc phát hiện, tố cáo, ngăn chặn hành vi tham nhũng.

Điều 8. Trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan thanh tra, điều tra, Viện kiểm sát, Toà án với cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan

Cơ quan thanh tra, điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan trong việc phát hiện hành vi tham nhũng, xử lý người có hành vi tham nhũng và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận, quyết định của mình trong quá trình thanh tra, điều tra, truy tố, kiểm sát, xét xử hành vi tham nhũng.

Điều 9. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có trách nhiệm động viên nhân dân tham gia tích cực vào việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng; phát hiện, kiến nghị, yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền xử lý người có hành vi tham nhũng; giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

Điều 10. Trách nhiệm của cơ quan báo chí

Cơ quan báo chí có trách nhiệm tham gia vào việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng; khi đ­ưa tin phải bảo đảm chính xác, trung thực, khách quan và phải chịu trách nhiệm về nội dung của thông tin đã đưa.

Điều 11. Hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng

Nhà nước Việt Nam cam kết thực hiện điều ư­ớc quốc tế về phòng, chống tham nhũng mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế, tổ chức, cá nhân nước ngoài trong hoạt động phòng, chống tham nhũng trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và các bên cùng có lợi.

Điều 12. Các hành vi bị nghiêm cấm

1. Các hành vi được quy định tại Điều 4 của Luật này.

2. Đe dọa, trả thù, trù dập người phát hiện, tố cáo hành vi tham nhũng.

3. Lợi dụng việc tố cáo tham nhũng để vu cáo, vu khống cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác.

Chương II

PHÒNG NGỪA THAM NHŨNG

Mục 1

Công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị

Điều 13. Nguyên tắc công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị

1. Việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật phải được tiến hành công khai, minh bạch, bảo đảm công bằng, dân chủ.

2. Cơ quan, tổ chức, đơn vị phải công khai hoạt động của mình theo quy định của pháp luật.

Điều 14. Các nội dung phải công khai

1. Các nội dung phải công khai bao gồm:

a) Văn bản quy phạm pháp luật; thủ tục đăng ký, cấp phép, việc thực hiện nghĩa vụ tài chính và các quyền, nghĩa vụ khác của công dân, doanh nghiệp;

b) Mua sắm công, xây dựng cơ bản, các dự án đầu tư và xây dựng, tài chính và ngân sách nhà nước, quản lý và sử dụng quỹ do nhân dân đóng góp, quản lý và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, quản lý và sử dụng đất, công tác cán bộ;

c) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;

d) Kết luận thanh tra, quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý tố cáo, báo cáo kiểm toán, bản án và quyết định của Toà án, báo cáo giám sát;

đ) Các nội dung khác không thuộc danh mục bí mật nhà nước, bí mật công tác.

2. Việc công khai các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Điều 15. Các hình thức công khai

1. Công bố tại cuộc họp của cơ quan, tổ chức, đơn vị.

2. Niêm yết công khai tại trụ sở làm việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị.

3. Thông báo bằng văn bản đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan.

4. Phát hành ấn phẩm.

5. Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.

6. Đưa lên trang thông tin điện tử.

7. Cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Điều 16. Công khai, minh bạch trong mua sắm công và xây dựng cơ bản

1. Những hoạt động mua sắm công và xây dựng cơ bản mà pháp luật quy định phải đấu thầu thì phải được công khai theo quy định của pháp luật.

2. Các nội dung công khai về đấu thầu bao gồm:

a) Kế hoạch đấu thầu, mời sơ tuyển và kết quả sơ tuyển, mời thầu;

b) Danh mục nhà thầu tham gia đấu thầu hạn chế, danh sách ngắn nhà thầu tham gia đấu thầu hạn chế, kết quả lựa chọn nhà thầu;

c) Thông tin về cá nhân, tổ chức thuộc chủ dự án, bên mời thầu, nhà thầu, cơ quan quản lý hoặc đối tượng khác vi phạm pháp luật về đấu thầu; thông tin về nhà thầu bị cấm tham dự và thông tin về xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu;

d) Văn bản quy phạm pháp luật về đấu thầu, hệ thống thông tin dữ liệu về đấu thầu;

đ) Báo cáo tổng kết công tác đấu thầu trên phạm vi toàn quốc của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; báo cáo tổng kết công tác đấu thầu của bộ, ngành, địa phương và cơ sở;

e) Thẩm quyền, thủ tục tiếp nhận và giải quyết khiếu nại về đấu thầu.

