Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Huyền thoại về một nhà nước tự tiêu vong |
Mai Thái Lĩnh (www.talawas.de )
(Chuyên đề “Con đường Xã hội-Dân chủ: Tìm hiểu hai trường phái của chủ nghĩa xã hội”)
Gần đây, một số trí thức
trong và ngoài nước (như Phan Đình Diệu, Lê Đăng Doanh, Lữ Phương, Nguyễn
Xuân Nghĩa, Hà Sĩ Phu,…) có gợi ý đến con đường Xã hội-Dân chủ, hay Dân
chủ-Xã hội (Social Democracy) như một lối ra cho đất nước ta trong hoàn cảnh
cụ thể hiện nay
[1] .
Một số độc giả có ý muốn tìm hiểu thêm về con đường này. Do hoàn cảnh lịch
sử đặc biệt, việc truyền bá chủ nghĩa Mác vào nước ta từ những năm 20 của
thế kỷ trước hầu như chỉ thông qua một kênh thông tin duy nhất – Đảng cộng
sản; do đó trong suy nghĩ chung của người Việt Nam thuộc mọi phe phái, mỗi
khi nói đến chủ nghĩa xã hội là người ta nghĩ ngay đến trào lưu cộng sản,
đến chủ nghĩa Marx-Lenin. Sự hiểu biết về trào lưu xã hội-dân chủ có thể nói
là con số không.
Để bổ khuyết cho sự thiếu sót này, chúng tôi đang cố gắng tìm tòi những tư
liệu khả dĩ giúp cho bạn đọc có được sự hiểu biết đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã
hội nói chung (bao gồm tất cả các trào lưu tư tưởng, nhất là hai trào lưu
chính: Xã hội–Dân chủ và Cộng sản), khắc phục sự thiếu sót, thiên lệch do
các nhà mác-xít giáo điều gây ra.
Trong số những tác phẩm chúng tôi tìm được, có tập sách nhỏ nhan đề Huyền
thoại về một Nhà nước tự tiêu vong (Bàn về lý thuyết nhà nước của Karl
Marx), do ông Mai Thái Lĩnh viết trong những năm 2000-2001. Đây là một tập
bản thảo chưa xuất bản, được chuyền tay nhau trong các nhà dân chủ ở Hà Nội
và Sài Gòn. Vì cuốn sách mang tính học thuật, nghiên cứu đến tận gốc rễ lý
thuyết về nhà nước của Karl Marx; cho nên chúng tôi chỉ chọn lọc, trích lại
một số chương có liên quan đến trào lưu xã hội–dân chủ, có phần tóm tắt luận
điểm chính của tác giả để người đọc dễ theo dõi.
Chúng tôi cũng xin thành thật cảm ơn tác giả Mai Thái Lĩnh và các bạn bè của
tác giả đã giúp đỡ chúng tôi trong việc biên tập, trình bày chuyên đề này.
Phan Trọng Hùng
3-8-2005
Giới thiệu vài nét về
tác giả
Mai Thái Lĩnh (tức Hoàng Thái Lĩnh)
Sinh năm 1946 tại Lâm Đồng
Cử nhân giáo khoa Triết học tại Đại học Đà Lạt (1969) - Tốt nghiệp lớp giáo
viên chính trị cấp III tại Trường Nguyễn Ái Quốc IX (1979) – Đại học Sư phạm
môn Chính trị (1987)
|
1970: |
Dạy Triết học tại Đại học Đà Lạt |
|
1971: |
Tham gia phong trào trí thức – sinh viên học sinh |
|
1973: |
Thoát ly ra chiến khu (Núi Voi – nam Đà Lạt) |
|
1975 – 1988: |
Phó hiệu trưởng trường Trung học Thăng Long - Đà Lạt |
|
1988: |
Từ chức, chuyển về dạy học tại Trường Trung học Sư phạm Lâm Đồng |
|
1989 – 1994: |
Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Nhân dân TP Đà Lạt |
|
Từ 1995: |
Nghỉ hưu. |
|
|
|
|
5/2000 – 1/2001: |
bị quản thúc tại gia để điều tra về tội “phản bội Tổ quốc”, cùng với Hà Sĩ Phu. |
|
|
|
|
1987 – 1995: |
Tham gia viết báo trên các diễn đàn: Langbian (bộ cũ), Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Lao Động, Kiến thức Ngày nay, … |
*
Trích lời giới thiệu của Hà Sĩ Phu
… Marx định nghĩa nhà nước là “bạo lực có tổ chức của một giai cấp nhằm để
trấn áp một giai cấp khác”. Nguồn gốc sâu xa của nhà nước là chế độ tư hữu
về tư liệu sản xuất. Theo ông, nhà nước ra đời biểu hiện một sự tha hoá của
xã hội. Vì vậy, trong tương lai, khi chế độ tư hữu bị xoá bỏ thì nhà nước
tất yếu tự tiêu vong theo.
Quan niệm “chuyên chính vô sản” bắt nguồn từ đó: để thiết lập chế độ cộng
sản, trước tiên người mác-xít phải tìm cách chiếm lấy bộ máy nhà nước cũ,
đập tan bộ máy đó để thiết lập chuyên chính vô sản nhằm tập trung tư liệu
sản xuất lại. Sau đó sẽ bắt đầu quá trình nhà-nước-tự-tiêu-vong, tiến đến
một xã hội hoàn toàn tự-quản.
Quan niệm “chuyên chính vô sản” chứa đựng những nghịch lý không thể giải
quyết được. Do đó ngay từ đầu, nhiều người xã hội chủ nghĩa đã bác bỏ, không
chịu áp dụng nó. Ngoài những nhà xã hội chủ nghĩa phi–mác-xít (như phái
Fabians ở Anh), trong số các nhà mác-xít, cũng có người phản đối quan niệm
đó, trước hết là Eduard Bernstein (1850-1932) - thường được coi là cha đẻ
của chủ nghĩa xét lại. Mặc dù những luận điểm của Bernstein bị chính thức
lên án ngay từ khi được công bố vào cuối thập niên 1890, song ảnh hưởng của
nó trong phong trào công nhân vẫn ngày càng sâu rộng. Cho đến trước cuộc
chiến tranh thế giới lần I (1914-1918), hầu hết các lãnh tụ mác-xít ở châu
Âu đều chịu ảnh hưởng ít nhiều của “Chủ nghĩa xét lại “. Quan niệm chuyên
chính vô sản dần dần mất sức sống ngay trên mảnh đất nó sinh ra.
Việc tán thành hay không tán thành chuyên chính vô sản rốt cuộc đã trở thành
“hòn đá thử vàng” để phân biệt hai trường phái của chủ nghĩa xã hội: phái
cải cách (thường được gọi là xã hội-dân chủ) từ bỏ chuyên chính vô sản,
còn phái cách mạng (thường được gọi là cộng sản) kiên quyết thực hiện
chuyên chính vô sản. Lenin, lãnh tụ tiêu biểu của phái cách mạng, đã thành
công trong việc cướp chính quyền, thiết lập chuyên chính vô sản ở nước Nga.
Ông thành lập Quốc tế III (Quốc tế cộng sản) tách khỏi Quốc tế II (Quốc tế
xã hội chủ nghĩa). Kế tục ông, Stalin và Mao Trạch Đông đã mở rộng chuyên
chính vô sản thành hệ thống thế giới.
Sự sụp đổ của chế độ cộng sản trên toàn thế giới chứng minh tính chất sai
lầm của quan niệm chuyên chính vô sản và làm bộc lộ sự sai lầm của lý thuyết
nhà nước của Karl Marx. Trong 3 chương cuối của tập sách, tác giả Mai Thái
Lĩnh đã phê phán quan niệm của Marx về nhà nước, đồng thời đề nghị một định
nghĩa đúng đắn, hợp lý hơn về nhà nước: nhà nước là quyền lực công cộng,
là nhà nước của toàn dân.
Cũng qua các chương này, tác giả đã so sánh hai con đường: con đường cộng
sản và con đường xã hội-dân chủ. Một con đường từ chối những giá trị dân
chủ, dẫn đến một chế độ dân chủ hình thức, giả hiệu; còn con đường kia chấp
nhận các giá trị dân chủ, từng bước cải biến chế độ dân chủ “tư sản” thành
chế độ dân chủ của toàn dân.
Có thể coi con đường xã hội-dân chủ mà các nhà dân chủ trong nước đang hướng
tới chính là con đường từ bỏ những sai lầm trong việc áp dụng chuyên
chính vô sản để trở lại với các giá trị dân chủ chung của nhân loại mà
lâu nay các nhà mác-xít giáo điều và các nhà Đông phương học bài ngoại
thường gọi là “các giá trị phương Tây”. Vận dụng các giá trị này để thiết
lập một chế độ dân chủ thật sự ở nước ta, thiết nghĩ đó là sứ mạng của những
người yêu nước-yêu dân chủ hiện nay.
*
Chương IX
Phê phán quan niệm của Marx về nhà nước
Khi Lenin đem quan niệm chuyên chính vô sản áp dụng vào thực tế, ông
đã mở đường cho sự hình thành của một chế độ chuyên chính lớn mạnh nhất
trong lịch sử hiện đại - nếu xét về quy mô và thời gian tồn tại của nó. Đế
quốc “cộng sản” bành trướng từ phía đông châu Âu đến nhiều châu lục khác, đã
từng là một thách đố lớn lao đối với nền dân chủ, là chỗ dựa vững chắc cho
những chế độ chuyên chính dưới nhiều hình thức khác nhau, từ những chế độ
thần quyền Hồi giáo cực đoan ở Trung Đông cho đến những chế độ chuyên chế
được hình thành từ chế độ bộ lạc ở châu Phi. Khái niệm “dân chủ vô sản”
do Lenin sáng tạo ra lúc đầu chỉ nhằm để biện minh cho việc áp dụng quan
niệm chuyên chính vô sản, về sau trở thành lớp áo nguỵ trang, che đậy bản
chất độc tài, phản dân chủ của chế độ chuyên chính vô sản.
Mặc dù thành công xét theo một phương diện nào đó, việc áp dụng quan niệm
chuyên chính vô sản vào thực tế lại chứng minh tính chất sai lầm của nó,
do chỗ những kết quả trong thực tế hoàn toàn ngược lại với những dự kiến về
mặt lý luận. Chuyên chính vô sản không thể đem lại một nền dân chủ thật sự,
lại càng không thể dẫn đến một nhà nước tự triệt tiêu. Những người mác-xít
xét lại - bằng trực giác - đã thấy được tính chất sai lầm của quan niệm
chuyên chính vô sản, vì vậy họ từ chối áp dụng quan niệm đó và tìm cách
gắn liền chủ nghĩa xã hội với những giá trị dân chủ. Mặc dù vậy, do nhiều lý
do khác nhau, họ đã không truy tìm nguồn gốc của sai lầm để phê phán tận gốc
quan niệm đó về phương diện lý thuyết.
