Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
RFA phỏng vấn Tiến sĩ Vũ Quốc Dụng về Sách Trắng Nhân Quyền VN
|
|
Giới Thiệu: Đã hơn 20 năm, sau khi chính thức là thành viên của Liên Hiệp Quốc, lần đầu tiên Việt Nam cho công bố Sách trắng về nhân quyền. Các tổ chức theo dõi về nhân quyền quốc tế đánh giá như thế nào về cuốn sách đó, mời quý vị theo dõi cuộc trao đổi giữa Việt Hùng với Tiến Sĩ Vũ Quốc Dụng, viên chức đặc trách ban Á Châu thuộc Hiệp Hội Nhân Quyền Quốc Tế. Từ Frankfurt,Cộng Hoà Liên Bang Đức, Tiến Sĩ Vũ Quốc Dụng đưa ra quan điểm của ông: |
Tòa Soạn Đối Thoại (doi-thoai.com): Đối Thoại đã sao chép bài phỏng vấn từ các chương trình phát thanh cuả RFA. Trong mục đích gởi đến độc giả các bài phỏng vấn bằng dạng viết thật nhanh, nếu có sự sơ sót , xin tác giả , độc giả và đài RFA thông cảm. Mời độc giả nghe lại buổi phát thanh để hiệu đính các chỗ sai trước khi xử dụng.
TS Vũ Quốc Dụng: Trong tập sách này thì Việt Nam chỉ khẳng định lại những gì mà Việt Nam lâu nay đã nói, và đã không trả lời những câu hỏi chính đáng được quốc tế đặt ra. Việt Nam vẫn quan niệm rằng những phê bình về tình hình nhân quyền tại Việt Nam là có ác ý và Việt Nam không chịu hiểu rằng trên thế giới không có nước nào được xem là hoàn thiện trong vấn đề bảo vệ nhân quyền này. Thành ra chỉ có những nước mà được bảo vệ nhân quyền một cách tương đối và những nước còn có những khiếm khuyết căn bản - Việt Nam thuộc về nhóm sau.
Nếu Việt Nam không hoàn thiện vấn đề nhân quyền, Việt Nam có thể nhờ đến sự giúp đỡ của tất cả các tổ chức quốc tế họ sẵn lòng giúp đỡ Việt Nam trong vấn đề này.
Việt Hùng: Trên cơ sở lý luận trong cuốn sách này, Việt Nam vẫn nói rằng Việt Nam có giá trị về nhân quyền khác với các quốc gia Âu Mỹ. Phải chăng rằng có sự khác biệt giữa giá trị về nhân quyền chung với giá trị về nhân quyền của Việt Nam hay sao?
TS Vũ Quốc Dụng: Trong tập sách này có nêu lên một số khái niệm về nhân quyền. Nhưng nếu đọc kỹ thì chúng ta thấy rằng những khái niệm này là sáo ngữ và nó không giống với quan niệm chung của thế giới về nhân quyền.
Trong giai đoạn hội nhập thế giới hiện nay thì Việt Nam không nên xé lẻ và tự định nghĩa quyền làm người khác với những người khác như vậy. Tôi nói một thí dụ Việt Nam công nhận tính phổ biến của nhân quyền nhưng lại giới hạn tính phổ biến của nhân quyền bằng những đặc thù của xã hội, của cộng đồng. Việt Nam cũng xem quyền cá nhân phải được đặt dưới quyền của tập thể. Trong khi thế giới thì đã xem rằng 30 điều khoản nhân quyền trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền trước hết là quyền cá nhân.
Thế giới thường lên án những chính phủ độc tài nhân danh quyền tập thể để đàn áp các quyền cá nhân. Đây là một quan niệm nó mở đường cho những lý luận và những hành động vi phạm nhân quyền. Tôi thấy rằng cộng đồng quốc tế ngày nay họ đã vượt qua giai đoạn tranh cãi về cách nới lõng luật nhân quyền của quốc tế. Họ đã bỏ rất nhiều công sức để mà họ đầu tư, củng cố những cơ chế về vấn đề nhân quyền cũng như về luật nhân quyền. Thành ra nhân quyền nó phải có những giá trị tuyệt đối, và các nhân quyền nó có những thuộc tính là phổ biến. Tức là mọi người mọi nơi phải được hưởng như nhau. Nhân quyền là bất khả phân và nó ràng buộc với nhau cũng như là nó hổ tương cho nhau. Đây là kết luận mà Hội nghị quốc tế nhân quyền vở Geneva năm 1993 đã kết luận như thế.
