Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Việt Nam Đối mặt với Cuộc chiến Gay go Chống lại Lạm phát |
Những viễn cảnh trung hạn là thuận lợi nếu như Hà Nội xoay sở khôi phục được sự ổn định kinh tế, bài viết của Omkar Shrestha
Sau gần hai thập kỷ phát triển thành công, nền kinh tế Việt Nam đang bị tàn phá bởi nạn lạm phát và bất ổn kinh tế vĩ mô chưa từng có. Tình trạng này đã diễn biến ra sao và biện pháp nào là có thể sử dụng để đối phó với nó?
Những thành công của Việt Nam đã được minh chứng rõ ràng. Mức tăng trưởng sôi sục trong suốt 15 năm qua đã giảm tỉ lệ đói nghèo từ 58% vào năm 1993 xuống còn khoảng 15% vào năm ngoái. Nhờ vào sự ổn định chính trị và quản lý kinh tế vĩ mô thận trọng, nước này cũng đã tìm cách xoay xở quyến rũ được các nhà đầu tư nước ngoài. Mức phê chuẩn đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) đã tăng một cách ấn tượng, đạt 20,3 tỉ Mỹ kim trong năm qua.
Tuy nhiên, mức lạm phát dâng cao gần đây lên tới hai con số có thể sẽ gây lo lắng cho các nhà đầu tư nước ngoài và đe doạ những lợi ích phát triển đã giành được cho tới nay nếu như không được ngăn chặn. Vì vậy đối với Việt Nam, sự lựa chọn là rõ ràng: phải khôi phục sự ổn định kinh tế vĩ mô hơn là cố gắng theo đuổi mức tăng trưởng cao.
Trong lúc nhiều quốc gia trong khu vực cũng đang phải nếm mùi của tỉ lệ lạm phát cao, thì mức độ tăng lên trong trường hợp của Việt Nam là cao một cách dị thường. Chỉ số giá cả tiêu dùng giữa các năm (CPI) đã lên tới một mức độ kỷ lục là 26% vào tháng Sáu. Điều này chủ yếu là vì mức tăng mau lẹ của giá lương thực thực phẩm, nhưng còn mức lạm phát lõi [cơ bản-core inflation] (bao gồm lương thực thực phẩm và nhiên liệu) được ước đoán là đã tăng 15%.
Một trong số những nguyên nhân cho tình trạng lạm phát cao ở Việt Nam có thể được quy cho tác động bên ngoài, song những lý do khác đều do nội tại. Đối với một nền kinh tế mở như Việt Nam, mức gia tăng đột ngột của quốc tế về giá cả lương thực, năng lượng và vật liệu xây dựng quốc tế có một tác động to lớn đối với giá cả nội địa.
Ví dụ, giá xuất khẩu gạo của Việt Nam tăng hơn gấp đôi chỉ trong vòng có ba tháng, khoảng 700 đô la một tấn vào tháng Ba. Điều này đã giúp đẩy giá gạo trong nước cũng lên theo. Giá lương thực thực phẩm cũng bị tác động bất lợi bởi một mùa đông khắc nghiệt, dịch cúm gia cầm và bệnh gia súc. Lạm phát trong giá cả lương thực cũng đã nhanh chóng lan sang các mặt hàng khác. Giá nhà và vật liệu xây dựng tăng lên theo mức tăng không ngừng nhu cầu nhà ở, các khu công nghiệp và thương mại vẫn tiếp tục mạnh mẽ vì kết quả của mức đầu tư cao.
Chế độ tỉ giá hối đoái của Việt Nam, trên thực tế gắn chặt với đồng đô la trong một biên độ hẹp, đã kết hợp với vấn đề lạm phát. Để duy trì khả sự cạnh tranh trong xuất khẩu đòi hỏi rằng các nguồn tiền đầu tư nước ngoài đổ vào năm ngoái phải bị 'khử bớt' để tránh cho tiền đồng VN gia tăng giá trị ( so với đô la). Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) đã mua vào những lượng ngoại tệ lớn từ hệ thống ngân hàng thương mại. Tuy nhiên động thái này không đủ để "khử" những dòng vốn đổ vào nền kinh tế, dẫn tới tình trạng phình lên lượng lớn tiền mặt.