Một sự phê phán triệt để đối với quan niệm chuyên chính vô sản đòi
hỏi chúng ta tìm nguyên nhân ngay trong quan niệm của Marx về nhà nước nói
chung, kể cả nền tảng triết học của nó - tức là chủ nghĩa duy vật lịch sử
:
Trước hết, sự tiêu vong của nhà nước là một giả thuyết, nói
đúng hơn là một dự đoán, một lời tiên tri của Marx và Engels.
Nhưng cho đến nay, hơn một thế kỷ rưỡi sau khi Marx và Engels công bố “Tuyên
ngôn của Đảng cộng sản”, không có dấu hiệu gì chứng minh cho sự tiêu vong
của nhà nước, ngược lại có nhiều bằng chứng cho thấy nhà nước sẽ tồn tại
lâu dài cùng với nhân loại:
Theo lý thuyết, một khi giai cấp bóc lột bị trấn áp, chế độ tư hữu bị xoá bỏ
thì lúc đó nhà nước có đủ điều kiện để bắt đầu quá trình tự tiêu vong.
Nhưng trong thực tế, ở Liên Xô và các nước dựa theo mô hình của Lenin, khi
các giai cấp bóc lột bị tiêu diệt, chế độ công hữu về tư liệu sản xuất được
xác lập, thì nhà nước không bắt đầu tự tiêu vong mà ngược lại, bắt đầu tự
bành trướng. Nhà nước ở tất cả các nước đó, không trừ một nước nào, đều cồng
kềnh, kém hiệu lực và quan liêu hơn rất nhiều so với các nước “tư bản chủ
nghĩa”. Điều đó chứng tỏ rằng: việc tập trung tư liệu sản xuất vào trong tay
nhà nước và điều hành một nền kinh tế tập trung chỉ huy thay vì làm giảm,
lại làm tăng thêm quy mô của bộ máy nhà nước. Do chỗ nhà nước không mất đi
như đã dự đoán, vì thế ngoài việc quản lý người, nhà nước vô sản còn phải
quản lý vật và chỉ đạo quá trình sản xuất, từ đó nhà nước buộc phải bành
trướng thêm.
Như vậy, chế độ công hữu về tư liệu sản xuất không đem lại sự tiêu vong của
nhà nước, mà ngược lại, còn tạo ra một nhà nước tập quyền kiểu mới.
Nhà nước tập quyền kiểu mới này có những nét tương tự như nhà nước quân chủ
phương Đông thời trung cổ, nhưng lại được hiện đại hoá: có quân đội thường
trực và bộ máy công an hùng hậu, được trang bị những phươngtiện thông tin
đại chúng hiện đại và nắm trong tay một khu vực kinh tế quốc doanh rộng lớn.
Ở tất cả các nước trên thế giới, chúng ta đều thấy bộ máy hành chính ngày
càng chuyên môn hoá và tách rời khỏi xã hội. Xã hội có thể tìm
cách khống chế nó, tham gia làm chủ nó, chứ không thể hoà tan nó vào xã hội
hoặc làm cho nó biến mất được.
Ở các nước tiên tiến thường được gọi là “tư bản chủ nghĩa”, bộ máy hành
chính dần dần trở thành một bộ máy chuyên môn hoá, phi chính trị, bị kiểm
soát bởi các cơ quan dân cử, các phương tiện thông tin đại chúng (mass
media), các tổ chức quần chúng phi-chính phủ, các đảng chính trị đối lập,
v.v… Trong các nước theo mô hình mác-xít lê-nin-nít, nhà nước tìm cách hoà
tan vào xã hội, nhưng không phải theo hướng tạo ra một chế độ tự quản của
nhân dân như Marx đã hình dung mà lại theo hướng bao trùm, khống chế mọi
sinh hoạt xã hội, nói cách khác là nhà-nước-hoá xã hội chứ không phải
xã-hội-hoá nhà nước. Như vậy, phải chăng việc nhà nước hình thành như
một tổ chức tách rời với xã hội là một xu hướng tất yếu, khi cộng đồng xã
hội đã phát triển đến một quy mô nhất định và một trình độ nhất định, vượt
quá phạm vi của quan hệ thị tộc? Việc Marx coi sự tách rời của nhà nước ra
khỏi xã hội như một sự tha hoá và mơ ước xoá bỏ sự tha hoá đó để hoà tan nhà
nước vào xã hội phải chăng chỉ là một ý tưởng thuần tuý xa rời thực tế, một
sản phẩm của trí tưởng tượng?
Một cách lô-gích, chúng ta có thể tin rằng nhà nước sẽ không biến mất mà tồn
tại mãi mãi cùng với xã hội loài người.
Về chuyên chính vô sản, như trên đã cho thấy, khái niệm này khi đưa
vào áp dụng thực tế đã trở thành một chế độ phi dân chủ. Vấn đề đặt ra là
tại sao chuyên chính vô sản lại tạo ra kết quả ngược như vậy?
Nguyên nhân chủ yếu là do tính chất ảo tưởng của giả thuyết “nhà nước tự
tiêu vong”. Sau khi đã đập tan, phá huỷ bộ máy nhà nước cũ, trên cái khoảng
trống quyền lực ấy, Lenin không thể xây dựng một nhà nước kiểu mới, một chế
độ dân chủ trực tiếp theo kiểu nguyên thuỷ của thời kỳ nhân loại còn đang ở
tuổi ngây thơ, hồn nhiên. Vì vậy, một bộ máy nhà nước theo kiểu cũ dần dần
hình thành trở lại một cách tự phát, nhưng mang hình thức mới. Vì mỗi bộ máy
nhà nước đều có một cơ quan nắm quyền lực thật sự, nên từ trong lòng các
xô-viết, các cơ quan hành pháp lại mọc trở lại, và Hội đồng dân uỷ dần dần
trở thành một chính phủ thật sự. Do xoá bỏ nguyên tắc phân quyền của chế độ
đại nghị, các cơ quan hành pháp trở nên có quyền hành tuyệt đối, các xô-viết
hoặc các tổ chức quần chúng chỉ còn mang tính chất hình thức, họp hành cũng
chỉ để giơ tay biểu quyết những quyết định đã có sẵn từ trước. Và như trên
đã nói, Đảng cộng sản đóng vai trò lãnh đạo, mới là tổ chức có thực quyền
hơn hết. Đảng trở thành một thứ siêu – nhà nước, vượt ra khỏi tầm
kiểm soát của nhân dân.
Nhà nước vô sản cuối cùng cũng trở thành một tổ chức đứng trên, xa lạ, và
đối lập với xã hội. Đảng nắm cả nhà nước lẫn công đoàn cùng các tổ chức
quần chúng khác; do đó chuyên chính vô sản trở thành một chế độ toàn trị
(totalitarianism, totalitarisme) chi phối và can thiệp vào mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội. Chủ nghĩa Marx trở thành hệ tư tưởng chính thống
với tên gọi mới là chủ nghĩa Marx-Lenin, đóng vai trò thống trị trong
đời sống chính trị – văn hoá của quốc gia. Chế độ xô-viết và những chế độ
xây dựng theo hình mẫu của nó về thực chất là chế độ tư tưởng trị,
ý thức hệ trị. Ý thức hệ chính thống nhằm bảo đảm trật tự, kỷ cương
trong xã hội, buộc cả xã hội phải phục tùng kỷ luật của Đảng. Và bởi vì một
chế độ pháp trị về căn bản khác hẳn một chế độ đảng trị, vì kỷ luật của Đảng
không thể thay thế cho pháp luật của quốc gia cho nên xét đến cùng, không
một nhà nước cộng sản nào có thể trở thành một nhà nước pháp quyền đúng
nghĩa.
Do những gì đã trình bày trên đây, chúng ta thấy nhà nước, xét về bản chất,
không phải là công cụ đàn áp giai cấp như Marx và Engels đã tưởng.
Vậy thì nhà nước là gì, do đâu có nhà nước?
Năm 1847, trong Hệ tư tưởng Đức, Marx và Engels đã cho rằng nhà nước
sinh ra từ sự phân công lao động xã hội (và gắn liền với nó là chế độ tư
hữu). Năm 1890, trong một lá thư gửi cho Conrad Schmidt, Engels đã giải
thích thêm về điểm này như sau:
Nếu đứng trên quan điểm phân công lao động thì dễ hiểu vấn đề hơn cả. Xã hội tạo ra một số chức năng chung mà nó không thể không cần đến. Những người được đảm nhận những chức năng đó họp thành một ngành mới của phân công lao động trong lòng xã hội. Do đó họ có được những lợi ích riêng, tách rời những lợi ích của những người đã uỷ quyền cho họ; những lợi ích ấy làm cho họ trở thành độc lập đối với những người đã uỷ quyền cho họ - và thế là nhà nước xuất hiện (“Thư gửi Conrad Schmidt” ở Berlin, ngày 27.10.1890, Tuyển tập, VI, tr. 733). [2]
Trong “Lời mở đầu” viết cho lần xuất bản thứ ba bằng tiếng Đức tác phẩm
Nội chiến ở Pháp (năm 1891), Engels viết:
Đặc điểm của nhà nước trước đây là gì? Lúc đầu xã hội, bằng sự phân công đơn giản trong lao động, thiết lập ra những cơ quan đặc thù để bảo vệ những lợi ích chung của mình. Nhưng với thời gian, các cơ quan ấy, mà cơ quan chủ chốt là chính quyền nhà nước, do phục vụ lợi ích riêng của mình, đã từ chỗ là tôi tớ của xã hội biến thành chủ nhân của xã hội (bài đã dẫn, Tuyển tập, VI, tr. 480).
Điều đó có nghĩa là trước khi giai cấp bóc lột thiết lập nên nhà nước, trong
xã hội đã hình thành một số cơ quan đặc thù để bảo vệ lợi ích chung của xã
hội; những cơ quan này phát sinh từ những chức năng cần thiết do sự phân
công lao động của xã hội. Trong Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu
và của nhà nước (1884), Engels trình bày rõ về sự chuyển hoá của những
cơ quan này thành nhà nước như sau:
Những cuộc chiến tranh cướp bóc làm tăng thêm quyền lực của thủ lĩnh quân sự tối cao cũng như quyền lực của các thủ lĩnh quân sự dưới quyền người đó; tập quán lựa chọn những người kế thừa các thủ lĩnh đó trong cùng một gia đình, dần dần trở thành, - đặc biệt là từ lúc có chế độ phụ quyền, - một sự kế thừa cha truyền con nối, mà lúc đầu, người ta dung thứ; nhưng về sau người ta đòi hỏi và cuối cùng người ta tiếm đoạt; cơ sở của vương quyền cha truyền con nối và của quý tộc cha truyền con nối đã được xác lập. Như vậy là những cơ quan của thể chế thị tộc [3] đã dần dần tách khỏi cái gốc rễ của chúng trong nhân dân, trong thị tộc, bào tộc, bộ lạc; và toàn bộ thể chế thị tộc chuyển hoá thành cái đối lập với nó; từ chỗ là một tổ chức của bộ lạc nhằm giải quyết một cách tự do công việc của mình, thể chế thị tộc đã trở thành một tổ chức để cướp bóc và áp bức láng giềng; và do đó, các cơ quan của nó, lúc đầu là công cụ của ý chí của nhân dân, đã trở thành những cơ quan độc lập nhằm thống trị và áp bức chính ngay nhân dân (Tuyển tập, VI, tr. 252).