Điều 17. Công khai, minh bạch trong quản lý dự án đầu tư, xây dựng

1. Dự án quy hoạch đầu tư, xây dựng phải được lấy ý kiến của nhân dân địa phương nơi quy hoạch.

2. Dự án, công trình đầu tư từ ngân sách địa phương phải được Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định.

3. Dự án, công trình sau khi được quyết định, phê duyệt phải được công khai để nhân dân giám sát.

Điều 18. Công khai, minh bạch về tài chính và ngân sách nhà nước

1. Các cấp ngân sách, đơn vị dự toán ngân sách phải công khai chi tiết số liệu dự toán và quyết toán đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định, phê chuẩn.

2. Đơn vị dự toán ngân sách có nguồn thu và các khoản chi từ các khoản đóng góp của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật phải công khai mục đích huy động, kết quả huy động và hiệu quả việc sử dụng các nguồn huy động.

 3. Tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ phải công khai số liệu dự toán, quyết toán; các khoản đóng góp của tổ chức, cá nhân (nếu có); cơ sở xác định mức hỗ trợ và số tiền ngân sách nhà nước hỗ trợ.

4. Dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước phải công khai việc phân bổ vốn đầu tư trong dự toán ngân sách nhà nước được giao hàng năm cho các dự án; dự toán ngân sách của dự án đầu tư theo kế hoạch đầu tư được duyệt, mức vốn đầu tư của dự án được giao trong dự toán ngân sách năm; quyết toán vốn đầu tư của dự án hàng năm; quyết toán vốn đầu tư khi dự án hoàn thành đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

 5. Quỹ có nguồn từ ngân sách nhà nước phải công khai quy chế hoạt động và cơ chế tài chính của quỹ; kế hoạch tài chính hàng năm, trong đó chi tiết các khoản thu, chi có quan hệ với ngân sách nhà nước theo quy định của cấp có thẩm quyền; kết quả hoạt động của quỹ; quyết toán năm được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

 6. Việc phân bổ, sử dụng ngân sách nhà nước, vốn và tài sản nhà nước cho các dự án, chương trình mục tiêu đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phải công khai cho cơ quan, tổ chức có liên quan và nhân dân nơi trực tiếp thụ hưởng biết.

Điều 19. Công khai, minh bạch việc huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân

1. Việc huy động các khoản đóng góp của nhân dân để đầu tư xây dựng công trình, lập quỹ phải lấy ý kiến nhân dân và được Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định.

 2. Các nội dung phải công khai bao gồm mục đích huy động, mức đóng góp, việc sử dụng, kết quả sử dụng và báo cáo quyết toán.

 3. Đối với các công trình cơ sở hạ tầng tại xã, phường, thị trấn có sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân thì ngoài các nội dung phải công khai theo quy định tại khoản 2 Điều này còn phải công khai dự toán cho từng công trình theo kế hoạch đầu tư được duyệt; nguồn vốn đầu tư cho từng công trình; kết quả đã huy động của từng đối tượng cụ thể, thời gian huy động; công khai kết quả lựa chọn nhà thầu đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; tiến độ thi công và kết quả nghiệm thu khối lượng, chất lượng công trình, quyết toán công trình.

 4. Việc huy động, sử dụng quỹ do nhân dân đóng góp phải được công khai để nhân dân giám sát và phải chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Điều 20. Công khai, minh bạch trong quản lý doanh nghiệp nhà nước

Doanh nghiệp nhà nước có trách nhiệm công khai vốn và tài sản nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, vốn vay ưu đãi, báo cáo tài chính và kết quả kiểm toán, việc trích, lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp, việc tuyển dụng lao động, bổ nhiệm các chức danh quản lý của doanh nghiệp và các nội dung khác theo quy định của pháp luật.