Lượng tiền mặt quá lớn trong hệ thống kết hợp với số lượng các ngân hàng cổ phần được thành lập quá nhanh, đưa đến một kết quả là sự gia tăng đột ngột lượng tiền cho vay từ các ngân hàng trong nước (54% vào năm ngoái so với 29% năm 2006) hầu hết nhắm vào bất động sản và chứng khoán. Một bước đi như vậy đã làm tổn hại tới những thủ tục thẩm định các khoản vay của ngân hàng cũng như mức độ tín nhiệm của chúng.
Theo đó, các dòng tiền mặt không được chặn lại, mức tăng các khoản cho vay trong nước cao một cách bất thường, chính sách tài khoá phình lên, và mức đầu tư công mạnh mẽ là những nguyên nhân nội tại chủ yếu của tình trạng lạm phát cao của Việt Nam.
Những dấu hiệu cho thấy nền kinh tế tăng trưởng quá nóng là hiển nhiên trong tình trạng bị thắt nút cổ chai bởi cơ sở hạ tầng yếu kém (ví như thiếu điện năng ghê gớm, đường sá và bến cảng đông nghẹt), một thị trường lao động căng thẳng - với nguồn lao động lành nghề và bán lành nghề cách xa so với yêu cầu thực tế - và một tình trạng đột ngột lan rộng mức nhập siêu và thiếu hụt thanh khoản thường kỳ. Thâm hụt thương mại trong nửa đầu năm (khoảng 15 tỉ Mỹ kim) đã cao hơn so với cả năm ngoái (12 tỉ), trong khi mức thiếu hụt thanh khoản thường kỳ đang ở mức báo động trong khoảng 10% GDP.
Cho nên, đó là điều gây chút ít ngạc nhiên rằng hối suất giao dịch kỳ hạn trên tiền đồng cho hàng hóa không phải giao ngay tại các thị trường nước ngoài bị sụt giảm đáng kể so với hối suất của hàng hóa giao ngay, nó là chỉ dấu cho thấy tiền đồng đang chịu sức ép mất giá nặng nề. Trong lúc dân chúng phải tìm cách tự vệ để chống lại mức lạm phát tăng cao, thì lại có những dấu hiệu cho thấy tiền mặt đang được chuyển thành vàng.
Dưới những tình cảnh như vậy, kiềm chế lạm phát, khôi phục ổn định kinh tế vĩ mô và thiết kế phương cách để có một cú hạ cánh nhẹ nhàng cho nền kinh tế đã trở thành những nhiệm vụ quan trọng nhất đối với chính phủ Việt Nam.
Để có biện pháp đối phó tích hợp, vào tháng Hai và Ba, chính phủ đã chuyển ưu tiên của mình từ theo đuổi mức tăng trưởng cao sang ổn định kinh tế vĩ mô với một sự điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng từ 8,5-9% xuống 7% cho năm nay. Chính phủ cũng đã loan báo kế hoạch tiếp tục thắt chặt tiền tệ và các chính sách công khố, cắt giảm chi tiêu nhà nước và các dự án đầu tư công với ý định giảm bớt thâm thủng thương mại.
Lãi suất cơ bản đã được tăng ba lần, lên đến 14% vào ngày 11 tháng Sáu. Trần lãi suất cho vay đối với các ngân hàng thương mại được quy định dưới 30% trong năm và mức mà các ngân hàng này được cho vay kinh doanh bất động sản và chứng khoán bị hạn chế chỉ được chiếm 3% trên tổng dư nợ.
Mức dự trữ bắt buộc (khoản tiền ký quỹ mà các ngân hàng nắm giữ dưới dạng tiền mặt dự trữ) đã được nâng đáng kể từ 5% lên 12%, có hiệu lực từ 27 tháng Sáu. Các ngân hàng được yêu cầu mua trái phiếu của ngân hàng trung ương trong một động thái nhằm thu gom tiền mặt từ hệ thống ngân hàng.
Bằng cách duy trì tính linh hoạt trong tỉ giá hối đoái, biên độ trao đổi đô la/đồng hàng ngày đã được nâng lên gấp đôi với +/- 2% so với hối suất chính thức phổ biến.
Bằng biện pháp hành chính, giá cả của một số mặt hàng và dịch vụ thiết yếu đã được giữ ổn định kéo dài cho tới cuối năm.
Nhờ vào tất cả các giải pháp này, đã có một số dấu hiệu cho thấy lạm phát đang giảm nhẹ. Những biện pháp kiểm soát tín dụng và cắt giảm các dự án đầu tư cũng đã làm cho mức nhập khẩu giảm, giúp giảm thâm hụt thương mại từ gần 3 tỉ Mỹ kim vào tháng Năm xuống 1,3 tỉ vào tháng trước.