Nhà nước sinh ra chính từ cái mà Engels gọi là thể chế thị tộc
(constitution gentilice), bao gồm “những cơ quan đặc thù để bảo vệ những
lợi ích chung”của xã hội như: thủ lĩnh quân sự (rex, basileus, thiudans),
hội đồng, đại hội nhân dân (sđd, tr.251). Như vậy, nhà nước trước hết là
công cụ để bảo vệ lợi ích chung của xã hội. Trong quá trình phát
triển của lịch sử, có khi là một giai cấp, có khi là một tập đoàn xã hội, có
khi là một dòng họ hoặc một cá nhân đã chiếm lấy nhà nước làm của riêng,
nhưng nhà nước mang tính giai cấp chỉ là hiện tượng, là sự thoái hoá
của nhà nước. Xét về bản chất, nhà nước chính là nhà nước công cộng; và ngay
cả trong những thời kỳ bị rơi vào tay một giai cấp, một tập đoàn xã hội hay
một dòng họ, nhà nước vẫn không thể không đảm nhiệm chức năng công cộng đó.
Xét cho cùng, những nhược điểm, sai lầm trong lý thuyết về nhà nước của Marx
bắt nguồn từ chủ nghĩa duy vật lịch sử: đặt nặng yếu tố kinh tế, xem nhẹ yếu
tố chính trị. Vào cuối đời, trước những sự phê phán, Engels đã tự bào chữa
về nhược điểm này. Trong khi vẫn xác định nhân tố kinh tế, xét đến cùng, là
nhân tố quyết định, ông viết:
Mác và tôi, một phần nào, phải chịu trách nhiệm về việc những anh em trẻ đôi khi nhấn mạnh quá mức vào mặt kinh tế. Đối với kẻ thù, chúng tôi phải nhấn mạnh nguyên lý chủ yếu mà họ phủ nhận, và chúng tôi cũng ít khi có thì giờ, có địa điểm và cơ hội để mang lại một vị trí xứng đáng cho những nhân tố khác tham gia vào sự tác động qua lại ấy (“Thư gửi Joseph Bloch” ngày 21.9.1890, Tuyển tập, VI, tr.729).
Đối với nhân tố chính trị, Engels thừa nhận rằng nhà nước có tính độc lập
tương đối của nó. Tính độc lập tương đối của nhà nước thể hiện ở những
tác động ngược lại của nó đối với sản xuất:
Tác động ngược lại của quyền lực nhà nước đối với sự phát triển kinh tế có thể có ba loại: nó có thể tác động theo cùng một hướng với sự phát triển kinh tế; lúc đó, sự phát triển kinh tế sẽ nhanh hơn; nó có thể đi ngược lại hướng phát triển kinh tế, và trong trường hợp đó thì ngày nay, ở các dân tộc lớn, nó sẽ tan vỡ sau một thời gian nhất định; hay là nó có thể ngăn cản một vài xu hướng phát triển nào đấy của nền kinh tế và quy định những hướng phát triển khác. Trường hợp này rốt cuộc rồi cũng dẫn đến một trong hai trường hợp trên. Nhưng rõ ràng là trong trường hợp thứ hai và thứ ba, quyền lực chính trị có thể gây tác hại lớn cho sự phát triển kinh tế và gây ra sự lãng phí to lớn về sức lực và vật liệu (Engels, “Thư gửi Conrad Schmidt” ở Berlin, 27.10.1890; Tuyển tập, VI, tr. 734-735).
Vấn đề không phải chỉ dừng lại ở đó. Chúng ta hãy lấy nhà nước ở phương Đông
(như ở Trung Quốc chẳng hạn) làm ví dụ. Ngay từ thế kỷ thứ 3 trước công
nguyên, chế độ phong kiến của triều Đông Chu đã nhường chỗ cho một nhà
nước quân chủ tập trung dưới quyền của Tần Thuỷ Hoàng. Kể từ đó, nhà
nước quân chủ tập trung trở thành kiểu mẫu của tất cả các triều đại ở Trung
Quốc.
Nhưng đẳng cấp quý tộc, chỗ dựa của nhà nước quân chủ tập trung ở
Trung Quốc, lại không giống với giai cấp quý tộc phong kiến ở châu Âu. Quyền
sở hữu về đất đai ở Trung Quốc hoàn toàn nằm trong tay hoàng đế. Giai cấp
địa chủ chủ yếu là các quan lại được nhà vua bổ nhiệm, và ruộng đất được nhà
vua ban phát cho họ kèm theo sự bổ nhiệm đó; nếu bị mất chức, họ sẽ bị tước
đoạt quyền sở hữu ruộng đất. Các địa chủ không phải là quan lại đóng vai trò
rất khiêm tốn trong đời sống kinh tế và chính trị. Các lãnh chúa, chư hầu đã
tiêu vong dần cùng với chế độ phong kiến; số còn lại rất ít ỏi, và bị nhà
vua kiểm soát chặt chẽ để tránh sự thoán đoạt ngôi vua. Chế độ tuyển cử và
đào tạo quan lại mở cửa cho nhân tài từ mọi tầng lớp, giai cấp trong dân cư,
kể cả con cái của nông dân hay dân nghèo ở thành thị. Kẻ sĩ được coi
như một nghề xếp hàng đầu trong xã hội, đứng trên các nghề khác như: nông
nghiệp, công nghiệp và thương nghiệp (sĩ, nông, công,thương). Người đi học
cốt để ra làm quan, và làm quan (tức là nắm quyền lực chính trị) tất
nhiên sẽ có mọi thứ khác, kể cả của cải. Đẳng cấp quý tộc ở Trung Quốc vì
vậy dựa trên quyền lực chính trị là chính, chứ không phải dựa trên quyền tư
hữu về đất đai như lập luận của chủ nghĩa Marx.
Lịch sử Trung Quốc qua các triều đại sau đó cho thấy quyền lực chính trị
trong thực tế được cân bằng giữa dòng họ nhà vua và giới quý tộc
(hoàng quyền và tướng quyền)
[4] . Nhà nước ở Trung Quốc vì thế mặc dù gần gũi với giai
cấp địa chủ, nhưng không thể gọi đó là nhà nước của giai cấp địa chủ. Nhà
nước quân chủ tập quyền ở Trung Quốc gắn bó chủ yếu với đẳng cấp quý
tộc-quan lại, dựa trên yếu tố chính trị là chính; cho nên có thể nói nó
độc lập, đứng trên mọi giai cấp. Hơn thế nữa, chính sách của các triều đại
quân chủ ở Trung Quốc luôn luôn là trọng nông nghiệp, ức chế công và thương
nghiệp, đồng thời tìm cách điều hoà giữa các giai cấp trong xã hội,tránh sự
chênh lệch giàu nghèo để đề phòng biến loạn, mưu tìm sự ổn định chính trị.
Chính vì vậy mà chế độ đó đã tồn tại và ổn định trong gần hai ngàn năm, mặc
dù kinh tế không có sự phát triển vượt bậc. Kinh nghiệm của Trung Quốc và
nhiều nước phương Đông khác cho thấy tác động to lớn của chính trị đối với
kinh tế, nếu không muốn nói là quyết định. Cho nên không thể dùng cái nhìn
duy vật lịch sử để giải thích lịch sử Trung Quốc.
Chính Marx và Engels cũng đã hé thấy điều này khi nghiên cứu trường hợp của
Ấn Độ và các nước phương Đông. Khi nghiên cứu về trường hợp của Ấn Độ, Marx
đã phát hiện ra tính chất đặc biệt của chế độ công xã nông thôn:
Cả hai tình hình đó – một mặt, nhân dân Ấn Độ, giống như nhân dân tất cả các nước phương Đông, giao cho chính phủ trung ương trông nom những công trình công cộng lớn, những công trình này là điều kiện cơ bản của nền nông nghiệp và thương nghiệp của họ, mặt khác, nhân dân Ấn Độ, rải rác trên khắp lãnh thổ của đất nước, sống tập trung trong những trung tâm nhỏ bé nhờ vào mối liên hệ có tính chất gia trưởng giữa lao động nông nghiệp và lao động thủ công nghiệp, - cả hai tình hình đó, từ những thời kỳ xa xưa nhất, đã đẻ ra một chế độ xã hội đặc biệt gọi là chế độ công xã nông thôn, chế độ này đã đem lại cho mỗi đơn vị nhỏ bé đó cái tổ chức độc lập của nó và cuộc sống biệt lập của nó (Sự thống trị của Anh ở Ấn Độ, Tuyển tập, II, tr. 556-557).
Đáng tiếc là thay vì tìm hiểu tác động của chính trị và tôn giáo đối với sự
phát triển kinh tế của Ấn Độ, do thành kiến của chủ nghĩa duy vật lịch sử,
Marx đã giải thích rằng “những công xã nông thôn” ấy “bao giờ cũng vẫn là cơ
sở bền vững của chế độ chuyên chế phương Đông” (sđd, tr. 559). Tại sao không
giải thích ngược lại rằng chính chế độ chuyên chế đã duy trì chế độ công xã
nông thôn ấy?
Và cả Engels nữa, trong Chống Dühring, cũng phạm phải sai lầm tương
tự. Ông nhận xét về các công xã nguyên thuỷ thời cổ như sau:
Các công xã cổ, ở nơi nào chúng vẫn tiếp tục tồn tại, thì từ hàng nghìn năm nay đều cấu thành cái cơ sở của hình thức nhà nước thô sơ nhất, tức là chế độ chuyên chế phương Đông, từ Ấn Độ cho đến nước Nga. Chỉ nơi nào mà các công xã đó đã tan rã, thì các dân tộc mới tự mình tiến lên xa hơn nữa, và sự tiến bộ đầu tiên của họ về kinh tế là ở chỗ nâng cao và phát triển sản xuất hơn nữa bằng lao động nô lệ (Tuyển tập, V, tr.257).
Vấn đề đặt ra là: tại sao công xã ở nông thôn ở phương Đông không tan rã
hoàn toàn? Trên toàn thế giới, chỉ có ở vài nơi như Hy Lạp (và sau đó là La
Mã), các công xã cổ ấy mới tan rã hoàn toàn, làm phát sinh chế độ chiếm hữu
nô lệ điển hình – nguồn gốc của văn minh phương Tây. Và chúng ta có thể đặt
câu hỏi: tại sao vào thời trung cổ, lực lượng sản xuất ở các nước phương
Đông không mở đường cho sự phát triển tiến lên chủ nghĩa tư bản như ở các
nước phương Tây? Thật ra, sự trì trệ, kém phát triển của các xã hội phương
Đông chứng minh sự tác động to lớn, nếu không muốn nói là quyết định, của
chính trị đối với kinh tế chứ không phải ngược lại.
