Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
TRAO ĐỔI DÂN CHỦ: CÓ NHIỀU CÁI SAI VÀ NGUY HIỂM |
Nhà văn Hoàng Tiến
Ông Nguyễn Gia Kiểng có một bài viết mang tiêu đề “Thời điểm của một xét lại bắt buộc” nhận định về tình hình đấu tranh dân chủ ở Việt Nam đăng trên Thông Luận tháng 6 – 2007 và trên các websites mạng.
Bài
viết của ông Kiểng có nhiều cái sai và nguy hiểm. Xin trích dẫn theo thứ tự,
cùng có lời bình từng đoạn in chữ đậm.
1). Cuối năm 2005 nhiều tổ chức và nhân sĩ đã nô nức tưởng rằng
một cơ hội lớn đã đến khi ông Hoàng Minh Chính trong tình trạng sức khỏe hiểm
nghèo được đảng Nhân Dân Hành Động đưa sang Mỹ chữa bệnh. Nhưng dự án thống nhất
các lực lượng dân chủ chung quanh ông Hoàng Minh Chính đã tự nó tiêu tan dù
không bị đàn áp. Sự háo hức đặt hy vọng vào một chuyện chẳng có gì chắc chắn như
vậy tố giác một tâm trạng tuyệt vọng sẵn sàng bám víu vào bất cứ gì có hình dạng
của một cái phao.
Lời bình: Đoạn viết có ngôn ngữ hình tượng, đầy ma thuật. Nhưng không đúng với sự thật. Ông Kiểng như người đứng xem hoa, hay đúng hơn đứng xem diễn tiến dân chủ, rồi buông lời phán xét lạnh tanh: “Sự háo hức đặt hy vọng vào một chuyện chẳng có gì chắc chắn như vậy tố giác một tâm trạng tuyệt vọng sẵn sàng bám víu vào bất cứ gì có hình dạng của một cái phao”.
Sự thật thì từ khi ông HMC ở Mỹ về cho đến trước hội nghị APEC, là thời gian nở rộ của phong trào dân chủ trong nước. Dẫn chứng:
· Bản yêu sách 8 điểm của công nhân đòi quyền lao động (của nhóm Nguyễn Tấn Hoành).
· Lời kêu gọi cho quyền tự do thông tin ngôn luận (của 4 vị linh mục).
· Lời kêu gọi cho quyền thành lập và hoạt động đảng phái tại Việt Nam (có 116 người ký tên).
· Tuyên ngôn Tự do Dân chủ 2006, tức Khối 8406 (118 người ký đầu tiên, sau lên 2.300 người).
· Đảng Dân Chủ XXI phục hoạt.
· Hiệp hội Đoàn kết Công Nông Việt Nam thành lập.
· Liên minh Dân chủ và Nhân quyền Việt Nam thành lập.
· Công đoàn Độc Lập thành lập.
· Đảng Dân chủ Nhân dân thành lập.
· Đảng Thăng Tiến Việt Nam thành lập.
· Báo Tự Do Ngôn Luận ra đời.
· Báo Tự Do Dân Chủ ra đời.
· Báo Tổ Quốc ra đời.
· Báo Dân Chủ của Đảng Dân Chủ XXI ra đời….
Chưa bao giờ
phong trào dân chủ trong nước sôi động như thế, đúng lúc như thế, kịp thời như
thế. Tại sao lại nhận định là một tâm trạng tuyệt vọng bám víu vào bất cứ gì
có hình dạng của một cái phao. Thật là một nhận định vô trách nhiệm với
phong trào, một lời nói bất chấp sự thật.
2). Sau đó là khối 8406, đảng Thăng Tiến Việt Nam, và nhiều tổ
chức khác ra đời một cách hấp tấp rồi tàn lụi nhanh chóng.
Lời bình: Ông Kiểng lấy thông tin ở đâu mà dám xưng xưng nhận định như vậy. Tất nhiên sau những cuộc đàn áp phong trào nào cũng chùng xuống một thời gian. Nhưng chùng xuống không có nghĩa là tàn lụi. Hai khái niệm này khác hẳn nhau. Những người có thiện tâm phảI cân nhắc khi sử dụng ngôn từ. Ông Kiểng dùng cụm từ tàn lụi nhanh chóng, cảm nhận sau cụm từ ác ý đó có thấp thoáng nụ cười thích thú của tác giả.
Vậy sự thật như thế nào? Khối 8406 vẫn còn kia vừa bổ sung người vào Ban điều
hành, đảng Thăng Tiến vẫn còn kia tạm thời ẩn trong bóng tối nhưng vẫn ra lời
kêu gọi ủng hộ dân oan, đảng Dân Chủ XXI vừa gửi thư cho tổng thống Bush, Liên
minh Dân chủ và Nhân quyền lên án đàn áp dân khiếu kiện, Hiệp hội Công Nông ra
tuyên bố phản đối, Hội những người yêu nước Việt Nam vừa trình bày chủ trương
đường lối và hô hào mọi người tham gia, các báo điện tử vẫn hiện diện, và khối
dân oan đi khiếu kiện ngày càng đông đảo hơn 2.000 người chiếm cả sân vườn tòa
nhà Quốc Hội 2 ở Sài Gòn kéo dài đến ngày thứ 27 ….
3). Người ta cố tình
không phân biệt một bản tuyên ngôn với một tổ chức, những người chỉ ký tên ủng
hộ một bản tuyên ngôn và những người dấn thân trong một tổ chức.
Lời bình: Anh em trong nước không đến nỗi ngu dốt như ông Kiểng tưởng
tưởng ra thế đâu.
4). Nguyễn Văn Lý và Nguyễn Văn Đài ở Hà Nội, đã là những nạn nhân
của cách hoạt động của đối lập tại hảI ngoại, không chuẩn bị lực lượng rồi đến
khi thấy tình thế có vẻ thuận lợi thì cố gắng nắm lấy cơ hội một cách vội vã và
vận dụng quá sức anh em trong nước trong một cuộc thi đua xô bồ xem ai làm
trước, ai lên tiếng trước, ai thông báo đầu tiên những “tin khẩn”, ai gây được
tiếng vang nhiều nhất. Trong không khí nhốn nháo này, những cố gắng nghiêm chỉnh
khó gây được sự chú ý.
Lời bình: Một nhận xét quá ư là chủ quan, trịch thượng, dạy đời, xúc phạm
đến phong trào dân chủ, xúc phạm đến những anh chị em đang bị giam cầm, hành hạ
trong lao tù. Họ không phảI là tay sai của hảI ngoại, không phảI là nạn nhân của
hảI ngoại. Nói như ông Nguyễn Gia Kiểng là tạo chứng cớ cho công an để hành hạ
anh chị em dân chủ đấy.
5). Vì không có gì cả cho nên người ta đã cố tin là tình thế đã
thay đổi, đảng cộng sản sẽ không dám đàn áp thẳng tay vì sợ phản ứng của thế
giới, và phong trào sẽ càng ngày càng lớn mạnh.
Lời bình: Lại suy diễn chủ quan. Ông Kiểng nên biết rằng những người đấu tranh dân chủ trong nước có nhiều người hơn tuổi ông, từng bị bắt và tù đầy nhiều năm, từng giữ những chức vụ trong chính quyền cộng sản. Họ không đến nỗi ngu ngơ như ông Kiểng nghĩ.
6). Đảng cộng sản đã đàn áp và mọi chính quyền, trừ Hoa Kỳ, đều đã không có phản ứng. Chính Hoa Kỳ cũng đã chỉ phản ứng một cách rất chừng mực.
Lời bình: Ông Kiểng ở nước ngoài, thông tin đầy trời, còn nhắm mắt bịt
tai như thế thì lạ thật. Chúng tôi thấy ngược lại. Chưa bao giờ sự đàn áp ở Việt
Nam lại bị thế giới lên án mạnh mẽ như vừa rồi. Báo chí thế giới còn kia. Hình
ảnh bịt miệng cha Lý được in khắp mọi nơI mọi chốn. Những bản tuyên bố phản đối
của chính phủ các nước còn kia. Các tổ chức quốc tế phi chính phủ phản đối còn
kia. Và mới đây Quốc hội Châu Âu đã ra hẳn một nghị quyết riêng lên án Việt Nam
… Chỉ một mình ông Kiểng là không nhìn thấy, không nghe thấy. Lạ thật !
7). Đó là có một lúc họ (tức đảng Cộng sản VN) đã có kế hoạch
chiếm đoạt để khống chế và vô hiệu hóa phong trào dân chủ. Lợi dụng bệnh tình
nguy ngập của ông Hoàng Minh Chính, một người dân chủ kiên cường và có uy
tín nhưng đã già yếu, họ đã để ông đi Mỹ chữa bệnh với sự bảo trợ của đảng Nhân
Dân Hành Động, và định dựa vào uy tín của ông để quy tụ các tổ chức và nhân sĩ
đối lập trong một Phong Trào Dân Chủ Việt Nam Thống Nhất mà họ kiểm soát trong
hậu trường. Đây là một kế hoạch có chuẩn bị.