Thế nhưng những quan ngại vẫn còn lại về việc liệu các giải pháp này có đủ để kéo lạm phát xuống một mức độ có thể kiểm soát được hay không. Ví dụ, số lượng trái phiếu bán ra của SBV đã không đủ để làm chậm đà tăng trưởng tín dụng. Bởi vậy có thể có một nhu cầu cần tăng lãi suất lên hơn nữa.
Xét trên thực tế, việc hối suất luôn bị trói chặt đã hạn chế khả năng kiểm soát tiền tệ của ngân hàng trung ương, một biên độ lớn tỉ giá hối đoán có tính mềm dẻo (với việc chiếu cố đến tính cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu) có thể là một chọn lựa để cải thiện hiệu quả của chính sách lưu thông tiền tệ và làm vô hiệu hóa ảnh hưởng của lạm phát do dòng vốn tư bản đổ vào. Về khía cạnh tài chính, việc cắt giảm hơn nữa các dự án đầu tư công (không kể những loại dự án công đã được đình chỉ và đã được chính phủ loan báo) có thể là cần thiết. Những dự án đầu tư ngoài ngân sách cũng cần phải được. Và tiền vốn tư bản trong danh mục đầu tư đổ vào và các giao dịch liên ngân hàng có thể cần được giám sát chặt chẽ.
Sự phô bày viễn cảnh trung hạn tốt lành đối với các thị trường trên toàn cầu đã làm rắc rối một cách không tránh được cho việc quản lý kinh tế vĩ mô của Việt Nam. Dù cho các chính sách tiền tệ và tài chính được thắt chặt hơn, nạn lạm phát năm nay chắc rằng vẫn còn ở mức cao. Trong khi có thể chậm lại vào năm sau, nó sẽ vẫn ở mức hai con số. Như vậy viễn cảnh kinh tế ngay lúc này là không ổn định.
Tuy nhiên, các dòng chảy FDI lành mạnh trong quý đầu năm nay và lượng tiền gửi không suy giảm (ước đạt khoảng 8 tỉ Mỹ kim năm nay) là nằm trong những tín hiệu cho thấy các nhà đầu tư đang tỏ dấu hiệu tin tưởng ở các chính sách kiềm chế lạm phát của chính phủ.
Nếu như những chính sách này được thi hành một cách cương quyết, và nhu cầu gây sức ép và tình trạng lạm phát được kiểm soát, thì những triển vọng của Việt Nam cho tăng trưởng bền vững trong trung hạn sẽ vẫn còn thuận lợi.
Tác giả của bài báo hiện là thành viên nghiên cứu
dự thính cao cấp của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á. Các quan điểm trong bài báo này
là những quan sát của riêng ông. Bài này được đăng tải lần đầu tiên trên tờ
Business (của Singapore) ngày 25 tháng Bảy.
Hiệu đính:
Blogger Trần Hoàng
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008
Bangkok Post
Vietnam faces tough inflation fight
Medium-term prospects are good if Hanoi manages
to restore economic stability, writes Omkar Shrestha
Saturday July 26, 2008
After almost two decades of successful development, Vietnam's economy is being
ravaged by inflation and macroeconomic instability as never before. How did this
happen and what remedies are available to deal with it?
The country's successes are well documented. Vietnam's sizzling growth over the past 15 years has brought its poverty rate down from 58% in 1993 to around 15% last year. Thanks to political stability and prudent macroeconomic management, it has also managed to lure foreign investors. Foreign direct investment (FDI) approvals have increased impressively, reaching US$20.3 billion last year.
However, the recent surge in inflation to double-digit levels could unsettle foreign investors and threaten the development gains made to date if not contained. Thus for Vietnam, the choice is clear: it should restore macroeconomic stability rather than try to pursue high growth.
While many countries in the region are also experiencing high inflation rates, the increase has been abnormally high in the case of Vietnam. The year-on-year consumer price index (CPI) reached a record 26% in June. This was mainly due to the rapid rise in food prices, but even core inflation (which excludes food and fuel) is estimated to have increased 15%.
Some of the causes of Vietnam's high inflation are externally induced, but others are home-made. For an open economy such as Vietnam, dramatic increases in the international prices of food, fuel and construction materials have a large impact on domestic prices.