Nhìn lại toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng và công trình lý luận của Marx
và Engels, chúng ta thấy hai ông đã ngộ nhận về bản chất của quyền lực chính
trị.
Trong xã hội loài người, có hai thứ bất công: bất công về chính trị và bất
công về kinh tế. Bất công về chính trị thể hiện trong mối quan hệ thống trị
– bị trị, bất công về kinh tế thể hiện trong mối quan hệ làm chủ – làm thuê.
Ách áp bức về chính trị cũng đem lại đau khổ cho con người, có khi còn ghê
gớm hơn nạn bóc lột. Tiền có thể đem lại quyền như Marx đã
trình bày, nhưng quyền cũng dễ dàng mang lại tiền như lịch sử
của phần lớn nhân loại từ hàng ngàn năm nay đã chứng minh.
Nhân loại trải qua hàng ngàn năm đã phải chịu đựng những ách áp bức nặng nề
về chính trị, mãi đến thế kỷ XVIII (thường được gọi là thế kỷ Ánh sáng), nhờ
một số nhà tư tưởng, người ta mới tìm ra được hướng giải quyết. Nhưng chế độ
dân chủ hiện đại lúc mới hình thành tất nhiên chưa thể hoàn chỉnh, và cần
phải tốn nhiều công sức mới có thể trở thành một chế độ ổn định. Điều đáng
tiếc là cả Marx và Engels, hai bộ óc có thể nói là thông minh, uyên bác của
thế kỷ XIX, do cái nhìn thành kiến, đã chỉ nhìn thấy những bất công về kinh
tế, mà không nhận thức được một cách sâu sắc những bất công về mặt chính
trị. Hai ông đã viết được những chương rất hay để tố cáo nạn bóc lột dưới
chế độ tư bản thế kỷ XIX, nhưng hai ông đã không đánh giá đúng những thành
quả về mặt chính trị mà tiền nhân đã đạt được kể từ những thế kỷ trước đó.
Hãy lấy một ví dụ. Trong lĩnh vực chính trị, sự cám dỗ của quyền lực rất dễ
đưa tới nạn lạm quyền. Vì thế John Locke (1632-1704) và Montesquieu
(1689-1755) đã đề xướng thuyết phân quyền, với nội dung là tách
rời các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm ngăn ngừa sự lạm
quyền. Thế nhưng, trong Hệ tư tuởng Đức, Marx và Engels lại đánh giá
thuyết này như sau:
Thí dụ, vào một thời kỳ và ở một nước mà thế lực của vua chúa, giai cấp quý tộc và giai cấp tư sản tranh nhau quyền thống trị, mà do đó quyền thống trị bị phân chia thì học thuyết phân quyền tỏ ra là tư tuởng thống trị, nó được người ta coi là “quy luật vĩnh cửu” (Hệ tư tưởng Đức, Tuyển tập, I, tr. 315).
Chính vì quan niệm sai về bản chất của quyền lực chính trị, không nghiên cứu
kỹ trước tác của những người đi trước cho nên khi rút ra những bài học của
Công xã Paris, Marx đã đề cao việc tập trung quyền lập pháp, hành pháp vào
một mối, đồng thời, coi tính độc lập của ngành tư pháp chỉ là một sự che đậy
giả dối. Chính vì không hiểu rõ bản chất của quyền lực chính trị cho nên ông
đã đề cao việc Công xã giải tán bộ máy quan liêu (tức là bộ máy hành chính)
và giải tán quân đội thường trực, đồng thời bác bỏ chế độ đại nghị. Việc
Marx ca ngợi các biện pháp của Công xã, việc ông đề ra khái niệm chuyên
chính vô sản chứng tỏ ông cũng chỉ là một nhà xã hội chủ nghĩa không
tưởng mang vẻ bề ngoài khoa học mà thôi. Và ngay cả Engels trong khi hết
mực ca tụng những quan điểm của bạn mình, đề cao chúng như những ý tưởng
thiên tài, cũng đã không nhìn thấy tính chất tưởng tượng, phi thực tế trong
những giải pháp đó.
Thật ra, toàn bộ lý thuyết phức tạp của Marx về nhà nước có thể tóm lược
thành một tam đoạn luận (syllogism, sylllogisme) cực kỳ đơn giản như
sau:
Tiền đề 1: Chế độ tư hữu là nguồn gốc phát sinh của nhà nước;
Tiền đề 2: Trong tương lai, chế độ tư hữu tất yếu sẽ tiêu vong;
Kết luận: Do đó, nhà nước cũng sẽ tự tiêu vong.
Như Aristotle (Aristote), nhà logic học nổi tiếng của Hy Lạp thời cổ đại, đã
từng cảnh giác: tam đoạn luận chỉ đúng khi các tiền đề được chứng
minh là đúng. Trong tam đoạn luận nói trên, cả hai tiền đề đều không được
chứng minh đầy đủ. Marx và Engels đã nêu ra những tiền đề đó như một thứ
tín điều và dùng những biện luận bề ngoài có vẻ khoa học và biện chứng
để thuyết phục người khác, nhưng những lập luận đó không dựa trên những bằng
chứng thật sự khoa học.
Như chúng ta đã thấy ở trên, nhà nước tuy ra đời cùng một lúc với chế độ tư
hữu nhưng lại có nguồn gốc phát sinh độc lập chứ không phải chỉ là sản phẩm
thuần tuý của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Do đó, cho dù xoá bỏ được
chế độ tư hữu thì cũng không thể dẹp bỏ được nhà nước. Nói cách khác, cho dù
chưa chứng minh được tính chất sai lầm của tiền đề thứ hai (liên quan đến sự
tiêu vong của chế độ tư hữu), chúng ta vẫn có thể thấy được tính chất sai
lầm của tiền đề thứ nhất (liên quan đến nguồn gốc của nhà nước trong lịch
sử). Kết luận “nhà nước tự tiêu vong” rõ ràng chỉ là một sự suy đoán vô căn
cứ.
Sự nhầm lẫn càng lớn hơn khi người ta chứng minh tiền đề thứ hai (chế độ tư
hữu bị tiêu vong) bằng cách sử dụng sức mạnh của nhà nước chuyên chính vô
sản để áp đặt một chế độ sở hữu nhà nước mang danh “công hữu xã hội chủ
nghĩa”. Dưới sức mạnh của quyền lực nhà nước, một nền kinh tế tập trung chỉ
huy được hình thành và hoạt động dựa trên những quy luật hoàn toàn khác với
nền kinh tế thị trường. Nền kinh tế đó kém hiệu quả nếu xét về mặt kinh tế,
nhưng tính ưu việt của nó lại được củng cố bằng những yếu tố phi -
kinh tế như: mệnh lệnh chính trị, các biện pháp cưỡng chế, tác động tâm lý,
v.v… Chính tiền đề thứ hai được chứng minh một cách “giả tạo” như thế đã che
giấu sự sai lầm của các tiền đề cũng như của toàn bộ tam đoạn luận.
“Nhà nước tự tiêu vong” suy cho cùng chỉ là một huyền thoại (myth, mythe),
nghĩa là một sản phẩm của trí tưởng tượng, nói chính xác hơn là một ước mơ
của Marx. Nhưng một ước mơ có thể mãi mãi chỉ là một giấc mơ,
cho dù đó là một ước mơ đẹp đẽ. Nếu giấc mơ đẹp đó được dùng để nuôi dưỡng
lòng hướng thiện, tình yêu cuộc sống, ý chí phấn đấu vươn lên của con người,
thì nó sẽ là một đóng góp có giá trị cho nền văn hoá của nhân loại. Điều
đáng buồn là giấc mơ đó lại được dùng để ru ngủ quần chúng, lừa mị nhân dân,
nhằm biện minh cho một chế độc tài, đi ngược lại xu thế tiến hoá của nhân
loại. Và Marx, nhà triết học tự nhận là duy vật triệt để nhất, người có tham
vọng xoá bỏ mọi tôn giáo, giải phóng trí tuệ loài người khỏi mọi ý thức hệ
để đạt tới hạnh phúc tuyệt đối, chân lý tuyệt đối, cuối cùng lại trở thành
người sáng lập ra một tôn giáo mới, một ý thức hệ mới - một
tôn giáo không dựa trên sự thuyết phục mà dựa trên sự cưỡng bách, một ý thức
hệ tự nhận là khoa học nhưng lại được xây dựng trên nền tảng của những
huyền thoại chính trị thời hiện đại, những huyền thoại tuy có vẻ
rất phàm tục, rất khoa học, rất gần gũi với đời thường nhưng suy cho cùng
cũng vẫn chỉ là những huyền thoại.
[1]Thật ra, thuật ngữ “Social Democracy” (trong tiếng Pháp là
social-démocratie) nên dịch là “dân chủ-xã hội” thì hợp lý hơn. Nhưng do
sách báo trong nước lâu nay vẫn dịch là “xã hội-dân chủ” nên chúng tôi vẫn
dùng thuật ngữ này để phù hợp với thói quen của độc giả trong nước.
[2]Phần lớn các trích dẫn từ các tác phẩm của Marx và Engels
đều dựa trên bộ Tuyển tập Mác & Ăng-ghen do Nxb Sự Thật và Nxb Dietz
Verlag (Berlin, Đông Đức) cộng tác xuất bản trong những năm 1980 – 1984. Bộ
này gồm 6 tập, được dịch từ nguyên bản tiếng Đức. Các trích dẫn từ các bản
dịch khác đều có ghi rõ xuất xứ.
[3]Trong đoạn trích này, tôi sử dụng thuật ngữ “thể chế thị
tộc” để thay cho thuật ngữ “tổ thức thị tộc”, nhằm làm rõ nghĩa hơn. Trong
bản dịch tiếng Pháp là “constitution gentilice”. Xem: F. Engels,
L’origine de la famille, de la propriété et de l’Etat, bản dịch tiếng
Pháp của Bracke (A. M. Desrousseaux), Alfred Costes, Paris 1946, tr.
214-215.
[4]Phan Khoang, Trung Quốc sử lược, Văn sử học, Sài
Gòn 1970, tr.189-190.