Tôi thấy rằng trong vấn đề này Việt Nam đã không theo kịp và còn muốn phủ nhận những kết luận này nữa.
Việt Hùng: Nếu căn cứ qua sự trình bày của ông thì xem ra có vẽ không mấy được tích cực. Tuy nhiên trong thời gian vừa qua, chính phủ Việt Nam cũng đã có một số nới lõng và cải thiện về mặt nhân quyền.
TS Vũ Quốc Dụng: Chúng tôi cũng công nhận rằng Việt Nam có đạt được một số thành tựu nhất định về mặt kinh tế. Thí dụ như với sự giúp đỡ của quốc tế, Việt Nam đã có rất nhiều những tiến bộ trong việc xoá đói giảm nghèo. Nhưng nếu xét về những quyền dân sự và chính trị thì Việt Nam còn có rất nhiều những khiếm khuyết, và Việt Nam thì thường lấy những thành tựu về vấn đề kinh tế để biện minh cho những khiếm khuyết này.
Chúng ta cần phải xác định rằng là Việt Nam vẫn còn xâm phạm các quyền dân sự và chính trị, mặc dù đã tham gia ký kết vào Công ước về quyền dân sự và chính trị. Tôi cho rằng Việt Nam mới chỉ có ký kết làm cảnh những công ước vì cho đến nay Việt Nam vẫn không chịu ký kết vào nghị định thư đính kèm với Công ước về quyền dân sự và chính trị này như Việt Nam đã làm đối với công ước thiếu nhi.
Thành ra nếu không ký kết vào nghị định thư này thì nó sẽ không có sự giám sát chặt chẽ, không chấp nhận sự giám sát chặc chẽ mà cũng không chấp nhận những biện pháp chế tài trong các trường hợp vi phạm. Thành ra vấn đề ký kết chỉ để làm cảnh thôi.
Việt Hùng: Một trong những điểm mà người ta ghi nhận trong quyển sách này là đã dành một phần đáng kể đề cập đến các vấn đề của những người sắc tộc thiểu số. Phải chăng chính phủ Việt Nam đã ý thức được rằng chính sách đối xử với những đồng bào sắc tộc thiểu số có thể sẽ tạo những ngộ nhận hoặc là những vấn đề nhạy cảm đối với dư luận quốc tế?
TS Vũ Quốc Dụng: Vâng, chúng tôi nghĩ rằng đây là một vấn đề rất là nhạy cảm mà nó liên quan đến một quan điểm căn bản của Việt Nam là cho rằng không có một nước nào có quyền áp đặt mô hình chính trị, kinh tế, văn hoá của mình lên những quốc gia khác. Điều này đúng theo hiến chương của LHQ. Nhưng nó chỉ đúng một phần thôi, bởi vì hiện nay thế giới không thể chấp nhận việc một quốc gia dùng bạo lực để đàn áp người dân của mình.
Tôi nói một thí dụ là tại sao quốc tế không thể làm thinh là bởi vì việc đàn áp đó có thể nó sẽ tạo ra những hậu quả nghiêm trọng đe doạ đến an ninh và sự ổn định trong vùng. Nó để lại nhiều di hại mà thế giới phải giải quyết, thí dụ như chúng ta thấy trong thập niên 70 và 80 đã có nạn thuyền nhân bỏ nước ra đi hàng loạt. Hay là hiện nay có rất nhiều người đã phải bỏ sang những nước khác tị nạn. Thí dụ như Campuchia đi sang Thái Lan để tị nạn, trong đó có rất nhiều người Thượng, hay là hiện nay chúng ta nghe đến những người Khme Krong chẳng hạn. Trong vấn đề này, hội nghị Geneva 1993 về nhân quyền cũng khẳng định rằng là hỗ trợ và bảo vệ mọi nhân quyền là quan tâm chính đáng của cộng đồng quốc tế.