Điều 21. Công khai, minh bạch trong cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước

1. Việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước phải công khai, minh bạch; không được cổ phần hoá khép kín trong nội bộ doanh nghiệp.

2. Doanh nghiệp được cổ phần hoá có trách nhiệm công khai thực trạng tài chính khi xác định giá trị doanh nghiệp và trong quá trình cổ phần hoá.

3. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm công khai giá trị của doanh nghiệp được cổ phần hoá và việc điều chỉnh giá trị của doanh nghiệp (nếu có).

4. Việc bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp được cổ phần hoá phải thực hiện bằng phương thức bán đấu giá.

Điều 22. Kiểm toán việc sử dụng ngân sách nhà nước

1. Cơ quan, tổ chức, dự án, quỹ thụ hưởng ngân sách nhà nước có trách nhiệm thực hiện việc kiểm toán và chịu sự kiểm toán của kiểm toán theo quy định của pháp luật về kiểm toán.

2. Báo cáo kiểm toán phải được công khai theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 14 và Điều 15 của Luật này.

Điều 23. Công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng đất

1. Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải bảo đảm dân chủ và công khai.

2. Trong quá trình lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết, cơ quan, tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch đó phải lấy ý kiến của nhân dân địa phương nơi quy hoạch, điều chỉnh.

3. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt hoặc điều chỉnh phải được công khai.

4. Việc giao đất, cho thuê đất sử dụng vào mục đích kinh doanh phải được thực hiện thông qua đấu thầu.

Điều 24. Công khai, minh bạch trong công tác cán bộ

1. Việc tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức, người lao động vào các cơ quan, tổ chức, đơn vị phải được công khai về số lượng, tiêu chuẩn, hình thức và kết quả tuyển dụng.

2. Việc tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, cho thôi việc, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, hưu trí đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động phải được công khai trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó làm việc.

Điều 25. Quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức

1. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan báo chí trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm cung cấp thông tin về hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó theo quy định của pháp luật.

2. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, cơ quan, tổ chức, đơn vị được yêu cầu phải cung cấp thông tin; trường hợp không cung cấp hoặc chưa cung cấp được thì phải trả lời cơ quan, tổ chức yêu cầu biết và nêu rõ lý do.

3. Trường hợp nội dung được yêu cầu đã được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, được xuất bản hoặc niêm yết thì cơ quan, tổ chức, đơn vị được yêu cầu có trách nhiệm hướng dẫn cơ quan, tổ chức yêu cầu tiếp cận thông tin đó.

Điều 26. Quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cá nhân

1. Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động làm việc trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức khác có sử dụng ngân sách nhà nước có quyền yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức nơi mình làm việc cung cấp thông tin về hoạt động của cơ quan, tổ chức đó.

2. Công dân có quyền yêu cầu Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi mình cư trú cung cấp thông tin về hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn đó.

3. Việc thực hiện quyền yêu cầu cung cấp thông tin quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được thực hiện theo các quy định tại Quy chế dân chủ ở cơ sở.

Điều 27. Công khai báo cáo hàng năm về phòng, chống tham nhũng

1. Hàng năm, Chính phủ có trách nhiệm báo cáo Quốc hội về tình hình tham nhũng và công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nước.

2. Báo cáo của Chính phủ về tình hình tham nhũng và công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng phải được công khai.

Điều 28. Chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức

1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm thực hiện việc định kỳ chuyển đổi cán bộ, công chức làm việc tại một số vị trí công tác quản lý tài sản nhà nước, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của công dân, doanh nghiệp nhằm chủ động ngăn ngừa tham nhũng.