Nguồn: Mai Thái Lĩnh, Huyền thoại về một nhà nước tự tiêu vong, bản điện tử đăng lần đầu trên talawas
19.8.2005
Mai Thái Lĩnh
Huyền thoại về một nhà nước tự tiêu vong
Chương X
Sự tan vỡ của một huyền thoại
”Nhà nước tự tiêu vong”, suy cho cùng, chỉ là một huyền thoại. Nhưng
nó lại là một trong những huyền thoại căn bản của chủ nghĩa cộng sản, bởi vì
Marx đã dựa vào nó để xây dựng nên quan niệm “chuyên chính vô sản”
cũng như toàn bộ lý thuyết về nhà nước nói chung. Chính vì tin rằng nhà nước
nhất định sẽ biến mất cùng với chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất cho nên
Marx và Engels đã nêu ra giải pháp chuyên chính vô sản như một hình
thức nhà nước quá độ và tạm thời trong khi chờ đợi một thời kỳ
hoàng kim với một xã hội hoàn toàn tự quản, không cần đến nhà nước.
Sau khi hai ông mất, quan niệm chuyên chính vô sản không tìm được
mảnh đất thuận lợi để phát triển. Ở các nước phương Tây, nơi các giá trị dân
chủ đã thấm sâu vào đời sống văn hoá và chính trị, phong trào công nhân dần
dần từ bỏ con đường chuyên chính vô sản và hội nhập vào chế độ dân chủ hiện
đại. Chế độ đại nghị ngày càng được hoàn thiện, chấp nhận chỗ đứng của các
đảng công nhân, của phong trào công đoàn, kể cả quyền hoạt động chính trị
của các đảng cộng sản – nghĩa là những đảng mà mục tiêu chiến lược là lật đổ
chính chế độ dân chủ đại nghị. Quan niệm chuyên chính vô sản mất sức
sống ngay trên mảnh đất nó được sinh ra.
Chính Lenin, một nhà cách mạng xuất thân từ nước Nga - một quốc gia lạc hậu
ở châu Âu, là người đã làm sống lại quan niệm chuyên chính vô sản.
Mặc dù sống lưu vong trong nhiều năm ở các nước Tây Âu, Lenin không tiếp thu
được các giá trị dân chủ ở đó, và trong nhận thức vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề
của nền văn hoá phong kiến lạc hậu, phi dân chủ dưới chế độ Sa hoàng. Trong
khi nghiên cứu chủ nghĩa Marx, thay vì biết phê phán, chọn lọc, ông đã tiếp
thu toàn bộ các khía cạnh tiêu cực của học thuyết, kể cả những khái niệm
phản tiến bộ như chuyên chính vô sản. Mặt khác, trong cuộc đấu tranh
tư tưởng với những người xã hội-dân chủ khác, ông không thể tự nhận mình là
độc tài, chống lại các giá trị dân chủ, vì lúc đó dân chủ đã trở
thành mục tiêu chung của phong trào công nhân trên khắp lục địa châu Âu. Do
đó, ông tìm cách biện minh cho con đường chuyên chính vô sản bằng thủ
thuật đánh tráo khái niệm: đề ra khái niệm dân chủ vô sản như một cực
đối lập với cái mà ông gọi là dân chủ tư sản. Về mặt sách lược, Lenin
chủ trương rằng khi chưa nắm được quyền lực tuyệt đối, những người cộng sản
vẫn có thể cộng tác với các lực lượng đấu tranh cho dân chủ, coi việc đấu
tranh cho các mục tiêu dân chủ trước mắt như một biện pháp cần thiết để tập
hợp quần chúng xung quanh đảng cộng sản. Những lý do đó đã khiến cho nhiều
người lầm tưởng rằng Lenin là một người yêu dân chủ và có thể xây dựng được
một chế độ dân chủ thật sự dựa trên lý luận của Marx và Lenin.
Marcel Liebman là một trường hợp điển hình. Mặc dù thừa nhận những khuyết
điểm của chế độ chính trị xô-viết, nhà chính trị học mác-xít người Bỉ này
chỉ phê phán Stalin trong khi vẫn ca ngợi quan niệm “dân chủ vô sản” của
Lenin. Theo Liebman, nền dân chủ vô sản là một nền dân chủ “trực tiếp, cụ
thể và mang tính nhân dân”. Đáp lại lời chỉ trích tính không tưởng của
quan niệm đó, ông viết:
Nhưng đó chỉ là một sự chỉ trích tầm thường và hời hợt: không có một dự phóng cách mạng nào lại không có một lý tưởng vĩ đại làm bệ phóng cho nó và đem thắng lợi đến cho nó. Những người có đầu óc thực tế và các sử gia hoàn toàn có quyền đánh giá khoảng cách giữa cái không tưởng (utopique) với cái có thể (le possible), nhưng họ không phải là nguồn cảm hứng cho những người làm nên các công trình lịch sử vĩ đại và những nhà sáng lập nên các xã hội mới. Nền dân chủ của những người bolshevik thuộc về một quan niệm độc đáo và táo bạo – hoàn toàn đoạn tuyệt với tất cả mọi sự nhẫn nhục và mọi điều tầm thường. Họ không chỉ bằng lòng với việc biến những người nô lệ ngày hôm qua thành những người nổi dậy ngày hôm nay. Họ nhìn thấy trong những người nô lệ ấy những chủ nhân và những nhà hành chính của tương lai. [1]
Trong thực tế, nền dân chủ vô sản (một tên gọi khác của chuyên
chính vô sản) chỉ là một huyền thoại, bởi lẽ nó được xây dựng dựa trên
huyền thoại “nhà nước tự tiêu vong”. Xét về mặt logic, nếu nhà nước
có nguồn gốc phát sinh độc lập với các nguyên nhân kinh tế thì việc xoá bỏ
chế độ tư hữu không thể dẫn đến một nhà nước tự tiêu vong mà chỉ có thể dẫn
đến một nhà nước tập quyền kiểu mới. Nền chuyên chính quá độ và
tạm thời xét về mặt lý thuyết tất yếu sẽ trở thành một nền chuyên chính
ổn định và lâu dài trong thực tế; nền chuyên chính này coi
việc duy trì độc quyền chính trị như một cứu cánh, một lẽ sống còn. Sự mâu
thuẫn, trật khớp giữa lý thuyết và thực tiễn đó buộc những nhà lãnh đạo cộng
sản phải củng cố và nuôi dưỡng huyền thoại “dân chủ vô sản” nhằm biện
minh cho chế độ chuyên chính vô sản, tạo cho nó một lớp vỏ hiện đại, dễ coi
nhằm lừa mị quần chúng, đánh lừa nhân dân.
Mặc dù Lenin là người sáng tạo nên huyền thoại “dân chủ vô sản”,
nhưng có thể nói chính Stalin mới là người đem lại sức sống cho huyền thoại
đó, làm cho nó trở thành một trong những huyền thoại quan trọng nhất của chủ
nghĩa cộng sản, có ảnh hưởng lớn lao trong thế kỷ XX. Là một nhà độc tài bẩm
sinh, Stalin đã giành được vị trí cao nhất trong chế độ xô-viết chủ yếu bằng
con đường bạo lực, bằng những biện pháp phản dân chủ. Nhưng hơn ai hết, ông
hiểu rằng không thể duy trì được quyền lực một cách lâu bền nếu chỉ dựa vào
các biện pháp đàn áp, cưỡng bức. Vì vậy, ông rất coi trọng các thủ đoạn mị
dân, lừa bịp.
Khác với Marx và Lenin - vốn là những người quyết liệt chối bỏ những hình
thức của chế độ đại nghị, Stalin đã tìm cách “vận dụng” một số hình thức của
chế độ này nhằm mục đích che đậy thực chất của chế độ độc tài toàn trị. Vào
nửa cuối thập niên 1930, song song với quá trình thanh trừng nội bộ một cách
đẫm máu nhằm triệt tận gốc các “đồng chí” bolshevik cựu trào, Stalin đã tiến
hành soạn thảo một bản hiến pháp mô phỏng theo hiến pháp của các nước dân
chủ phương Tây. Một Uỷ ban soạn thảo hiến pháp được thành lập vào tháng 2
năm 1935, vài tháng sau khi xảy ra vụ ám sát Kirov. Bản hiến pháp được chính
thức ban hành vào tháng 11 năm 1936, được giới thiệu như một bản hiến pháp
“dân chủ nhất thế giới”. Nhưng cũng từ năm 1936 cho đến năm 1938, cuộc Đại
Thanh Trừng (Great Purge) đẫm máu đã diễn ra, với hàng loạt vụ án công khai
và bí mật. Tháng 8 năm 1936, Zinoviev và Kamenev bị truy tố về những tội
hoàn toàn bịa đặt và bị xử bắn. Tháng 6 năm 1937, Nguyên soái Tukhachevsky,
nhà lãnh đạo quân sự có uy tín nhất vào thời đó, đã bị lôi ra toà án quân sự
về tội mưu phản và bị hành quyết cùng với một số tướng lãnh cao cấp khác.
Ngay cả Bukharin và Radek, những tác giả của bản hiến pháp năm 1936 nói trên,
cũng không thoát khỏi tội chết: cả hai ông đều bị kết tội tử hình vào tháng
3 năm 1938. Các vụ án mang tính chất khủng bố nói trên chứng tỏ các quyền
tự do căn bản của công dân, các quyền con người được ghi vào hiến pháp
chỉ nhằm mục đích tuyên truyền, lừa bịp quần chúng, loè bịp phương Tây chứ
không phải để thực thi. Trong các vụ án giả tạo nói trên, các nạn nhân đều
bị kết án dựa trên lời nhận tội, ngoài ra không có chứng cứ nào khác
được kiểm chứng bằng các thủ tục pháp lý thông thường. Trong số những người
có mặt ở hàng ghế bị cáo trong các phiên toà đó, người ta có thể điểm danh
tất cả các thành viên của Bộ chính trị thời Lenin, chỉ trừ chính Stalin và
Trotsky (riêng ông này đã bị trục xuất ra khỏi lãnh thổ Liên Xô vào năm 1929
và bị ám sát tại Mexico vào tháng 8 năm 1940). Điều đó cho thấy ngay cả
những người đã từng là cấp lãnh đạo cũng không được hưởng đầy đủ quyền con
người và quyền công dân, nói gì đến những thường dân hoặc những người đã
từng là “kẻ địch”.
Điều đáng nói hơn nữa là mặc dù áp dụng một số hình thức của chế độ đại nghị
phương Tây, Stalin không bao giờ chấp nhận các nguyên tắc căn bản của chế độ
ấy. Lấy lý do chế độ dân chủ vô sản khác biệt về chất so với chế độ
dân chủ tư sản, ông không chấp nhận nguyên tắc tam quyền phân lập, không
chấp nhận chế độ đa đảng, không chấp nhận tính đa nguyên về tư tưởng.