Lời bình: Ông Kiểng cứ làm như mình ở trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản, hay ít ra cũng là nhân vật cao cấp trong Bộ Công an VN nơi lập những kế hoạch đánh phá phong trào dân chủ. Tiếc rằng ông Kiểng lại ở nơi Paris hoa lệ tận bên kia trời tây!
Cần nói với ông Kiểng rằng, ông HMC không phảI là trẻ con để người ta lợi dụng.
Các anh em dân chủ khác cũng vậy thôi. Lập luận này là của công an tung ra, làm
bà con Việt kiều nhiều người nghi ngờ ông HMC là dân chủ cuội.
8). Nhưng kế koạch này đã thất bại vì những người trực tiếp thực
hiện nó đã quá vụng về. Khi sự thất bại đã quá rõ ràng thì đảng cộng sản chỉ còn
chọn lựa giữa nới lỏng dân chủ thực sự hoặc đàn áp. Không có gì ngạc nhiên khi
họ đàn áp.
Lời bình: Ai vụng về ? Ông HMC quá vụng về hay công an VN quá vụng về ?
Nếu ông HMC vụng về đến mức thất bại quá rõ ràng, thì còn đàn áp làm gì nữa.
“Không có gì ngạc nhiên khi họ đàn áp”. Ông Kiểng cứ nói như thánh phán.
9). Những tranh chấp phe phái trong nội bộ đảng cộng sản kể như đã
chấm dứt. Phe Lê Đức Anh - Đỗ Mười đã thắng. Những người cầm đầu đảng và nhà
nước hiện nay đều thân với hai ông này. Những người chống lại hai ông Mười, Anh
chỉ còn rất ít và đều già yếu.
Lời bình: Không biết ông Kiểng có biết câu tục ngữ Việt Nam: “Biết thì
thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe” ? Chúng tôi ở trong nước mà còn
không biết được tường tận như ông kia đấy. Chúng tôi không dám nói bừa, nói
liều, nói văng mạng như ông….
10). Tình trạng ổn vững nội bộ của đảng cộng sản chưa chắc đã là xấu
cho tiến trình dân chủ, nó còn có thể là tốt. Có chấm dứt được nạn phe phái
trong đảng, ban lãnh đạo cộng sản mới có thể lấy những quyết định cần thiết, kể
cả những quyết định nới lỏng về chính trị. Đừng nên quên rằng chính sách đổi
mới, tức mở cửa về kinh tế thị trường, đã có được vì lúc đó, năm 1986, phe ông
Lê Đức Thọ kiểm soát được đảng và có toàn quyền quyết định.
Lời bình: Nhận định này sai cả về lý luận lẫn thực tế. Về mặt lý luận,
một đảng độc tài mà ổn vững nội bộ thì sẽ càng độc tài với đủ mọi thứ. Làm sao
có thể nới lỏng chính trị được. Vì họ độc tài cơ mà! Lập luận như ông Kiểng
người ta gọi là phi lô-gích (logique). Về mặt thực tế, ông Kiểng không biết được
diễn biến trước, trong, và sau của Đại hội VI (đại hội đổi mới bầu ông Nguyễn
Văn Linh làm tổng bí thư), nên đã đánh giá lầm công lao đổi mới ấy là của Lê Đức
Thọ và phe cánh ông ta.
11). Không thể, và thực ra cũng không nên, đòi họ chống lại chính quyền
cộng sản Việt Nam.
Lời bình: Nào có ai đòi các nước Mỹ, Anh, Pháp hay các chính quyền dân
chủ khác trên thế giới phải chống lại chính quyền cộng sản Việt Nam. Họ ủng hộ
cho dân chủ VN là tốt lắm rồi, lên án sự đàn áp bạo lực là tốt lắm rồi. Ông
Kiểng cứ tự đặt ra những vấn đề do ông ấy nghĩ, để rồi lại tự phản bác cho nó to
chuyện, chứ nào có ai đòi hỏi ngớ ngẩn thế đâu. Thật lạ cho cách lập luận của
ông Kiểng!
12). Như vậy phảI loại bỏ kịch bản lật đổ. Chúng ta không có lực lượng
và phương tiện để lật đổ và cũng không ai giúp chúng ta lật đổ chính quyền cộng
sản.
Lời bình: Ô hay! Có ông dân chủ nào trong nước hô hào lật đổ đâu. Ông
Kiểng cứ tự nghĩ ra rồi lại tự phản bác. Những người đấu tranh dân chủ trong
nước đồng thuận nhìn nhận: đây là một cuộc đấu tranh đòi quyền con người, hòa
bình, công khai, bất bạo động và hợp pháp, chỗ dựa là hiến pháp, luật pháp trong
nước và luật pháp quốc tế (Tuyên ngôn nhân quyền thế giới, Công ước quốc tế
về quyền dân sự và chính trị, mà Việt Nam đã tham gia ký kết từ 1982). Biện
pháp là những kiến nghị, đề nghị, thư gửi lãnh đạo bàn lẽ phải tráI, đơn thư
khiếu nại, tố cáo, đòi thực hiện tự do báo chi, tự do lập hội, tự do bầu cử
…cùng những bài viết nâng cao dân trí, nâng cao sự hiểu biết về quyền con người,
tiến tới không sợ hãI nữa …
13). Một xét lại khác là phảI khẩn cấp từ bỏ ngôn ngữ giả dối là quốc
nội là chủ lực, hảI ngoại chỉ có vai trò yểm trợ [….] Trong tình trạng hiện nay,
người trong nước có thể là biểu tượng và vẫn có thể góp ý về những định hướng
lớn nhưng không thể đảm nhiệm vai trò điều hành.
Lời bình: Ơ đây không phảI là tranh giành nhau về lãnh đạo, hơn kém, chủ lực hay yểm trợ. Điều quan trọng là biết phối hợp cho tốt lực lượng trong nước và ngoài nước theo cáI thế “ỷ giốc” trong binh pháp xưa thì sẽ thu được kết quả tốt.
Còn ông Kiểng muốn lãnh đạo phong trào dân chủ ư ? Chúng tôi xin mời ông về nước, đấu tranh trực diện với độc tài toàn trị, gian khổ cùng anh em, cùng chịu những khủng bố, theo dõi, giam giữ, tù đày cùng anh em, có thế nói người ta mới nghe, mới nhìn sáng suốt vấn đề, mới đề ra chủ trương đường hướng đấu tranh đúng đắn. Nói tóm lại mới lãnh đạo được mọi người.
Còn ở ngoài nước, chỉ đọc báo và nghe đài, sáng uống cà-phê, tối xem phim ảnh, rồi phát biểu đủ thứ về tình hình đất nước, chê điều này, khen việc kia, thì cao nhất chỉ đạt đến trình độ chính khách xa-lông mà thôi (les politiciens du salon). Thuật ngữ này để chỉ bọn người giỏi múa mép khua môi, hoạt đầu chính trị. Nói như cụm từ ông Kiểng đã dùng: “Những người này gây rối loạn thay vì đóng góp”.
Chí ít ông Kiểng cũng có thể làm như ông Đỗ Nam HảI đã làm. Dám từ bỏ cuộc sống đầy đủ, yên ổn, có việc làm ở Ôtxtrâylia (Australie), ông Hải trở về Sài Gòn tham gia đấu tranh dân chủ. Ông Hải chấp nhận những hiểm nguy sẽ đến với mình. Và thực tế ông Hải đã từng chịu đựng những theo dõi, bắt giữ, hù dọa, đánh đòn của công an, thậm chí mất việc làm trong khi còn phảI nuôi con nhỏ. Hiện ông Hải vẫn trong Ban điều hành Khối 8406 và Ban điều hành Liên minh Dân chủ và Nhân quyền. Công an vẫn đe dọa bắt ông HảI hàng ngày hàng giờ.
Ông Nguyễn Gia Kiểng mà làm được như ông Đỗ Nam Hải, rồi ông muốn nói gì thì
nói, viết gì thì viết. Hiện nay nhà nước đang mở rộng cửa mời gọi Việt kiều về
xây dựng đất nước. Đây là một cơ hội tốt cho ông Kiểng. Chúng tôi chờ đợi ông.
14). Trong lịch sử thế
giới hầu hết những cuộc cách mạng đánh bại những chế độ toàn trị bạo ngược đều
khởi đầu từ ngoài nước. Cuôc cách mạng Tân Hợi của Trung Quốc năm 1911 đã xảy ra
như thế. Cuộc cách mạng cộng sản Nga năm 1917 cũng không khác. Đảng cộng sản
Việt Nam cũng thế. Những trường hợp ngược lại chỉ là ngoại lệ chứ không
phảI thông lệ.