Dù là có đặc thù quốc gia riêng, khu vực, rồi vấn đề lịch sử, văn hoá, tôn giáo nhưng các quốc gia có bổn phận phải hỗ trợ và bảo vệ nhân quyền mà không được viện dẫn các lý do dựa trên thể chế chính trị và kinh tế, văn hoá. Thành ra trong tuyên bố thiên niên kỷ cũng có nói đến vấn đề này. Vấn đề những người Thượng, những người thiểu số, trong đó có người Hmong chạy sang các nước khác đã trở thành gánh nặng của thế giới. Thành ra nó có vấn đề liên quan đến thế giới, thế giới quan tâm đến vấn đề đó là bởi vì thế giới, những nước ở quanh vùng cũng như những nước khác phải tiếp nhận người tị nạn, cũng phải tìm cách để giải quyết vấn đề đó.
Thành ra đây là vấn đề mà tôi nghĩ, đối với Việt Nam là một trong những trọng điểm chính của tập sách này.
Việt Hùng: Hơn 20 năm kể từ ngày Việt Nam chính thức trở thành thành viên của LHQ và lần đầu tiên Việt Nam công bố cuốn Sách trắng về nhân quyền. Nếu nhìn về mặt tích cực, nội dung của cuốn Sách trắng này có bộc bạch được điều gì không, thưa ông?
TS Vũ Quốc Dụng: Nói về mặt tích cực thì nhà nước Việt Nam đã tạo ra một số những căn bản về mặt văn hoá, kinh tế và xã hội. Nhưng mà điều đó không đủ. Về mặt chính trị, về mặt dân sự thì Việt Nam còn rất nhiều khiếm khuyết. Chúng tôi cho rằng Việt Nam cho đến nay vẫn luôn luôn ở trong thế đối phó, xem nhân quyền là một gánh nặng, xem những người nào phê bình nhân quyền là có ác ý nên luôn luôn ở trong thế phản ứng.
Chúng tôi nghĩ rằng nhân quyền là lý tưởng cao đẹp, một điều giống như những người đi theo một tôn giáo, họ hướng theo tôn giáo. Nếu có những người đồng đạo nói với họ rằng họ chưa đạt được niềm tin, thì đó là những phê bình có tính cách tích cực. Cho nên tôi nghĩ rằng nếu Việt Nam thoải mái hơn để nhận những khuyết điểm và yêu cầu quốc tế giúp đỡ Việt Nam để cải thiện vấn đề nhân quyền thì nó sẽ không thành vấn đề.
Việt Hùng: Bằng kinh nghiệm của mình thì ông có thể cho ví dụ cụ thể nào đó để thính giả có thể dễ hình dung.
TS Vũ Quốc Dụng: Thí dụ như một khi Việt Nam ký vào Công ước về quyền dân sự và chính trị. Thì cứ hai năm Việt Nam sẽ phải có một báo cáo. Báo cáo này luôn luôn nó đến trễ, năm 2002 nó lại gộp hai báo cáo vào làm một. Trong tập sách này Việt Nam cũng có nói rằng là Việt Nam bảo vệ thành công. Nhưng điều mà Việt Nam không nói ở trong đó là nó có rất nhiều những chỉ trích, những phê bình và những điều yêu cầu Việt Nam phải cải thiện. Trong tập sách này Việt Nam không nói đến. Hoặc là trong những buổi đối thoại, bởi vì tôi thấy rằng phương thức đối thoại hiện nay nó là cách giải quyết duy nhất về vấn đề nhân quyền. Trong những lần đối thoại đó Việt Nam luôn luôn có thái độ rất là cứng rắn, thí dụ như nói vế vấn đề tự do tôn giáo hay tự do ngôn luận thì Việt Nam nói rằng là không, chúng tôi không vi phạm, và Việt Nam tìm mọi cách để mà trì hoãn các biện pháp để mà cải thiện các vấn đề nhân quyền.
Việt Hùng: Thay mặt quý thính giả của đài, xin cảm ơn ông Cũ Quốc Dụng.