Như một số nhà viết tiểu sử đã lưu ý, Stalin xuất thân là một chủng sinh
trong trường dòng chính thống giáo ở Tbilissi, do đó ông rất am hiểu tác
dụng của các nghi lễ tôn giáo, cũng như tác dụng của các huyền thoại tôn
giáo. Điều này có thể thấy rõ qua việc ông tổ chức tang lễ cho Lenin, xây
dựng lăng tẩm kiểu mới ở Quảng trường Đỏ (Moskva), biến Lenin thành một vị
thánh nhằm giành lấy cho mình vị trí của một á thánh. Stalin đã chỉ đạo việc
biên tập cuốn Lịch sử Đảng cộng sản Liên Xô, vẽ lại lịch sử của cách
mạng bolshevik theo ý đồ riêng của mình, xoá bỏ công lao của một loạt các
lãnh tụ cách mạng như: Trotsky, Kamenev, Zinoviev, Bukharin, vv… Sự cắt xén,
xuyên tạc lịch sử theo kiểu Stalin đã trở thành khuôn mẫu cho tất cả các sử
gia mác-xít lê-nin-nít sau này: các sự kiện lịch sử được thổi phồng hay bị
bóp méo; các nhân vật lịch sử bị bỏ quên hay bôi nhọ, các “lãnh tụ” hay “anh
hùng” được tô hồng, thần thánh hoá,v.v… Lịch sử được bào chế trong phòng thí
nghiệm của các “sử gia” giàu tính giai cấp, dưới sự chỉ đạo của các nhà cách
mạng chuyện nghiệp, trở thành vũ khí tuyên truyền cho Đảng cộng sản cầm
quyền. Cộng vào đó là các tác phẩm văn học nghệ thuật mà tôn chỉ là khuôn
hiện thực theo ý thức hệ mác-xít lê-nin-nít hơn là tôn trọng sự thật, phục
vụ cho ý đồ chính trị nhiều hơn là các giá trị nhân bản. Những tác phẩm này
đã góp phần lớn lao vào việc hình thành và nuôi dưỡng các huyền thoại cộng
sản, che giấu sự thật, xoá mờ chân lý.
Tất cả đã góp phần tạo ra một nếp sống dân chủ kiểu mới rất kỳ lạ,
hoàn toàn khác với nếp sống dân chủ ở các nước phương Tây. Nếp sống đó có bề
ngoài rất cách mạng, dân chủ, bình đẳng nhưng nếu xem xét kỹ, chúng
ta thấy bên dưới lớp vỏ hào nhoáng, hiện đại ấy lại là một chế độ quân chủ
phương Đông được tái tạo với một dáng dấp mới:
Thay vì gọi Ngài, bẩm quan, người ta gọi đồng chí. Thay
vì gọi Vua, người ta gọi Tổng bí thư hay Chủ tịch. Thay
vì bổ nhiệm, người ta đề cử để rồi giả vờ tham khảo ý kiến của
cử tri, sau đó tổ chức bầu cử một cách hết sức tốn kém, rườm rà, nhằm tạo ra
cái vỏ dân cử cho những nhân vật đã được Đảng cử từ trước. Bên
cạnh hệ thống nhà nước, Đảng cộng sản tạo ra một hệ thống tổ chức quần
chúng mang danh nghĩa là đại diện cho các giới trong xã hội, nhưng thực
chất vẫn là do những người của Đảng cử ra điều khiển. Hệ thống này đóng vai
trò ông Thiện để xoa dịu quần chúng, gỡ rối cho những hành vi sai
phạm của ông Ác, tức các cơ quan Nhà nước. Đảng mặc dù là siêu-nhà
nước, chỉ đạo hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị, nhưng luôn luôn giả
vờ làm như vô can. Mỗi khi nhà nước có biểu hiện bê bối, tham nhũng,
Đảng lại đứng ra làm trọng tài, giả vờ xử lý kỷ luật, trừng phạt những kẻ
làm sai – nhưng thực chất là tìm cách bao che, bảo vệ quyền lợi cho địa vị
thống trị của đẳng cấp cầm quyền. Cái màn kịch đó được diễn hết sức khéo
léo, cốt tạo ra trong quần chúng cái ý tưởng: Đảng không bao giờ sai lầm,
chỉ có một số đảng viên, cán bộ nắm quyền trong bộ máy nhà nước có thể phạm
sai lầm; Đảng bao giờ cũng sáng suốt, bao giờ cũng vì quyền lợi của giai
cấp, vì quyền lợi của nhân dân, chỉ có một thiểu số (nhỏ, cực kỳ nhỏ)
cán bộ, đảng viên là thoái hoá, biến chất. Sai lầm, tội ác được gán cho
những cán bộ cấp dưới (trong thực tế là những con dê tế thần), để bảo
đảm cho các lãnh tụ anh minh được muôn đời sáng suốt, trong sạch.
Xét về mặt lịch sử, đảng cộng sản không phải là lực lượng đầu tiên và duy
nhất sử dụng các huyền thoại vào mục đích chính trị, nhằm củng cố cho
địa vị thống trị của mình. Trong các nền văn minh cổ đại, các dòng họ cầm
quyền ở Trung Quốc, Ai Cập, Đế quốc Hittite, Polynesia, Đế quốc Inca, Ấn
Độ,… đã thường xuyên viện dẫn các huyền thoại để biện minh cho địa vị thống
trị của họ, chẳng hạn để giải thích rằng họ có nguồn gốc từ thần thánh. Các
đẳng cấp ưu tú cũng dựa trên huyền thoại để giải thích những đặc quyền đặc
lợi, để hợp lý hoá địa vị ăn trên ngồi trước của họ.
Huyền thoại dân chủ vô sản cũng nhằm mục đích biện minh cho địa vị
thống trị độc quyền của Đảng cộng sản, giải thích những đặc quyền đặc lợi
của đẳng cấp thư lại chính trị mà nòng cốt là các đảng viên cộng sản.
Đảng cộng sản giữ địa vị lãnh đạo vì nó là đại diện của giai cấp vô sản,
giai cấp tiên tiến của thời đại, một giai cấp mang sứ mệnh lịch sử giải
phóng toàn thể nhân loại khỏi mọi ách áp bức bóc lột. Đảng cộng sản là thực
thể trung gian (tương tự như giáo hội của các tôn giáo) có nhiệm vụ và quyền
hạn đóng con dấu “tiên tiến” hoặc “lạc hậu”, “phản động” lên mỗi cá nhân
trong xã hội, và căn cứ vào đó mà ban phát địa vị, quyền hành và những quyền
lợi vật chất kèm theo. Do đó, nếu đảng viên có địa vị chính trị cao hơn quần
chúng bình thường thì đó cũng là lẽ đương nhiên, là điều tất yếu; nếu quần
chúng không thông về tư tưởng thì phải tìm cách “cải tạo”, “giáo dục” tư
tưởng cho họ. Mặt khác, huyền thoại đó cũng nhằm mục đích biện minh cho hệ
thống đẳng cấp nội bộ nhằm duy trì quyền lực tối cao của Bộ chính trị, của
Tổng bí thư hay Chủ tịch Đảng. Nguyên tắc “tập trung dân chủ” vì vậy đã trở
thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ các hoạt động của Đảng cầm quyền.
Sau khi Stalin mất đi, huyền thoại dân chủ vô sản được tô vẽ lại,
những nét thô thiển được gọt dũa, nhiều hình thức mới học tập từ các nước
dân chủ phương Tây được thêm thắt vào, tuy nhiên các nguyên tắc căn bản vẫn
không hề thay đổi. Ở một số nước Đông Âu, các nhà lãnh đạo cộng sản còn “vận
dụng” cả các kinh nghiệm của phương Tây để sáng tạo ra một thể chế đa
đảng giả hiệu: bên cạnh đảng cộng sản còn có một số “đảng bạn” để làm
chậu kiểng hay đóng vai trò đối lập “cuội”, nhằm chứng minh cho phương Tây
thấy tính chất “dân chủ” của chế độ chính trị “xã hội chủ nghĩa”. Trong thực
tế, các đảng này không có chút thực lực nào, và không hề xâm phạm tí nào đến
vai trò độc quyền chính trị của đảng cộng sản.
Đảng sáng suốt thay cho vai trò của một đấng minh quân. Chế độ dân
chủ hình thức - dân chủ giả hiệu thay thế cho chế độ quân chủ kiểu
phương Đông. Đó chính là thành quả của cuộc cách mạng vô sản,
cuộc cách mạng được mệnh danh là toàn diện, triệt để nhất trong lịch
sử loài người. Và người dân sống trong chế độ toàn trị đó lại được ăn một
cái bánh vẽ lớn và hấp dẫn cũng chưa từng có trong lịch sử nhân loại.
Để nuôi dưỡng huyền thoại dân chủ vô sản cũng như các huyền thoại
khác của chủ nghĩa Marx, Đảng cộng sản cầm quyền áp dụng một loạt các biện
pháp như: xoá bỏ các quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí,
tự do xuất bản, v.v… Tất cả các triết học đều bị cấm chỉ, trừ triết học Marx
trở thành ý thức hệ chính thống, bị bắt buộc phải học trong tất cả các nhà
trường. Chủ nghĩa Marx trở thành chủ nghĩa giáo điều, được Stalin gọi
tên là chủ nghĩa Marx-Lenin (Marxism-Leninism, Marxisme-Léninisme).
Hệ thống trường Đảng được phát triển rộng khắp, và cùng với nó là hệ thống
các viện nghiên cứu, mà mục đích chủ yếu là để củng cố, duy trì các huyền
thoại của chủ nghĩa cộng sản. Các tôn giáo mặc dù vẫn được phép tồn tại
nhưng bị hạn chế bằng nhiều thủ đoạn, nhằm bảo đảm cho sự tồn tại và phát
triển của ý thức hệ Marx-Lenin như một thứ tôn giáo mới. Cả một tầng
lớp trí thức mệnh danh là trí thức mới, trí thức xã hội chủ nghĩa
được đoàn ngũ hoá, được đưa vào nền nếp kỷ luật để nói cùng một tiếng nói:
tiếng nói của Đảng. Ai nói khác đi lập tức bị quy kết là xét lại, là
phản động, là tiếp tay cho địch, v.v…
Nhưng chân lý khoa học vẫn luôn luôn mâu thuẫn với huyền thoại. Khác với
huyền thoại tôn giáo, huyền thoại cộng sản là huyền thoại gắn với trần gian,
với thế giới bên này (au-delà), với thế giới hiện thực trước mắt. Trong khi
tôn giáo kêu gọi con người hướng về điều thiện, sống một cách đạo đức để đạt
được hạnh phúc ở đời sau hoặc ở cõi khác thì chủ nghĩa cộng
sản lại hứa hẹn hạnh phúc ngay trong cõi đời này, hô hào sử dụng bạo lực để
xây dựng một thiên đường ngay trên hạ giới. Do đó, theo thời gian, mâu thuẫn
giữa huyền thoại và thực tế không thể không bộc lộ, và người nhìn thấy rõ
mâu thuẫn ấy trước hết chính là những trí thức phản tỉnh. Chế độ toàn trị
hết sức nhạy cảm với tiếng nói của những trí thức ấy, do đó họ luôn tìm cách
trừng trị, bịt miệng họ. Do mâu thuẫn giữa huyền thoại và thực tế là mâu
thuẫn thuộc về bản chất của chế độ dân chủ vô sản, những hiện tượng phi
dân chủ, phản dân chủ không ngừng phát sinh, sự phản kháng của những trí
thức bất đồng chính kiến tuy có lúc tạm thời bị đè nén hay dập tắt, nhưng
không ngừng bùng phát trở lại. Điều đó giải thích tại sao cuộc đấu tranh đòi
dân chủ ở các nước xã hội chủ nghĩa theo mô hình xô-viết lại thường khởi đầu
bằng cuộc đấu tranh của giới trí thức. Cuộc đấu tranh ấy không sinh ra từ âm
mưu can thiệp của nước ngoài hay từ các thế lực đế quốc, tư bản như các đảng
cộng sản cầm quyền thường rêu rao mà phát sinh từ chính thực tế phản dân chủ
của các xã hội mệnh danh là “xã hội chủ nghĩa”, phát sinh từ tính chất huyền
thoại của chế độ dân chủ vô sản, từ sự thức tỉnh của một bộ phận trí thức
tiên tiến nhìn thấy được thực chất của những huyền thoại ấy.