Lời bình: Ông Kiểng quá chủ quan về kiến thức lịch sử của mình. Mong ông đọc lại kỹ lịch sử Đảng Cộng sản Nga, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, và cả lịch sử cuộc cách mạng Tân Hợi.
Cái lầm của ông Kiểng là ở những tổ chức khởi đầu và sự lãnh đạo đấu tranh. Có thể những tổ chức khởi đầu được thành lập ở nước ngoài (như tổ chức đảng Cộng sản VN được thành lập trên một sân bóng đá ở Trung Quốc trong một buổi xem đá bóng), nhưng việc lãnh đạo đấu tranh thì những tổ chức ấy, hay ban lãnh đạo ấy, đều phảI chuyển về trong nước. Không có phân chia giai đoạn 1, giai đoạn 2 gì cả. Càng những chỗ gian khổ đấu tranh càng cần sự có mặt của lãnh đạo. Người này bị bắt, người khác lên thay. Còn cứ ngồi ở ngoài nước mà chỉ tay lãnh đạo thì, xin lỗi, phải dùng một câu thành ngữ dân gian, nghe nặng tai, nhưng bộc lộ đúng sự việc: “Nói thế, có chó nó nghe!”.
Dù có thể ngồi đợi thắng lợi rồi về tiếp quản, thì những người gian khổ đấu tranh chết chóc và tù đày ở trong nước, không ai chịu thừa nhận họ (những người bên ngoài) là lãnh đạo cả.
Cụ Phan Chu Trinh bị giam lỏng ở Paris đã khuyên anh thanh niên Nguyễn Tất Thành cũng ở Paris phải về nước khuấy động phong trào, không nên “tại ngoại đãi thời” (ngồi bên ngoài đợi thời cơ). Và anh Nguyễn Tất Thành đã nghe lời cụ Phan Tây Hồ, rồi trở thành chủ tịch nước Việt Nam sau này.
Lối lập luận của ông Kiểng là lối lập luận của một bọn kẻ sĩ thời Xuân Thu, ta
gọi là phái “ngụy biện” hay “quỷ biện”, thường lừa được những người nông nổi,
nhưng chịu suy nghĩ một chút thấy ngay là vớ vẩn, là bị lừa bởi ma thuật ngôn
từ.
15). Nhận định về cuộc đấu tranh của người Việt hảI ngoại, ông Nguyễn
Gia Kiểng viết: “Cuộc đấu tranh vì vậy không khác gì một cuộc lên đồng, những
người được ủng hộ nhất là những người tỏ ra táo bạo nhất, lên đồng hay nhất, gây
được ảo tưởng mạnh nhất. Những cố gắng nghiêm chỉnh dĩ nhiên phảI dựa trên nhận
định khách quan về một tình trạng khó khăn, cho nên chỉ làm phiền lòng và gây
bực tức trong cuộc lên đồng tập thể này”.
Lời bình: Việc này để bà con hảI ngoại có ý kiến. Tôi không dám choán
quyền của bà con. Bà con có lên đồng hay không lên đồng. Bà con thực chất đã
đóng góp được những gì cho phong trào dân chủ trong nước, và ông Kiểng đã đóng
góp được những gì. Bà con rõ hơn chúng tôi. Tôi chỉ cảm nhận qua ngôn từ của
đoạn văn trên, thấy ông Kiểng tỏ ra cao ngạo và trịch thượng, khó có cảm tình.
Để kết thúc bài viết, một lần nữa, chúng tôi mời ông Kiểng về
nước tham gia đấu tranh trực diện với độc tài toàn trị. Qua đó ông Kiểng sẽ nhìn
nhận vấn đề sáng tỏ hơn, và có những ý kiến đúng đắn hơn.
Đất thiêng Thăng Long ngày 27-7-2007
“… Lãnh tụ là do tranh đấu mà ra và chúng ta không nên phí sức đi tìm hay nhào nặn ra họ …”
Phạm Đỉnh: Hôm qua, 25/7/2007, Thông Luận vừa đăng bài "Đôi điều suy nghĩ về thời điểm của một xét lại bắt buộc" của ông Trung Hiếu đóng góp với bài "Thời điểm của một xét lại bắt buộc" của Nguyễn Gia Kiểng. Hôm nay chúng tôi nhận được phản ứng sau đây của ông Lê Minh Nguyên, một khuôn mặt tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền quen thuộc tại hải ngoại. Ông Lê Minh Nguyên hiện là chủ tịch ủy ban giám sát của đảng Tân Đại Việt, nhưng ông cũng giữ một chúc vụ quan trọng khác hoàn toàn độc lập với hoạt động của đảng này: trưởng ban điều hợp Mạng Lưới Nhân Quyền, tổ chức nhân quyền tích cực nhất của người Việt hải ngoại. Ông Lê Minh Nguyên cũng là một trong những nhân vật Việt Nam được tổng thống George W. Bush tham khảo trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ tháng 6 vừa qua của ông Nguyễn Minh Triết.
1. Ông viết
"Đa số dân chúng Việt Nam nghĩ rằng về kinh tế Việt Nam còn kém xa Nhật Bản và
Nam Hàn, nhưng họ rất đỗi tự hào và kiêu hãnh vì đất nước họ không còn sự hiện
diện của các căn cứ quân sự ngoại quốc." Tôi đồng ý đây là niềm tự hào và kiêu
hãnh của dân chúng, nhưng nó chỉ có giá trị tương đối trong những khoảng thời
gian và không gian thuận lợi. Trong thời kỳ Chiến Tranh Việt Nam, dân chúng cả
hai phía đâu có muốn sự hiện diện của quân đội ngoại quốc, nhưng cả hai miền đều
có sự hiện diện của quân đội ngoại quốc. Các siêu cường thường xem thế giới là
một bàn cờ chess vĩ đại và họ phải di chuyển những quân cờ. Nam Hàn và Nhật Bản,
những quốc gia có nền kinh tế thịnh vượng hơn VN nhiều mà vẫn chưa thoát khỏi sự
hiện diện của quân đội ngoại quốc, thì liệu VN, có yếu tố địa lý chính trị có
tính cách chiến lược trong bàn cờ chess của thế giới, không phải lúc nào cũng có
những thuận lợi, thì sự ngủ mê trên niềm tự hào và kiêu hãnh sẽ làm cho ta thiếu
suy nghĩ để có những kế hoạch chuẩn bị khi thế cờ mà VN không chủ động được,
không còn cho VN có những thuận lợi. Trong hoàn cảnh đó, liệu VN có làm tốt hơn
Nam Hàn và Nhật Bản hay không ?
2. Sự thống nhất đất nước của đảng CSVN mà ông cho là "nét son" thì đa số
dân miền Nam cho là sự thôn tính của miền Bắc bằng bạo lực, một sự chiếm đóng và
vơ vét tài sản của một nước nghèo đối với một nước giàu. Hãy nhìn những gì người
dân miền Nam đã được đối xử sau nhiều thập niên của sự thống nhất này, nó có
hình thức của một sự cai trị, một sự chiếm đóng, tựa như (hay tệ hơn) nước Tàu
chiếm đóng VN. Nó không giống như sự thống nhất của nước Đức. Không cần phải vội
vã, việc thống nhất sẽ xảy đến mà thôi, lịch sử VN đã cho thấy điều này, vấn đề
còn lại là tiến trình nào để có sự hài hoà và hội nhập thực sự, đem lại hạnh
phúc thay vì đau khổ cho dân tộc mà thôi.
3. Việc "người dân khiếu kiện Nam Bộ chỉ trương cờ Đỏ sao vàng, ảnh Hồ
Chí Minh và khẩu hiệu “đã đảo bọn tham nhũng” ở Văn phòng Quốc hội tại thành Phố
Hồ Chí Minh gần đây mà không thấy khẩu hiệu “đả đảo Đảng CSVN”, theo tôi, họ là
những người đi tìm công lý, cũng tựa như dân Nga trong thời kỳ Liên Xô cực
thịnh. Họ là những người dân bình thường, nhìn vấn đề bên trong hệ thống, không
phải như những người quan tâm về chính trị để thấy được cái hệ thống nó hữu hiệu
hay không, để thấy cái nguyên nhân của sự đi tìm công lý của họ là chính là cái
hệ thống. Không thể bảo rằng họ không có khẩu hiệu "đả đảo Đảng CSVN" để nói
rằng họ chấp nhận sống trong hệ thống. Họ là những người dân bình thường, chỉ
thấy được những bất công chứ chưa có cơ hội thấy được cái nguyên nhân tận cùng
của những bất công đó. Theo tôi, những người thấy phải có trách nhiệm nặng nề
đối với họ.