2. Việc chuyển đổi vị trí công tác phải theo kế hoạch và được công khai trong nội bộ cơ quan, tổ chức, đơn vị.

3. Việc chuyển đổi vị trí công tác quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này chỉ áp dụng đối với cán bộ, công chức không giữ chức vụ quản lý. Việc luân chuyển cán bộ, công chức giữ chức vụ quản lý thực hiện theo quy định về luân chuyển cán bộ.

4. Chính phủ ban hành Danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi quy định tại khoản 1 Điều này làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch và thực hiện định kỳ chuyển đổi vị trí công tác.

Mục 2

Xây dựng và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn

Điều 29. Xây dựng, ban hành và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn

1. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan nhà nước có trách nhiệm:

a) Xây dựng, ban hành và công khai các chế độ, định mức, tiêu chuẩn; không được ban hành trái pháp luật các chế độ, định mức, tiêu chuẩn;

b) Công khai các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn về quyền lợi đối với từng loại chức danh trong cơ quan mình;

 c) Chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn.

2. Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội trên cơ sở quy định tại khoản 1 Điều này xây dựng, ban hành hoặc phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, ban hành và công khai các chế độ, định mức, tiêu chuẩn áp dụng trong tổ chức mình.

Điều 30. Kiểm tra và xử lý vi phạm quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn

1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thường xuyên kiểm tra việc chấp hành và xử lý kịp thời hành vi vi phạm quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn.

2. Người có hành vi vi phạm quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn phải bị xử lý theo quy định của pháp luật.

3. Người cho phép sử dụng vượt chế độ, định mức, tiêu chuẩn phải bồi thường phần giá trị mà mình cho phép sử dụng vượt quá; người sử dụng vượt chế độ, định mức, tiêu chuẩn có trách nhiệm liên đới bồi thường phần giá trị được sử dụng vượt quá.

 4. Người cho phép thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn chuyên môn - kỹ thuật thấp hơn mức quy định phải bồi thường phần giá trị mà mình cho phép sử dụng thấp hơn; người hưởng lợi từ việc thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn chuyên môn - kỹ thuật thấp hơn có trách nhiệm liên đới bồi thường phần giá trị được hưởng lợi.

Mục 3

Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức

Điều 31. Những việc cán bộ, công chức không được làm

1. Cán bộ, công chức không được làm những việc sau đây:

a) Cửa quyền, hách dịch, nhũng nhiễu, gây khó khăn, phiền hà đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong khi giải quyết công việc;

b) Thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

c) Làm tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh và tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước ngoài về các công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác, những công việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hoặc mình tham gia giải quyết;

d) Kinh doanh trong lĩnh vực mà mình có trách nhiệm quản lý sau khi thôi giữ chức vụ trong một thời hạn nhất định theo quy định của Chính phủ.

2. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, vợ hoặc chồng của những người đó không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước.

3. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức không được bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán - tài vụ, làm thủ quỹ, thủ kho trong cơ quan, tổ chức hoặc mua bán vật tư, hàng hoá, giao dịch, ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức đó.

4. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan không được để bố, mẹ, vợ hoặc chồng, con kinh doanh trong phạm vi do mình quản lý trực tiếp.

5. Cán bộ, công chức là thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng và những cán bộ quản lý khác trong doanh nghiệp nhà nước không được ký kết hợp đồng kinh tế với doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột; cho phép doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột tham dự các gói thầu của doanh nghiệp mình; bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán - tài vụ, làm thủ quỹ, thủ kho trong doanh nghiệp hoặc mua bán vật tư, hàng hoá, giao dịch, ký kết hợp đồng cho doanh nghiệp.

 6. Quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này cũng được áp dụng đối với các đối tượng sau đây:

a) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân;

b) Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân.

Điều 32. Nghĩa vụ báo cáo và xử lý báo cáo về hành vi tham nhũng

1. Trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ, nếu phát hiện hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mình thì cán bộ, công chức có trách nhiệm báo cáo kịp thời, trung thực với người có thẩm quyền.