Nói cách khác, cuộc đấu tranh để phi huyền thoại hoá (demythologize,
démythifier) dưới chế độ chuyên chính vô sản đóng một vai trò cực kỳ
quan trọng trong toàn bộ quá trình dân chủ hoá các xã hội đó. Và quá trình
dân chủ hoá tất yếu sẽ phá vỡ khuôn khổ của chế độ dân chủ vô sản để dẫn đến
một nền dân chủ đại nghị có thực chất.
Cũng cần lưu ý rằng một trong những nguyên nhân quan trọng khiến chủ nghĩa
Marx mất sức sống ngay trên mảnh đất nó sinh ra là chính là trình độ dân
trí. Cuộc đấu tranh để dân chủ hoá đời sống chính trị trong các xã hội Tây
Âu và Bắc Mỹ đã dẫn đến kết quả là các huyền thoại tôn giáo không thể được
sử dụng vào các mục đích chính trị được nữa. Nhà nước được thế tục hoá, tôn
giáo tách khỏi nhà nước. Các thế lực thống trị không thể lợi dụng các huyền
thoại tôn giáo để ru ngủ, lừa mị quần chúng, biện minh cho địa vị chính trị
độc quyền hoặc bào chữa cho sự áp bức, bóc lột của họ. Tôn giáo trở về với
chức năng thật sự của mình, không can thiệp tuỳ tiện vào đời sống chính trị,
do đó cũng hạn chế được sự tha hoá bởi quyền lực. Đạo và đời
được phân ranh giới rõ rệt. Người dân nhìn những nhân vật lãnh đạo với con
mắt thực tế hơn, không sùng bái họ như những nhân vật siêu phàm, những con
người huyền thoại. Trong điều kiện ấy, các huyền thoại của chủ nghĩa Marx
không thể phát huy được tác dụng, hoặc nói đúng hơn ngày càng mất tác dụng.
Ngay cả đối với giai cấp công nhân, các huyền thoại của chủ nghĩa Marx không
thể hấp dẫn được họ, bởi vì công nhân thường có cái nhìn thực tế, không dễ
bị đánh lừa bởi những lời hô hào hoa mỹ, những lời hứa hẹn suông.
Trong khi đó, ở các nước lạc hậu, kém phát triển hơn, tức là ở các xã hội
chưa vượt ra khỏi trạng thái nô lệ tinh thần của chế độ thần quyền dưới mọi
hình thức, nơi mà người dân còn ngưỡng vọng vào những vị lãnh tụ “anh minh”,
“sáng suốt” để cứu vớt họ khỏi cuộc sống lầm than, nơi mà các huyền thoại
tôn giáo vẫn còn có tác động mạnh mẽ đến đời sống chính trị, nơi mà thần
quyền và thế quyền ràng buộc nhập nhằng với nhau từ hàng ngàn năm
trước, thì những huyền thoại của chủ nghĩa Marx vẫn còn tìm được những mảnh
đất tốt để phát triển.
Nhận thức được sự yếu kém của hệ tư tưởng mác-xít trên mảnh đất Tây Âu và
Bắc Mỹ, Lenin ngày càng mất hy vọng vào khả năng thắng lợi của cách mạng vô
sản trên mảnh đất truyền thống ấy của phong trào công nhân. Vì vậy, ông bổ
sung khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!” bằng cách
hướng về các dân tộc bị áp bức, tìm sức mạnh hậu thuẫn cho Đảng bolshevik
Nga trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước kém phát triển.
Sự khôn khéo chính trị này đã tạo nên một sức mạnh mới cho chủ nghĩa Marx.
Kể từ đó, ở một số nước Á, Phi, Mỹ la-tinh, các huyền thoại cộng sản đã được
lồng ghép một cách khéo léo với những huyền thoại có sẵn của dân tộc, kích
động lòng yêu nước của đông đảo quần chúng. Huyền thoại “dân chủ vô sản”
được biến thể thành “dân chủ mới”, “dân chủ nhân dân”, tiếp tục trở thành lý
lẽ biện minh cho các chế độ độc tài kiểu mới mọc lên từ đống tro tàn của các
chế độ quân chủ phương Đông.
Sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới mà nòng cốt là nước Nga
xô-viết, quê hương của cuộc Cách mạng tháng Mười, đánh dấu sự tan vỡ của
những huyền thoại cộng sản, mà đáng kể hơn hết là huyền thoại ”dân chủ vô
sản”. Khi khẩu hiệu công khai (glasnost) được Gorbachev đề ra,
hàng loạt sự thật bị che giấu từ hàng chục năm được phơi bày, người ta gần
cảm thấy bàng hoàng trước sự dối trá khủng khiếp đã làm nên huyền thoại
”dân chủ vô sản”. Trong thực tế, không hề có một nền dân chủ vô sản mà
chỉ có một nền chuyên chính nhân danh giai cấp vô sản. Trong thực tế, không
hề có một nhà nước tự tiêu vong mà chỉ có một nhà nước toàn năng, có quyền
can thiệp vào bất cứ một tổ chức xã hội nào, bất cứ một cuộc sống riêng tư
nào. Trong thực tế, không hề có một “nhân dân làm chủ” mà chỉ có những kẻ
lạm quyền, lộng quyền đội lốt “đầy tớ của nhân dân”, nói cách khác là những
kẻ nhân danh nhân dân để thống trị chính nhân dân.
Để tóm tắt một cách sâu sắc tính chất huyền thoại của chế độ dân chủ vô sản,
chúng ta có thể mượn lại câu của Lenin viết về chế độ dân chủ tư sản (tất
nhiên phải sửa đổi lại đôi chút cho phù hợp):
Chế độ dân chủ vô sản trước sau vẫn là một chế độ dân chủ chật hẹp,
bị cắt xén, giả hiệu, giả dối; đó là một thiên đường cho những kẻ có quyền,
một cạm bẫy đối với những người thấp cổ bé họng, một cái mồi giả dối đối với
những người bị thống trị.
[2]
Lời phê phán chua cay của Lenin đối với chế độ dân chủ mà ông gán cho cái
nhãn hiệu “dân chủ tư sản”, cuối cùng lại hoàn toàn phù hợp với bản chất của
chế độ dân chủ giả hiệu do chính ông khởi xướng và được Stalin hoàn thiện.
Chương kết
Đi tìm một định nghiã đúng đắn về nhà nước
Sự tan vỡ của huyền thoại “dân chủ vô sản” dẫn đến sự tan vỡ của huyền thoại
“nhà nước tự-tiêu vong”, đồng thời cũng làm sụp đổ toàn bộ lý thuyết về nhà
nước của chủ nghĩa Marx. Điều đó buộc chúng ta phải xem xét lại định nghĩa
về nhà nước của Marx.
Marx định nghĩa nhà nước là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn
áp một giai cấp khác (“Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”). Nhưng như trên đã
nói, trước khi trở thành nhà nước của một giai cấp (như Marx và Engels đã
chứng minh), hay nhà nước của một tập đoàn xã hội, của một nhóm người hoặc
của một cá nhân thì nhà nước đã là một tổ chức bảo vệ lợi ích công cộng, một
quyền lực công cộng.
Trong trường hợp đó, ta phải xác định rằng tính chất giai cấp chỉ là tính
chất phụ thuộc, chứ không phải tính chất cơ bản của nhà nước. Bản chất của
nhà nước là tính chất công cộng, tính chất xã hội, còn tính chất giai
cấp chỉ là sự bóp méo, xuyên tạc bản chất đó; do sự chiếm dụng nhà nước bởi
một giai cấp, một tầng lớp, một đẳng cấp, một tập đoàn xã hội, một nhóm
người nào đó. Khôi phục lại bản chất của nhà nước, tức là dân chủ hoá, đòi
hỏi phải xoá bỏ tính chất giai cấp của nhà nước để nhà nước trở thành
nhà nước của toàn dân chứ không phải làm ngược lại.
Nhà nước là một hiện thực sinh ra cùng với loài người, và cùng tồn tại với
loài người. Vào thời kỳ đầu của nhân loại, khi con người còn sống trong các
thị tộc, mối quan hệ giữa mọi thành viên trong cộng đồng còn dựa trên quan
hệ huyết thống thì nhà nước “phôi thai” chỉ là một tổ chức đơn giản, nằm
trong lòng cộng đồng. Nhưng khi cộng đồng phát triển rộng lớn hơn, quan hệ
thị tộc bị phá vỡ thì nhà nước buộc phải phát triển thành một tổ chức phức
tạp hơn, tách rời khỏi cộng đồng. Đó là sự tách rời tất yếu, thể hiện sự
trưởng thành, chứ không phải là biểu hiện của sự tha hoá như Marx đã nghĩ.
Một khi nhà nước tách rời khỏi xã hội thì quyền lực chính trị bị chiếm hữu
bởi một giai cấp, một tập đoàn xã hội, một dòng họ nào đó. Và họ đã tìm cách
phủ lên nhà nước một cái vỏ thần bí để hợp lý hoá sự chiếm hữu quyền lực. Ví
như thuyết thiên mệnh, thiên tử ở Trung Quốc chẳng hạn. Nhưng rồi đến
một thời điểm trong lịch sử, nhân loại trưởng thành hơn, và người ta ý thức
được vấn đề chủ quyền của nhân dân. Từ thế kỷ XVIII, ở châu Âu và Bắc
Mỹ, các nhà tư tưởng tiên tiến của nhân loại đã mở ra một hướng đi đúng đắn
cho nhân loại: đấu tranh để biến nhà nước thành nhà nước của toàn dân,
nghĩa là của nhà nước của mọi người, mọi tập đoàn, mọi giai cấp trong xã
hội. Chế độ dân chủ bắt đầu hình thành từ lúc đó, lúc đầu không tránh khỏi
những khiếm khuyết, nhưng theo thời gian, ngày càng được củng cố, hoàn
thiện.