4. Ông viết "Sự khác nhau của hai cuộc cách mạng này, ngoài bạo lực và
bất bạo lực, xoá bỏ và thay thế là vấn đề thủ lĩnh". Vấn đề thủ lĩnh tôi xin
được nói sau, ở đây tôi muốn đóng góp với ông về vấn đề "xoá bỏ và thay thế".
Tôi đoán (có thể sai) khi ông nói sự khác biệt của hai cuộc cách mạng này (lật
đổ vs dân chủ) là xoá bỏ và thay thế, ông hàm ý là con người, vì nếu
là hệ thống thì cả hai đều nhằm mục đích xoá bỏ hệ thống cũ để xây dựng một hệ
thống hoàn toàn mới. Trong cách mạng lật đổ, con người của hệ thống cũ thường
hay bị giết chết, bị bỏ tù hay bị trù dập, tựa như các trại cải tạo ở VN sau năm
1975 và công dân hạng nhì của người dân miền Nam. Còn trong cách mạng dân chủ,
con người của hệ thống cũ được bình an và tham dự bình đẳng vào sinh hoạt chính
trị của hệ thống mới. Một sự khác biệt nữa giữa hai cuộc cách mạng này, theo
tôi, là tính cách sụp đổ đột ngột (overthrow) và tích cách biến dạng từ từ
(transformation) của cái hệ thống chính trị.
5. Cuối cùng ông hình như đang muốn đi tìm và muốn sớm xuất hiện một
"Elsin Việt Nam” . Theo tôi, sở dĩ đất nước ta tiến chậm là vì dân ta lúc nào
cũng có quan niệm đi tìm và tôn thờ lãnh tụ. Trong khi đó thì đất nước là một
tập thể dân tộc vô cùng to lớn, nhu cầu lãnh đạo là một nhu cầu thương trực, do
đó khả năng và trách nhiệm lãnh đạo là điều cần có của bất kỳ mỗi một người dân
bình thường nào trong xã hội. Lãnh đạo không phải do thiên phú mà là một sự học
hỏi. Một tổ chức hay một định chế muốn được bền vững, tuy có lãnh tụ nhưng không
lệ thuộc vào lãnh tụ để sinh tồn, nó có tiềm ẩn khả năng tự lãnh đạo (auto
pilot). Nếu trình độ của quần chúng trong cuộc cách mạng dân chủ đều cao thì ai
trong đó cũng có thể là một Elsin cả, và như ông Gene Sharp nhận xét về các cuộc
cách mạng dân chủ, nó chỉ duy trì được khi nào nó có được sự ý thức cao độ và
tham dự của đại khối quần chúng. Lãnh tụ là do tranh đấu mà ra và chúng ta không
nên phí sức đi tìm hay nhào nặn ra họ.
“… Bắt buộc phải xét lại để đoạn tuyệt với “lối tranh đấu cũ”, mọi người sẽ dễ dàng đồng ý với ông Nguyễn Gia Kiểng, vì không còn lựa chọn nào khác …”
Giờ đây - khi “cơn lốc” đã đi qua, phong
trào dân chủ cho Việt Nam có nhiều điều đặt ra cần được thảo luận để thúc đẩy.
Cảm ơn ông Nguyễn Gia Kiểng đã kịp thời nêu ra
“Thời điểm của một xét lại bắt buộc” trên Thông Luận ngày 13 tháng 6
năm 2007 để mọi người có dịp bàn thảo.
1. Vựợt ra ngoài sự nhanh nhạy về thời điểm, bài viết của ông Nguyễn Gia
Kiểng đã thể hiện rõ bản lĩnh chính trị của mình: chấp nhận chỉ trích để nêu lên
những hạn chế thực của phong trào dân chủ - điều mà không ít người e ngại, ngụy
biện sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến phong trào. Vì vậy, khi bài viết được công bố,
chắc chắn tác giả sẽ đón nhận ý kiến chỉ trích nhiều hơn sự đồng cảm và mến
phục.
Những hạn chế thực của phong trào dân chủ? Đúng như tác giã phân tích, sự yếu
kém của nó, hầu như mọi người đã có thể nhìn thấy từ trước. Rõ nét nhất là từ
cuối năm 2005, khi ông Hoàng Minh Chính sang Mỹ mà thực tế đã trải nghiệm. Vào
thời điểm đó, anh em dân chủ thở phào nhẹ nhõm, đặt niềm tin vào ông Hoàng Minh
Chính khi được Hà Nội bất ngờ cho sang Mỹ chữa bệnh. Nhưng sau đó, ông Chính đã
làm cho nhiều người thất vọng bởi sự thiếu nhất quán trong phát ngôn, lúc đầu
thì tuyên bố thành lập “Phong trào dân chủ Việt Nam thống nhất”, ngay sau đó cải
chính không còn “thống nhất”; bởi nhiều lý do khác làm cho mọi người nghĩ rằng
ông chỉ là con rối của nhà nghiên cứu Trần Khuê và bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi được
ông “bổ nhiệm” làm đại diện cho anh em dân chủ trong và ngoài nước. Quyết định
thiếu dân chủ của ông, hậu quả của nó không những làm hại bản thân, mà còn làm
cho phong trào vốn đã không “thống nhất”, thêm điều kiện để “rách” (không phải
“tách”) ra nhiều mảnh. Tôi còn nhớ như in, trong lúc ông Chính đang ở Mỹ, thì
tại Sài gòn, nhà nghiên cứu Trần Khuê, lúc đó đã sát cánh kỹ sư Đỗ Nam Hải, linh
mục Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Chính Kết, Lê Quang Liêm, tuyên bố rùm beng trên đài
RFA về một liên minh Thần thánh chuẩn bị ra đời. Thế nhưng, khi ông Chính về
nước và mãi đến bây giờ, chẳng ai thấy liên minh thần thánh nào cả. Có chăng,
sau đó chẳng bao lâu ông Khuê đối đầu với linh mục Nguyễn Văn Lý và Đỗ Nam Hải,
xa lánh anh em Đà Lạt cho đến tận bây giờ. Một khi Phong trào bị “rách” thì việc
xuất hiện nhiều danh xưng dân chủ, đảng phái chính trị trên Internet là điều
đương nhiên.
Trước chủ trương nương tay với anh em dân chủ để tổ chức APEC 14, được WTO, PNTR
và thoát khỏi danh sách CPC của Hà Nội, chỉ trong thời gian ngắn (từ tháng 4 đến
cuối năm 2006) linh mục Nguyễn Văn Lý đã dễ dàng công bố thành lập ba danh xưng
dân chủ và chính trị, gồm “Khối 8406”, “Đảng Thăng Tiến Việt Nam”, “Liên đảng
Lạc Hồng”; ông Hoàng Minh Chính và nhà nghiên cứu Trần Khuê tuyên bố phục hoạt
“Đảng dân chủ Việt Nam” (XXI). Riêng anh Đỗ Nam Hải, ngoài Khối 8406, đã lập
thêm “Liên minh dân chủ nhân quyền Việt Nam”. Rồi người ta thấy một số danh xưng
khác tiếp tục xuất hiện trên internet. Thoạt nhìn, nhiều người, nhất là anh em
dân chủ hải ngoại tin rằng trong nước đã có lực lượng đối lập. Tuy nhiên, khi Hà
Nội ra tay đàn áp, Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Phong, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công
Nhân, Trần Khải Thanh Thủy,... lần luợt được đưa vào “nhà tù nhỏ”, đứng trước
vành móng ngựa, chẳng hề thấy lực lượng quần chúng ủng hộ; chỉ thấy một số ít
anh em dân chủ trẻ tuổi đầu hàng, tự thú; nhiều người chạy sang Campuchea để
lánh nạn. Một lần nữa, họ tiếp tục đơn độc. Phong trào dân chủ rơi vào khủng
hoảng, đó là thực trạng đau lòng cần ghi nhớ.
Có thể ông Hoàng Minh Chính bị lợi dụng trong điều kiện có thể thông cảm được
(già yếu, bệnh tật, xa anh em trong nước) đúng như nhận định của ông Nguyễn Gia
Kiểng. Người đáng lên án, dĩ nhiên là người đã lợi dụng ông ấy, làm cho phong
trào “rách” thêm, làm bùng phát chủ nghĩa cơ hội, những người đối lập bị chia
cắt, đơn độc, không hình thành được lực lượng. Điều mà anh em dân chủ đau lòng
nhất là Công an đã tận dụng được cơ hội để xen vào, làm cho vàng thau lẫn lộn.