For instance, the export price of Vietnamese rice more than doubled within just three months, to around $700 per tonne in March. This helped to push domestic rice prices upwards as well. Food prices were also adversely affected by a severe winter, avian flu and livestock diseases. Food inflation quickly permeated into non-food areas as well. The prices of housing and construction materials increased as demand for houses, industrial and commercial complexes remained strong as a result of high investment.
Vietnam's exchange rate system, which is a de facto peg to the US dollar within a narrow band, compounded the inflationary problem. Preserving export competitiveness required that the booming foreign investment inflows last year be ''sterilised'' to prevent dong appreciation. Accordingly, the State Bank of Vietnam (SBV) purchased large amounts of foreign currency from the banking system. The move, however, was not enough to fully sterilise the liquidity inflows to the economy, leading to large monetary expansion.
The excess liquidity in the system combined with the rapid expansion of the joint stock banks, resulting in a sharp acceleration in domestic credit (by 54% last year compared to 29% in 2006) mostly to the real estate and securities sectors. Such a pace compromised banks' loan appraisal procedures as well as their credit quality.
Thus, the unsterilised liquidity inflows, unusually high domestic credit growth, expansionary fiscal policy, and aggressive public investment were the principal home-made causes of Vietnam's high inflation.
The signs of overheating of the economy are evident in infrastructure bottlenecks (such as severe electricity shortage and congested roads and ports), a tight labour market _ with skilled and semi-skilled labour supply falling far behind demand _ and a sharp widening of the trade and current account deficit. The trade deficit in the first half (around $15 billion) was already higher than for the whole of last year ($12 billion), while the current account deficit is running at an alarming level of around 10% of GDP.
It is little surprise, therefore, that the non-deliverable forward rate of the dong in offshore markets is considerably more depreciated than the official spot rate, indicating that the dong is under heavy downward pressure. As people hedge against high inflation, there are indications of liquidity being converted into gold.
Under such circumstances, curbing inflation, restoring macroeconomic stability and engineering a soft landing of the economy have become the most important tasks facing Vietnam's government.
Government response Appropriately, the government in February and March switched its priority from pursuing high growth to macroeconomic stability with a downward adjustment of growth target from 8.5-9% to 7% for this year. The government also announced its plan to pursue tight monetary and fiscal policies, cutting back state expenditures and public investment projects with a view to reducing trade deficits.
The prime interest rate has been raised three times to reach 14% on June 11. The credit growth ceiling for the commercial banks has been set at below 30% for the year and their credit for real estate and stocks has been restricted to 3% of their total loans outstanding.
The reserve requirement ratio (the proportion of deposits banks hold in the form of cash reserves) has been increased significantly from 5% to 12% effective from June 27. Banks have been required to purchase central bank bills worth about $1.3 billion in a move to mop up cash from the banking system.
By way of maintaining exchange rate flexibility, the daily US dollar/dong trading band has been doubled to plus or minus two percent from the prevailing official rate.
Administratively, the price freeze on several essential goods and services has been extended to the end of the year.
Thanks to all of these measures, there are some signs of inflation easing. The credit controls and cuts in investment projects have also brought imports down, helping to reduce the trade deficit from nearly $3 billion in May to $1.3 billion last month.
But concerns remain about whether these measures will be enough to bring inflation to a manageable level. For instance, sales of SBV bills have been insufficient to slow credit growth. There may therefore be a need for further interest rate hikes.
Considering that the pegged exchange rate has limited the central bank's degree of monetary management, a greater degree of exchange-rate flexibility (with due consideration for export competitiveness) could be an option to improve the effectiveness of monetary policy and neutralise the inflationary impact of capital inflows. On the fiscal side, more cuts in public investment projects (on top of those already announced) may be needed. Off-budget investment projects also need to be reined in. And portfolio capital flows and interbank transactions may need to be closely monitored.
Good mid-term outlook Exposure to global markets has inevitably complicated Vietnam's macroeconomic management. Notwithstanding tighter monetary and fiscal policies, inflation this year is expected to remain high. While it may slow next year, it will still be at double-digit levels. Thus the immediate economic outlook is volatile.
However, healthy FDI inflows during the first quarter of this year and unabated inflows of remittances (expected to reach around $8 billion this year) are among the signs that investors are giving the government's anti-inflationary policies the thumbs up.
If these policies are strongly enforced, and demand pressures and inflation brought under control, Vietnam's prospects for sustained growth in the medium term will remain good.
The author is visiting senior research fellow at the Institute of Southeast Asian Studies. The views in this article are his personal observations. This story was first published in Business Times (Singapore) on July 25.