Sự sai lầm của Marx và Engels là ở chỗ hai ông không nhìn thấy hướng đi ấy.
Đáng lẽ chủ trương nhà nước của toàn dân (dân chủ), hai ông lại nêu
ra khái niệm chuyên chính vô sản, tức là nhà nước của một giai cấp
(phi dân chủ). Chuyên chính vô sản là sự thay thế một nhà nước giai cấp
này bằng một nhà nước giai cấp khác; mà khi đã tuyên bố nhà nước mang tính
giai cấp thì con đường dân chủ khó có thể được khai thông. Một khi đã là một
nhà nước giai cấp thì dù giai cấp đó là giai cấp bần cùng, bị bóc lột trong
xã hội, cũng không tránh được tình trạng một tầng lớp có đặc quyền sẽ nhân
danh giai cấp để nắm lấy quyền thống trị trong xã hội.
Do không nắm được bản chất của quyền lực chính trị, do quan điểm duy vật
lịch sử, nên Marx và Engels không nhìn thấy một sự thật: quyền lực chính
trị có khả năng làm tha hoá mọi người; và những người thuộc giai cấp bị
bóc lột, một khi nắm quyền hành trong tay, không hề miễn nhiễm trước sự cám
dỗ của quyền lực. Marx và Engels tỏ ra hoàn toàn ảo tưởng khi vẽ ra một
giai cấp vô sản tính bản thiện, chỉ cần giác ngộ sứ mệnh lịch sử là có
thể trở thành một giai cấp thánh thiện. Nếu không có ảo tưởng đó, lý
thuyết của hai ông đã vạch ra được những biện pháp hữu hiệu để chế tài sự
lạm dụng quyền lực, ngăn ngừa được những trường hợp như Stalin, Mao Trạch
Đông,…
Như trên đã trình bày, lịch sử của phong trào công nhân thế giới đã cho thấy
những môn đệ của Marx và Engels đã đi theo hai hướng khác nhau:
Sau khi Engels mất, một trong những môn đệ của ông đã phát hiện ra những sai
lầm trong lý luận mác-xít chính thống và tìm cách sửa chữa; đó là Eduard
Bernstein. Điều trớ trêu của lịch sử là: nếu Marx viết bộ Tư bản tại
nước Anh thì cũng chính tại nước Anh, Bernstein đã tìm thấy những tư tưởng
để bổ sung, sửa chữa chủ nghĩa Marx. Bernstein đã chịu nhiều ảnh hưởng của
những nguồn tư tưởng phi-mác-xít, nhất là từ phái Fabian (Fabianism) - tiền
thân của Đảng lao động (Labor Party) hiện nay. Chủ nghĩa xét lại (cái
tên gọi một thời mang nghĩa xấu đó) lúc đầu đã bị chủ nghĩa Marx chính thống
ở Tây Âu bác bỏ kịch liệt, nhưng qua thời gian đã có tác động lớn lao, làm
thay đổi nội dung của lý thuyết xã hội chủ nghĩa. Một trong những điểm quan
trọng nhất là việc chấp nhận dân chủ như một mục tiêu song song với
mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Các đảng mác-xít ở Tây Âu dần dần từ bỏ
khái niệm chuyên chính vô sản, trở thành các đảng dân chủ-xã hội, mang tính
chất cải cách, tương tự như Đảng lao động Anh. Nói cách khác, khuynh hướng
này chấp nhận định nghĩa nhà nước như một thiết chế bảo vệ lợi ích công
cộng. Họ chấp nhận chế độ dân chủ tư sản và tìm cách đấu tranh cho quyền
lợi của công nhân bằng con đường hợp pháp, và như vậy là từng bước cải biến
chế độ đó thành một chế độ dân chủ thật sự, một nhà nước của toàn dân.
Các đảng đó không bao giờ thành công theo nghĩa Marx và Engels từng hiểu,
nghĩa là không bao giờ giành được chính quyền 100%, và không bao giờ thực
hiện được chủ nghĩa xã hội (theo nghĩa công hữu hoá tư liệu sản xuất 100%).
Nhưng họ lại có công đem lại sự cải thiện trong đời sống công nhân, và đồng
thời đóng góp rất nhiều cho sự nghiệp dân chủ hoá đời sống xã hội. Ngày nay,
họ vẫn là những đảng chính trị có uy tín tại Tây Âu, Bắc Âu và nhiều nơi
khác trên thế giới; và ở nhiều nước, vào nhiều thời điểm, họ trở thành đảng
cầm quyền (tất nhiên là theo từng nhiệm kỳ chứ không phải là đảng cầm quyền
muôn năm).
Xu hướng thứ hai là xu hướng cực đoan, mà tiêu biểu là V. I. Lê-nin. Trong
vấn đề nhà nước, ông tiếp thu toàn bộ, kể cả những điểm sai lầm, phi lý nhất
của lý thuyết về nhà nước do Marx và Engels để lại, nhất là quan niệm chuyên
chính vô sản. Để giành được thắng lợi cho chủ nghĩa xã hội bằng bất cứ giá
nào, ông thay đổi quan niệm về đảng mác-xít. Từ chối quan niệm về một đảng
dân chủ-xã hội “theo kiểu câu lạc bộ”, ông chủ trương tổ chức một đảng
cộng sản kiểu mới với kỷ luật sắt cả về tư tưởng và tổ chức. Chính tổ
chức đảng kiểu mới này đã giúp ông giành được thắng lợi cho cách mạng vô sản
tại nước Nga vào năm 1917. Nhưng lịch sử đã cho thấy sự thành công của Cách
mạng tháng Mười Nga lại không chứng minh được tính đúng đắn, khoa học của
chủ nghĩa Marx mà ngược lại, đã chứng minh những điểm sai lầm của nó, đặc
biệt là trong vấn đề nhà nước.
Sự thất bại của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới dựa trên mô hình xô-viết
cho thấy nhà nước của toàn dân chính là xu hướng tiến bộ nhất, đúng đắn
nhất của nhân loại, đồng thời cũng chứng minh rằng: dân chủ là giá trị
chung của nhân loại, và chỉ có thể có một chế độ dân chủ dưới nhiều hình
thức, chứ không hề có sự phân chia giữa dân chủ tư sản và dân chủ vô sản.
Chế độ dân chủ, dù không thể tránh được những khuyết tật, những nhược điểm
nhất định, vẫn là chế độ có tương lai nhất, vì nó có khả năng tự điều chỉnh,
tự sửa chữa và có khả năng bao dung được mọi xu hướng chính trị, mọi tín
ngưỡng tôn giáo, mọi chủng tộc, mọi lợi ích giai cấp. Mặc dù những người
mác-xít cực đoan (như Lenin chẳng hạn) vẫn cho rằng chế độ dân chủ tư sản
chỉ bảo vệ cho lợi ích của giai cấp tư sản; nhưng giai cấp công nhân ở những
nước tiên tiến trên thế giới ngày càng không tin vào lập luận đó. Trong thực
tế, họ đã giành được quyền tổ chức công đoàn, có quyền bãi công, biểu tình,
đưa được đại biểu của mình vào Quốc hội,… nói chung là nói lên được tiếng
nói của mình, có quyền đấu tranh để bảo vệ quyền lợi thiết thân của mình,
từng bước cải thiện được đời sống vật chất và tinh thần. Nền dân chủ đó
không thể gọi là nền dân chủ tư sản được. Còn cái gọi là chế độ dân chủ vô
sản thực ra chỉ là một sản phẩm của trí tưởng tượng, chỉ có trên lời nói và
trên giấy; còn trong thực tế thì nó đã thất bại ngay từ khi mới sinh ra. Và
vì Lenin đã không giải quyết triệt để những nghịch lý về mặt lý luận khi ông
còn sống, cho nên sau khi ông mất đi, những môn đệ của ông chỉ loay hoay
xung quanh những quan điểm do ông nêu ra, mà không tìm được giải pháp cụ
thể, có hiệu quả để cải tổ chế độ chính trị đó theo đúng định hướng đúng đắn
của những quy luật chính trị, xã hội.
Sự thất bại của công cuộc cải tổ ở Liên Xô dưới thời Gorbachev có nhiều
nguyên nhân. Nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng hàng đầu là những
người lãnh đạo Đảng cộng sản Liên Xô lúc đó đã không dám vượt qua tư tưởng
của Lenin, nói gì đến việc xét lại chính tư tưởng của Marx và Engels.
Sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu cho thấy chế độ
dân chủ là chế độ của tương lai. Nhà nước dưới chế độ dân chủ là một nhà
nước đã bị hạn chế quyền lực, bị khống chế, kiểm soát bởi các cơ quan dân
cử, bởi sự cạnh tranh lành mạnh giữa các đảng phái chính trị, bởi các tổ
chức phi chính phủ, bởi báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng
(mass media), v.v… Nó không trở thành món đồ cổ ở bảo tàng viện như
lời dự đoán mang nhiều tính chất tưởng tượng của Engels, nhưng cũng không
còn là bộ máy quan liêu đứng trên, tách rời khỏi nhân dân như đã từng
bị nhiều nhà tư tưởng, nhà văn phê phán; bởi vì người ta đã tìm ra nhiều
biện pháp để kiểm soát, điều khiển nó.
Một lý thuyết đúng đắn về nhà nước không thể coi nhà nước là một thứ quái
vật như Marx đã từng hình dung, nhưng cũng không thể thần thánh hoá nó. Nhà
nước, cũng như những thực thể khác trong xã hội loài người, có mặt tốt và có
mặt xấu, có khía cạnh tích cực và có khía cạnh tiêu cực. Chỉ nhìn thấy một
trong hai mặt ấy, hoặc tìm cách phủ nhận bằng tư duy trừu trượng một trong
hai mặt ấy, đều là bóp méo sự vật, đem lại cái nhìn phiến diện; và những
giải pháp xuất phát từ những cái nhìn như thế chỉ có thể đem lại sự thất bại
mà thôi.
[1]Marcel Liebman, La révolution bolchéviste,
collection “Marabout université”, Ed. Gérard & C°, Verviers – Belgique,
1967, tr. 390.
[2]Nguyên văn lời nhận xét của Lenin về chế độ dân chủ tư sản
: “Chế độ dân chủ tư sản, tuy là một tiến bộ lịch sử vĩ đại so với thời
trung cổ, song trước sau nó vẫn là (…) một chế độ dân chủ chật hẹp, bị cắt
xén, giả hiệu, giả dối, một thiên đường cho bọn giàu có, một cái cạm bẫy và
một cái mồi giả dối đối với những người bị bóc lột, đối với những người
nghèo. (V. I. Lê-nin, Cách mạng vô sản và tên phản bội Cau-xky, Nxb
Tiến bộ, Matxcơva, 1974, tr.30)
Nguồn: Mai Thái Lĩnh, Huyền thoại về một nhà nước tự tiêu vong, bản điện tử đăng lần đầu trên talawas