Hàng lọat câu hỏi đặt ra để rồi không được giải đáp: tại sao ông Hà Sĩ Phu đến
giờ này chưa được mở điện thọai bàn, tại sao nhà nghiên cứu Trần Khuê trang bị
máy vi tính và điện thoại sịn mà không bị gây khó dễ, tại sao anh Đỗ Nam
Hải không bị bắt sau khi bị ép “tự thú”, tại sao Nguyễn Chính Kết là “Việt Tân”
và nhiều anh em dân chủ trẻ trốn thoát ra nước ngoài.... Sự nghi kị lẫn nhau bao
trùm lên phong trào, thử hỏi làm sao có được tổ chức?
Tôi cũng đồng ý với ông Nguyễn Gia Kiểng, nếu như linh mục Nguyễn Văn Lý chỉ tập
trung phát triển Khối 8406 ít mùi chính trị hơn là Đảng Thăng Tiến và Liên đảng
Lạc Hồng, có thể Hà Nội có cái nhìn khác. Tôi tin rằng nhiều người có cảm tình
với Khối 8406 hơn là cá nhân người sáng lập ra nó. Bởi vì linh mục Nguyễn Văn Lý
đã từng viết “tâm thư” trong trại giam để được đặc xá, có tai tiếng về trai gái
thời gian ở xứ Nguyệt Biểu và điều quan trọng nhất là Giáo luật không hoan
nghênh chức sắc hoạt động chính trị. Tuy nhiên, tôi không đồng ý cách đặt vấn đề
của ông Nguyễn Gia Kiểng: “Nguyễn Văn Lý và Nguyễn Văn Đài ở Hà Nội, đã là những
nạn nhân của cách hoạt động của đối lập tại hải ngoại....”. Với bề dày kinh
nghiệm, bản lĩnh như linh mục Nguyễn Văn Lý, yếu tố hải ngoại khó có thể chi
phối. Hình ảnh linh mục Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng trong phiên toà xét xử vừa
qua đã nói lên điều đó.
Tôi đồng ý trong thời gian qua có sự vội vã trong việc công bố các danh xưng như
ông Nguyễn Gia Kiểng đã viết. Tuy nhiên, động cơ của sự vội vã này rất phức tạp,
có người chớp thời cơ (như đã nêu trên), có người háo danh, có người vì tiền
(chuyện muôn thủa),... Dĩ nhiên, chẳng có ai muốn vào “nhà tù nhỏ”. Với những
người chân chính, vào đó rồi làm sao hoạt động. Với những người cơ hội thì đó là
cực hình cần phải tránh. Vì vậy, tôi cho rằng rằng linh mục Nguyễn Văn Lý, kể cả
những người đã đầu hàng, tự thú hay trốn sang Campuchea đều đã tiên liệu trước,
nhưng do họ chưa có lực lượng quần chúng, quan trọng nhất là chưa có tổ chức hẳn
hoi nên mới xảy ra tình trạng vừa qua.
2. Bắt buộc phải xét lại để đoạn tuyệt với “lối tranh đấu cũ”, mọi người
sẽ dễ dàng đồng ý với ông Nguyễn Gia Kiểng, vì không còn lựa chọn nào khác. Tuy
nhiên, cách đặt vấn đề trong phần quan trọng này của tác giả, suy cho cùng vẫn
không vượt ra ngoài phạm vi “Chính trị Sa lông” mà tác giả đã có thời gian dài
vướng vào.
Tôi tin chắc rằng, ông Nguyễn Gia Kiểng đã đọc bài viết của Luật sư Trần Lâm
trước đây nói về
“Sự cần thiết phải dân chủ trong Đảng CSVN” và tài liệu
cuộc trao đổi điện thọai giữa ông Lê Hồng Hà với các ông Hà Sĩ Phu và Bùi Minh
Quốc ngày 10 tháng 3 vừa qua. Nếu đã đọc, thì ông nghĩ gì về lực lượng cho
giải pháp dân chủ Việt Nam trong tương lai? Tôi không đồng ý với ông giải pháp
cho đất nước là các tổ chức hải ngoại, trong đó có Tập hợp dân chủ đa nguyên của
ông. Cho dù là giai đoạn 1, hay giai đoạn 2 theo khái niệm của ông thì lực lượng
quốc nội vẫn là yếu tố quyết định, hải ngoại có vai trò cực kỳ quan trọng là
quốc tế vận và yểm trợ tài chính có kiểm soát.
Bài viết của Ls Trần Lâm và quan điểm của ông Lê Hồng Hà, khiến ta suy nghĩ đến
một điều khó chịu: phải chăng Chìa khóa Vàng dân chủ nằm trong tay Đảng CSVN?
Điều này, các Giáo sư Vũ Thiện Hân và Đoàn Viết Hoạt có đề cập đến và đã có
nhiều ý kiến chỉ trích là đầu hàng. Với những điểm son sáng chói trong cách mạng
dân tộc dân chủ trước đây và những thành quả đổi mới gần đây, Đảng CSVN đến nay
vẫn là lực lượng chính trị ngự trị trong đại đa số dân chúng Việt Nam. Đa số dân
chúng Việt Nam nghĩ rằng về kinh tế Việt Nam còn kém xa Nhật Bản và Nam Hàn,
nhưng họ rất đỗi tự hào và kiêu hãnh vì đất nước họ không còn sự hiện diện của
các căn cứ quân sự ngoại quốc. Đối với dân chúng Nhật Bản và người Hàn Quốc thì
đây là điều họ đang khát khao. Gần đây, để giải tỏa sự căm dận của dân chúng
Nhật Bản trước tuyên bố của mình cho rằng việc Mỹ ném bom nguyên tử xuống Nhật
là “có lý”, Bộ trưởng Quốc phòng F. Kyuma buộc phải xin từ chức.
Thế đấy, nét son thống nhất đất nước của Đảng CSVN tiếp tục ngự trị trong tâm
trí người Việt Nam khi họ đang đổi mới kinh tế có kết quả. Đọc bài “Bài học khó
quên” của nhà văn Hà Minh Thuỳ, được đăng tải trên nhiều trang web, chúng ta sẽ
lý giải được điều này: Tại sao dân oan Thái Bình sẵn sàng ném đồ dơ của phụ nữ,
chém vào mặt bọn quan chức địa phương tham nhũng, hay người dân khiếu kiện Nam
Bộ chỉ trương cờ đỏ sao vàng, ảnh Hồ Chí Minh và khẩu hiệu “đã đảo bọn tham
nhũng” ở Văn phòng Quốc hội tại thành phố Hồ Chí Minh gần đây mà không thấy khẩu
hiệu “đã đảo Đảng CSVN”. Vì vậy, tôi tin rằng những người có kiến thức và được
trải nghiệm qua đấu tranh dân chủ, sau khi nghiên cứu quan điểm “Tự vỡ” của ông
Lê Hồng Hà và “Tự tách” của Ls Trần Lâm trong nước, sẽ thấy ngay ý kiến mang
tính giải pháp cho phong trào dân chủ của ông Nguyễn Gia Kiểng trở thành nhạt
nhẽo. Rất có thể ông Kiểng đã nhầm lẫn khi đánh đồng tính chất của các cuộc cách
mạng lật đổ, hay còn gọi là Giải phóng (Cách mạng Tân Hợi của Trung Quốc năm
1911, cách mạng Nga năm 1917 mà tác giả nhắc đến trong bài viết) với Cách mạng
dân chủ nhân quyền, hay còn gọi là “cách mạng màu” ở Đông Âu, Liên Xô (cũ) và
Ucraina gần đây. Sự khác nhau của hai cuộc cách mạng này, ngoài bạo lực và phi
bạo lực, xóa bỏ và thay thế, là vấn đề thủ lĩnh. Khác với Cách mạng lật đổ (hay
giải phóng) thủ lĩnh thường ở bên ngoài, cụ thể là lưu vong; Cách mạng màu thủ
lĩnh đều ở bên trong và Boris Elsin là một điển hình. Có thể xuất phát từ sự
nhầm lẫn này, nên ông Kiểng cho rằng “giai đoạn đầu, đầu não và vai trò lãnh đạo
phong trào dân chủ phải đặt ở hải ngoại”, sau khi CSVN chấp nhận đối lập thì cơ
quan lãnh đạo “mới có thể chuyển về trong nước”.