2. Khi nhận được báo cáo về hành vi tham nhũng, người có thẩm quyền phải kịp thời xử lý; trường hợp cần thiết thì quyết định hoặc đề nghị người có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp nhằm ngăn chặn, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng và bảo vệ người báo cáo.

Điều 33. Trình tự, thủ tục báo cáo và xử lý báo cáo về hành vi tham nhũng

1. Khi phát hiện có hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mình thì cán bộ, công chức phải báo cáo ngay với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị; nếu người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan đến hành vi tham nhũng đó thì báo cáo với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp.

2. Chậm nhất là 10 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo về hành vi tham nhũng, người được báo cáo phải xử lý vụ việc theo thẩm quyền hoặc chuyển cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền xem xét xử lý và thông báo cho người báo cáo; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn trên có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày.

Điều 34. Trách nhiệm của người không báo cáo hoặc không xử lý báo cáo về hành vi tham nhũng

Người phát hiện hành vi tham nhũng mà không báo cáo, người nhận được báo cáo về hành vi tham nhũng mà không xử lý thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

Điều 35. Việc tặng quà và nhận quà tặng của cán bộ, công chức

1. Việc tặng quà và nhận quà tặng của cán bộ, công chức phải phù hợp với truyền thống và phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc; nghiêm cấm lợi dụng việc tặng quà, nhận quà để hối lộ hoặc thực hiện các hành vi khác vì vụ lợi.

2. Cơ quan, tổ chức, đơn vị thụ hưởng ngân sách nhà nước và doanh nghiệp nhà nước không được sử dụng tài sản và ngân sách nhà nước làm quà tặng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Cán bộ, công chức không được nhận quà tặng có giá trị lớn của doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi quản lý trực tiếp của mình.

4. Chính phủ quy định chi tiết việc tặng quà, nhận quà tặng và nộp lại quà tặng của cán bộ, công chức.

Điều 36. Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức

1. Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành quy tắc ứng xử của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

2. Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành quy tắc ứng xử của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án, Kiểm sát viên và cán bộ, công chức khác trong cơ quan Toà án, Viện kiểm sát.

3. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ ban hành quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức làm việc trong ngành, lĩnh vực do mình quản lý.

4. Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức làm việc trong bộ máy chính quyền địa phương.

5. Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức bộ, ngành được gửi cho Bộ Nội vụ để thực hiện thanh tra công vụ.

Điều 37. Quy tắc đạo đức nghề nghiệp

Tổ chức xã hội - nghề nghiệp phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quy tắc đạo đức nghề nghiệp đối với hội viên của mình theo quy định của pháp luật.

Mục 4

Minh bạch tài sản, thu nhập

Điều 38. Mục đích kê khai tài sản, thu nhập

Việc kê khai tài sản, thu nhập (sau đây gọi là kê khai tài sản) nhằm bảo đảm công khai, minh bạch về tài sản của những người có nghĩa vụ kê khai tài sản quy định tại khoản 1 Điều 39 của Luật này.

Điều 39. Nghĩa vụ kê khai tài sản

Phương án 1:

1. Những người có chức vụ, quyền hạn quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật này có nghĩa vụ kê khai tài sản.

2. Người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải kê khai tài sản, mọi biến động về tài sản thuộc sở hữu của mình và tài sản thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng và con.

3. Người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải kê khai trung thực và chịu trách nhiệm về việc kê khai.

Phương án 2:

1. Những người có chức vụ, quyền hạn quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật này có nghĩa vụ kê khai tài sản.

2. Người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải kê khai tài sản, mọi biến động về tài sản thuộc sở hữu của mình.

3. Người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải kê khai trung thực và chịu trách nhiệm về việc kê khai.

Phương án 3:

1. Những người có chức vụ, quyền hạn quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật này có nghĩa vụ kê khai tài sản.

2. Người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải kê khai tài sản, mọi biến động về tài sản thuộc sở hữu của mình và tài sản thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng và con trong cùng một sổ hộ khẩu.

3. Người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải kê khai trung thực và chịu