Tôi nghĩ rằng, quan điểm Đảng CSVN sẽ “tự tách”, “tự vỡ” của Ls Trần Lâm và ông
Lê Hồng Hà đáng để anh em dân chủ nghiền ngẫm. Đây là một quan điểm có nội hàm
thực tiễn nhiều hơn lý luận. Theo đó, những người hoạt động dân chủ có quyền tự
hào rằng các bài viết phản kháng nhà cầm quyền của mình trong thời qua mặc dù
không được chính quyền công khai thừa nhận, nhưng nó đã góp phần làm cho quá
trình “tự tách, tự vỡ” đã và đang chuyển động. Bởi vì, Đảng CSVN là một tổ chức
có bề dày lịch sử, hơn ai hết họ biết rằng nếu không Đổi mới kinh tế và Dân chủ
hóa các hoạt động chính trị trong nội bộ và đời sống nhân dân, thì sẽ bị quần
chúng đào thải, những vết son trong quá khứ của họ dù có đỏ đến mấy rồi cũng sẽ
nhạt phai trong dân chúng. Dưới hình thức này, hay hình thức khác, tôi tin chắc
họ đã đọc tất cả những ý kiến bất đồng của anh em dân chủ để điều chỉnh sách
lược cai trị của mình đối với xã hội. Chẳng qua vì luật pháp của họ không chấp
nhận bất đồng chính kiến (điều 88 và 258 của Bộ luật hình sự), nên họ không thể
công khai thừa nhận điều này. Đây là vấn đề quan trọng, nên chăng những người
dân chủ trong và ngoài nước hãy nỗ lực làm cho quá trình “tự tách”, “tự vỡ” vận
hành mạnh lên, để một “Elsin Việt Nam” sớm xuất hiện? Tại sao là một chuyên gia
kinh tế như ông Kiểng mà lại không về Việt Nam bỏ vốn và kiến thức mở công ty,
thu hút dân chúng Việt Nam, tạo ra áp lực với Đảng CSVN thay vì đưa ra quan điểm
“điều khiển phong trào dân chủ từ xa”?
Đôi điều suy nghĩ về “Thời điểm của một bước ngoặt bắt buộc” mà ông Nguyễn Gia
Kiểng đã nêu ra, xin được chia sẻ cùng bạn đọc.
“… động cơ của đa số những người tranh đấu cho dân chủ hiện nay là sự thù hận …”
Trong bài viết này tôi sẽ trả lời thư của
tác giả Nguyễn Gia Kiểng viết trong mục ý kiến của bài
“Góp ý với tác giả Nguyễn Gia Kiểng về bài viết Thời điểm của một xét lại bắt
buộc” mà tôi viết ngày 14/07/2007 và sau đó tôi sẽ góp thêm một vài ý nữa
với tác giả Nguyễn Gia Kiểng.
Cảm ơn thư trả lời đầy tình người và nồng ấm của ông. Cũng cảm ơn lời khen của
ông về phong thái đối thoại của tôi. Theo tôi thì đây là một phong thái đối
thoại phải có của mọi người dân chủ, đặc biệt là với những người dân chủ Việt
nam trong giai đoạn nhạy cảm của nền dân chủ còn phôi thai hiện nay. Như được
biết đối thoại là phương cách chủ yếu của sinh hoạt dân chủ. Đối thoại để đi đến
cảm thông hoặc để thuyết phục không thể để sự thù oán, bực tức khống chế. Đồng ý
đối thoại về một vấn đề nào đó tức là chúng ta đã giải quyết được một nửa. Bởi
vậy phong thái đối thoại trang nhã, thắng thắn và chính xác rất cần thiết để
giải quyết phần nửa còn lại.
Tôi có thể không đồng ý với ông một số điểm trong các bài viết trước đây nhưng
tôi kính trọng ông về những viễn kiến ông đã đưa ra có tính đi trước thời gian
kiểu Phan Châu Trinh và về phong cách hành văn đầy hình ảnh thơ trong các bài
viết chính luận của ông khiến người đọc thấy thoải mái dù có những lúc bực dọc
như khi thấy trong bài viết của ông có những nghịch lí về lô-gíc như “tình trạng
ổn vững nội bộ của đảng cộng sản chưa chắc đã là xấu cho tiến trình dân chủ, nó
còn có thể là tốt” trong bài Thời điểm của một xét lại bắt buộc. Nhưng chính
những nghịch lí về lô-gíc này bắt người đọc dù không muốn suy nghĩ cũng phải suy
nghĩ để tìm lời giải đáp.
Tôi nghĩ những người cộng sản có thể không thích ông nhưng không thể không kính
trọng ông vì những bài viết của ông đã bộc lộ tình người và lòng yêu nước thiết
tha của ông. Nhưng chỉ vì quyền lực và quyền lợi là những cái bả nguy hiểm làm
mờ tối lương tri đã khiến họ không muốn nghe ông.
Bởi vậy tôi tin ông và Tập hợp của ông sẽ thực thi đúng những điều ông đã xác
quyết về bản chất của cuộc đấu tranh cho dân chủ. Đó là “tranh đấu cho một
chuyển hóa nhanh chóng về dân chủ nhưng trong hòa bình và trật tự”.
Về phân tích Giáo hội Công giáo, có vẻ như ông không chia sẻ hoàn toàn với phân
tích của tôi. Theo tôi thì việc không chia sẻ này chỉ là cách nói của ông để làm
sáng tỏ tinh thần đa nguyên mà ông đang theo đuổi và phần còn lại, tôi và ông
không khác gì nhau. Tôi cũng tôn trọng những cách hành xử của Hội đồng Giám mục
Việt nam dù không có lợi cho đất nước và giáo hội của mình. Tuy nhiên có thể có
chỗ hơi khác nhau giữa tôi và ông vì tôi là một thành viên của giáo hội ấy. Tôi
đau khổ vì thấy giáo hội ấy càng ngày càng xa lạ với giáo hội mà tôi hằng quý
mến, giáo hội của Chúa là tình yêu, của hơn một trăm ngàn các thánh tử đạo Việt
nam, của những người nghèo và bị áp bức.
Điều tôi muốn nhấn mạnh ở phân tích giáo hội công giáo này là cả tôn giáo cũng
không thoát khỏi thói quen luồn lách. Nó là một căn bệnh nguy hiểm cho việc xây
dựng dân chủ. Điều đó buộc các người tranh đấu cho dân chủ phải tìm phương cách
chữa trị thích hợp nếu muốn xây dựng dân chủ. Nếu chữa trị được tâm lí luồn lách
thì căn bệnh tham nhũng cũng sẽ chữa trị được. Nhân tiện tôi muốn đặt một số câu
hỏi để làm sáng tỏ vấn đề tham nhũng. Tham nhũng là gì? Theo tôi tham nhũng ở
Việt nam là nhận hối lộ và biển thủ công quỹ. Ai mới có thể tham nhũng được? Chỉ
có những người có chức quyền mới có cơ hội nhận hối lộ và biển thủ công quỹ. Ai
là những người có chức quyền hiện nay? Hiện nay chỉ có những đảng viên đảng cộng
sản mới có chức quyền. Làm sao để giải quyết được vấn đề tham nhũng? Chắc chắn
là những người có chức quyền này không thể giải quyết được vấn đề tham nhũng.
Cho nên dù chính quyền hiện nay có kêu gọi hoặc ban hành đủ mọi loại nghị quyết
chống tham nhũng thì vấn đề tham nhũng cũng cứ càng ngày càng phình to ra. Chỉ
có biện pháp là thay đổi những người có chức quyền này và thiết lập một thể chế
dân chủ đa nguyên với hệ thống kiểm soát độc lập với những người có quyền lực
của thể chế ấy.
Có một điểm nữa trong bài viết “Thời điểm của một xét lại bắt buộc” đã khiến tôi
lưỡng lự không biết là có nên góp ý với ông không. Đó là những cụm từ “lên đồng”
và “tin khẩn” mà ông viết để diễn tả tình trạng tranh đấu cho dân chủ của những
người tranh đấu cho dân chủ hiện nay. Tôi đồng ý với ông về động cơ của đa số
những người tranh đấu cho dân chủ hiện nay là sự thù hận. Hình ảnh “lên đồng” là
hình ảnh rất ấn tượng. Nó diễn tả đúng nhất tình trạng tranh đấu cho dân chủ của
đa số những người tranh đấu hiện nay. Một tình trạng mất trí trong cuộc tranh
đấu cho dân chủ giống như khi lên đồng. Nhưng có cần phải chính ông nói ra điều
này mới được hay sao? Tại sao ông không để một thành viên nào khác trong Tập hợp
của ông nói thay ông? Nhưng suy đi nghĩ lại, nếu một người khác nói ra thì giá
trị khiêu khích của nó không được là bao và hiệu ứng để thay đổi cách suy nghĩ
và hành động của Phong trào dân chủ sẽ cũng chỉ là con số không. Chắc ông cũng
biết là ông sẽ bị vất vả về những cụm từ này, sẽ bị nhiều người khó chịu vì bị
lật tẩy chống đối và bị những người cộng sản lợi dụng để gây chia rẽ tổ chức của
ông với các tổ chức khác. Chắc là ông cũng đã được đọc những phản ứng chống đối
ông trên các trang web. Điều đó cho thấy tấm lòng của ông và tổ chức của ông đối
với đất nước.
Điều sau cùng tôi muốn góp ý với ông là cuộc tranh đấu mà ông và Tập hợp của ông
đã xác quyết trong
Dự án chính trị Thành công thế kỉ 21 và được tái xác nhận trong thư
trả lời tôi ở mục ý kiến của bài
“Góp ý với tác giả Nguyễn Gia Kiểng về bài viết Thời điểm của một xét lại bắt
buộc” mà tôi viết ngày 14/07/2007, nếu muốn đi đến thắng lợi trong hoà bình
và trật tự, đòi hỏi phải dành nhiều cố gắng cho việc vận động dân trí. Tôi được
biết đến Tập hợp của ông qua Dự án chính trị Thành công thế kỉ 21 và
quyển Tổ quốc ăn năn của ông với hình ảnh một tổ chức của chất xám, của
tư tưởng. Vậy mà tôi thấy Tập hợp của ông có vẻ như không muốn khai thác ưu điểm
này. Và hình như về mặt lí trí thì ông và Tập hợp của ông đã vượt thoát được
tình trạng tranh đấu cho dân chủ như ông viết trong bài “Thời điểm của một xét
lại bắt buộc”.
Nhưng về mặt thực tế thì tôi thấy Tập hợp của ông có vẻ như vẫn chưa thoát được
tình trạng “tin khẩn”, tình trạng “lên đồng” trong tranh đấu. Tôi vẫn thấy là
các ông còn khuynh hướng chạy theo biến cố. Tôi thường theo dõi trang web Thông
luận của các ông. Tôi thấy thiếu những bài viết đối chiếu Dự án chính trị
của các ông với những sự cố đang xảy ra để chứng tỏ tổ chức của các ông đang làm
chủ các biến cố và cho thấy là Dự án chính trị của các ông là giải pháp đúng
nhất lúc này để giải quyết thực tế tồi dở đang diễn ra.
“… nếu chúng ta muốn có một nền dân chủ đúng nghĩa trong tương lai thì bây giờ chúng ta cần phải hành xử theo đúng tinh thần và nguyên tắc của dân chủ …”
Đây là một bài viết đúng lúc và rất hữu ích
cho việc phát triển của Đối lập Dân chủ. Bài đã xét lại nhiều vấn đề. Nhưng theo
tôi vẫn còn một số vấn đề khác nữa cũng cần phải được xét lại. Có lẽ vì số trang
báo có giới hạn nên tác giả chưa bàn đến. Và vì vậy ngay cả những điều tác giả
đã bàn trong bài viết này cũng chỉ mới nêu ra một cách đại cương. Do đó người
viết thấy cần phải đóng góp thêm vào những điểm tác giả đã viết trong bài
“Thời điểm của một xét lại bắt buộc”, với hi vọng việc xét lại này được sâu
rộng hơn và sẽ giúp cho Đối lập Dân chủ có thể phát triển lớn mạnh trong những
ngày sắp tới.
Trước tiên, có một câu hỏi cần đặt ra là chúng ta có nên viết đúng sự thật và
công khai về Đối lập Dân chủ không? Tôi nghĩ có nhiều người cho là không nên
viết ra công khai những mặt yếu kém của Đối lập dân chủ. Bởi vì Đối lập dân chủ
có những mặt yếu kém thật. Viết ra chỉ làm cho Đối lập Dân chủ bị khủng hoảng và
tan nát thêm. Theo tôi thì Đối lập Dân chủ đã bị yếu kém như ngày nay là vì
chúng ta đã không dám viết đúng sự thật và công khai về Đối lập Dân chủ. Chúng
ta luôn tìm đủ mọi lí lẽ để tự dối lòng và để tự ru ngủ mình. Vì thế đã không có
những thay đổi có tính cách mạng tận gốc rễ để giúp Phong trào Dân chủ lớn mạnh.
Như được biết về dân chủ thì công khai và sự thật là những đặc tính quan trọng
của sinh hoạt dân chủ. Bởi vậy nếu chúng ta muốn có một nền dân chủ đúng nghĩa
trong tương lai thì bây giờ chúng ta cần phải hành xử theo đúng tinh thần và
nguyên tắc của dân chủ. Trong tinh thần ấy người viết sẽ đóng góp những ý kiến
của mình về bài viết của tác giả Nguyễn Gia Kiểng. Người viết sẽ không chú trọng
về những phần nổi và tìm cách vuốt ve mà sẽ đi sâu vào phần chìm để tìm lối
thoát cho Đối lập Dân chủ. Người viết chỉ có những nguồn thông tin về Đối lập
Dân chủ rất hạn hẹp vì vậy việc đối chiếu những nguồn thông tin này với thực tế
đã đòi hỏi người viết phải mất nhiều thời gian để quan sát và suy nghĩ. Dù vậy
những đóng góp này vẫn chỉ là những đóng góp nhìn từ một góc độ, cần được sự
đóng góp của nhiều người nữa để tất cả chúng ta có được cái nhìn toàn bộ giúp
cho Đối lập Dân chủ phát triển và lớn mạnh.
*
Điểm đầu tiên tôi muốn góp ý với tác giả Nguyễn gia Kiểng về “Đối lập dân chủ
Việt nam chỉ có phần nổi, không có phần chìm, đằng sau tiếng vang không có thực
lực. Sự yếu kém của đối lập dân chủ thực sự ra đã có thể nhìn thấy từ trước.”
Tác giả đã nêu ra một số sự kiện để minh chứng cho khẳng định trên. Mặc dầu vậy
điều khẳng định này chắc là sẽ có người phản đối. Làm gì đối lập dân chủ không
có phần chìm dù mỏng manh, không có thực lực dù chỉ đôi chút. Bởi vì không thể
có phần nổi nếu không có phần chìm. Vậy phần chìm hoặc thực lực trong bài viết
này của Nguyễn Gia Kiểng là gì? Có nhiều cách hiểu phần chìm hoặc thực lực. Phần
chìm hoặc thực lực này là nhân sự? Thế thì phần chìm hoặc thực lực trong bài
viết này thực sự là chỉ có như vậy sao? Theo tôi thì phần chìm hoặc thực lực mà
tác giả muốn nhấn mạnh trong bài viết này là “cách suy nghĩ và hành động” mà tác
giả đã dùng làm câu kết cho bài viết. Do đó tôi sẽ góp thêm vài ý về phần chìm
này với hi vọng thay đổi được cách suy nghĩ và hành động cũ như bài viết đã mong
muốn.
Tại sao cách suy nghĩ và hành động lại quan trọng cho đối lập dân chủ như vậy?
Cách suy nghĩ cũ và hành động cũ là gì? Tại sao lại phải thay đổi và thay bằng
cách suy nghĩ và hành động mới nào? Đó là những câu hỏi cần có câu trả lời để
giúp đối lập dân chủ phát triển và lớn mạnh.
Ta có thể kể ra một số biểu hiện của cách suy nghĩ và hành động cũ như:
Đối lập dân chủ không có được sự tự tin, không biết tin vào sức lực của chính
mình. Bởi vậy đối lập dân chủ đã có thói quen không bao giờ dám nhìn thẳng vào
sự thật, vào những khó khăn, vào những yếu kém của mình và những điểm mạnh của
đối phương. Sợ nhìn thẳng vào sự thật sẽ chùn bước tháo lui. Vì vậy luôn tìm
cách bám vào bất kì cái gì giống như cái phao mà Nguyễn gia Kiểng đã viết trong
bài hoặc tìm cách lẩn tránh bằng cách đổ lỗi cho cái này cái nọ, người này người
kia để tự an ủi mình.
Đối lập dân chủ thiếu hiểu biết về tổ chức và vận động quần chúng. Không thấy là
muốn đối phó hữu hiệu với đảng cộng sản thì cần phải có tổ chức. Và tổ chức thì
lại sinh hoạt theo những nguyên tắc của nó. Nó cũng có những kỉ luật và ràng
buộc của nó. Đối lập dân chủ lại còn không biết thế nào là tranh đấu theo tinh
thần dân chủ. Cho nên đã không có đường hướng và phương pháp hành động theo tinh
thần dân chủ một cách rõ ràng. Hành động theo kiểu cứ làm bừa theo cảm tính,
theo chủ quan duy ý chí, theo những dự đoán tình hình không cụ thể và phù hợp
với thực tiễn. Nhiều khi lại còn hành động vượt quá khả năng hoặc thiếu chuẩn bị
kĩ lưỡng. Chẳng hạn như nhắm mắt trước việc tranh đấu với chính quyền độc tài là
sẽ bị đàn áp, bắt bớ cho nên đã không tiên liệu khi xảy ra như vậy thì phải đối
phó như thế nào để vẫn duy trì được tiềm năng chiến đấu và làm cho phong trào
dân chủ lớn mạnh. Kết quả là tùy vận may rủi.
Đối lập dân chủ lại chỉ biết luồn lách để tìm những giải pháp cá nhân. Tình
trạng sinh hoạt theo kiểu nhân sĩ hiện nay là hệ quả của thói quen thích luồn
lách này.
Bởi vậy để có thể giải quyết những hệ quả này, đối lập dân chủ phải thay đổi
cách suy nghĩ và hành động cũ. Phải dám nhìn thẳng vào sự thật. Phải biết mình
muốn gì. Phải tự xét khả năng của mình và của người. Phải biết để ra một dự án
tương lai khả thi và một lộ đồ hành động cụ thể. Dự án và lộ đồ ấy phải phù hợp
với dân chủ. Có nghĩa là phải huy động được mọi người của mọi thành phần chấp
nhận tham gia vào việc xây dựng dân chủ. Phải tiên liệu những sự cố gì sẽ xảy ra
và đối phó như thế nào. Phải biết liên minh với nhau để tạo sức mạnh và để giúp
phối hợp hành động nhịp nhàng.
*
Điểm thứ hai tôi muốn góp ý với Nguyễn Gia Kiểng về “sự yểm trợ rất giới hạn
trong một giáo hội tự nó đã là một tôn giáo thiểu số tại Việt nam”. Thiểu số
mới chỉ là một góc độ của vấn đề. Tuy góc độ này có quan trọng nhưng không phải
là cơ bản. Bởi vì giáo hội ấy dù thiểu số nhưng lại có sức mạnh quốc tế. Vấn đề
cơ bản là Giáo hội Công giáo ấy đã bị xơ cứng, bị tha hoá. Hàng giáo phẩm của
giáo hội này đã biến giáo hội ấy không còn là giáo hội của tình yêu thương, của
những người nghèo, những người bị bóc lột, bị áp bức. Trong một hai thế kỉ qua,
hàng giáo phẩm của giáo hội ấy lúc nào cũng tìm cách thoả hiệp với chính quyền
để tồn tại và khiến giáo hội ấy trở thành một giáo hội hèn nhát, không dám lên
tiếng trước những bất công, những khốn khổ của đống bào và trước cả những điều
đảng cộng sản gây tổn hại cho chính giáo hội của mình như vụ đập phá tượng Đức
Bà, vụ chiếm đoạt đất đai của các dòng tu và nhà thờ v.v.
Giáo hội này đã trở thành một giáo hội luồn lách để tìm những giải pháp cá nhân
cho mình. Phải xây những nhà thờ thật to lớn để khoe khoang là mình tài giỏi.
Chúa đâu có thích ở những nhà thờ to lớn như vậy, đang khi nhiều người còn bị
sống khốn khổ, bị bách hại.
*
Điểm thứ ba tôi muốn góp ý với Nguyễn Gia Kiểng về “Như vậy phải loại bỏ kịch
bản lật đổ. Chúng ta không có lực lượng và phương tiện để lật đổ và cũng không
ai giúp chúng ta lật đổ chính quyền cộng sản.” Cho nên có phải vì vậy Nguyễn
Gia Kiểng đã chọn kịch bản cho cuộc đấu tranh này là “Cuộc đấu tranh cho dân
chủ vì vậy không phải là cuộc xung đột thù địch một mất một còn mà phải là cuộc
đối đầu hoà bình - ít nhất là hoà bình đơn phương từ phe dân chủ - giữa dự án
dân chủ và dự án cộng sản.”? Như vậy nếu chúng ta có lực lượng và phương
tiện và được sự trợ giúp của ai đó thì chúng ta sẽ sử dụng kịch bản lật đổ? Nếu
thực sự diễn biến tư tưởng và hành động của Nguyễn Gia Kiểng là vì bị áp lực của
thực tế mà buộc phải chọn cuộc tranh đấu đối thoại hoà bình thì việc Nguyễn Gia
Kiểng không muốn thay thế tất cả guồng máy nhà nước sẽ có thể đưa đến tình trạng
xảy ra ở Việt nam giống như ở Nga sau ngày đảng cộng sản Liên xô sụp đổ mà có
một số người đã lo như vậy là có cơ sở.
Theo tôi thì dù chúng ta mạnh hay yếu, dù chúng ta có khả năng lật đổ hay không
thì cuộc tranh đấu cho dân chủ vẫn không thể là cuộc xung đột thù địch một mất
một còn giữa đối lập dân chủ và đảng cộng sản. Đây phải là cuộc tranh đấu
để mời gọi tất cả mọi người đặc biệt là những người cộng sản cùng tham gia vào
cuộc chơi dân chủ, cùng chấp nhận luật chơi dân chủ. Vì vậy chiến lược
của cuộc tranh đấu này không phải là tìm cách hạ bệ và lăng nhục nhau mà phải là
cuộc tranh đấu của mời gọi, của đối thoại và thuyết phục, của tinh thần hoà
giải, của tôn kính, của biết chấp nhận những mặt mạnh và yếu của nhau. Đó là
cuộc tranh đấu của sự tự tin vào lẽ phải và vào chính mình. Đó cũng là giải pháp
không thể không áp dụng cho một nuớc Việt nam tương lai. Điều đó không có nghĩa
là chấp nhận đầu hàng. Bởi vì mọi cuộc tranh đấu đều cần phải có áp lực. Áp lực
sẽ giúp những người đối thoại còn cố chấp mau thức tỉnh để chấp nhận thực tế.
Nhưng áp lực không phải là chửi bới hung hăng vô căn cứ. Mọi cách chửi bới hung
hăng vô căn cứ chỉ làm cho cuộc tranh đấu cho dân chủ càng ngày càng đi vào bế
tắc. Áp lực cũng không phải là phải sử dụng bạo lực. Mọi hình thức sử dụng bạo
lực chỉ đi đến kết quả là sẽ có một chế độ độc tài mới thay cho chế độ độc tài
cũ.
Chỉ có con đường tranh đấu hoà bình này mới không gây thêm khổ đau cho dân tộc,
không gây thêm hố sâu chia cắt, mới không có tình trạng sẽ xảy ra giống như ở
Nga sau ngày chế độ Liên Xô bị sụp đổ. Và quan trọng hơn cả là nó phù hợp với
bản chất của dân chủ mà chúng ta đang tranh đấu. Nó cũng rất phù hợp với bốn
đồng thuận cơ bản của Tập hợp Dân chủ Đa nguyên của ông Nguyễn Gia Kiểng:
“đất nước phải được quan niệm như một không gian liên đới và một tương lai
chung, thể chế chính trị cho Việt Nam là dân chủ đa nguyên, tinh thần chỉ đạo
của cố gắng làm lại đất nước là hòa giải và hòa hợp dân tộc, cố gắng phát triển
kinh tế phải đặt trên nền tảng kinh tế thị trường và sáng kiến cá nhân.” [1]
và ba lập trường căn bản của Tập hợp: “đấu tranh thiết lập một thể chế dân
chủ đa nguyên; trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc; bằng những phương
thức bất bạo động.” [2]
*
Điểm cuối cùng tôi muốn góp ý với Nguyễn Gia Kiểng về “Phải thẳng thắn: cuộc
đấu tranh cho dân chủ sẽ gồm hai giai đoạn: trong giai đoạn đầu, khi mà chính
quyền cộng sản còn đàn áp trắng trợn và thô bạo, cơ quan đầu não và vai trò lãnh
đạo phải đặt ở hải ngoại”. Ông đã đưa ra một đề nghị hợp lí về chiến lược
nhưng lại là cái cớ để gây ra chia rẽ và tranh chấp. Ai hoặc nhóm nào sẽ đóng
vai trò lãnh đạo ở hải ngoại? Làm cách nào để có được một người hoặc nhóm lãnh
đạo như vậy? Ông có biết là sẽ có nhiều vị nhân sĩ không đủ khả năng thành lập
nổi một tổ chức đúng nghĩa sẽ bất mãn với ông và Tập hợp của ông không? Bởi vì
nếu có một nhóm lãnh đạo như vậy thì vai trò nhân sĩ của họ sẽ không thể tồn tại
được nữa và những trò luồn lách để tìm giải pháp cá nhân của họ cũng sẽ không
còn môi trường để sống.
Mặc dù vậy tôi vẫn đồng ý với ông về đề nghị chiến lược này. Và chỉ có một cách
khả thi nhất để thể hiện được đề nghị này là tổ chức Tập hợp của ông hãy cố gắng
kết hợp cùng các tổ chức lương thiện khác ở hải ngoại và quốc nội. Mong lắm
thay. Và tương lai của Phong trào dân chủ tùy thuộc vào thiện chí và óc sáng
suốt của các tổ chức lương thiện, trong đó có tổ chức của ông.
Thời điểm của một xét lại bắt
buộc
|