Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Nguyễn Kiến Giang: |
1 2
3.8.2006
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7705&rb=0306
4. Sự phục hưng của khái niệm “xã hội công dân”
Hơn hai mươi năm nay, đặc biệt trong thời gian gần đây, khái niệm “xã hội công
dân” tưởng chừng đã đi vào quá khứ, bỗng nhiên “sống lại” như một trong những
khái niệm then chốt để lý giải các quá trình xã hội - chính trị diễn ra ở phưong
Tây cũng như ở phương Ðông. Chỉ cần nhắc tới một số tác giả nổi tiếng cũng đủ
thấy: Charles Taylor (Modes of Civil Society,1990); Edward Shils (The
Virtues of Civil Society, 1991); Michael Waltzer (The Idea of Civil
Society, 1991); Daniel Bell (American Exceptionalism Revisited: The Role
of Civil Society, 1989)...
Tại sao có hiện tượng đó?
Ở các nước phương Tây, sự thâm nhập của Nhà nước vào đời sống kinh tế và, do đó,
vào đời sống xã hội của dân chúng nổi lên như một nét chủ đạo của chủ nghĩa tư
bản hiện đại. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, xã hội tư bản chủ nghĩa phương
Tây lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng. Các công ty độc quyền ra đời
cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX ngày càng tập trung của cải và quyền lực vào
tay, trong khi đại đa số dân chúng bị đẩy vào tình trạng bần cùng hóa. Giai cấp
tư sản cầm quyền ở các nước đó tìm cách giải quyết khủng hoảng bằng hai cách:
hoặc thiết lập chế độ toàn trị phát-xít và đi vào con đường bành trướng và xâm
lược (chế độ Mussolini ở Italia, chế độ Hitler ở Ðức...); hoặc là mở rộng sự can
thiệp của Nhà nước vào đời sống kinh tế và xã hội theo chủ nghĩa tự do và thuyết
Keynes (chính quyền Roosevelt ở Mỹ đại diện cho xu hướng này). Chủ nghĩa
phát-xít cuối cùng đã thất bại. Còn con đường tăng cường sự điều tiết của Nhà
nước tỏ ra tương đối thành công. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, xu hướng này
được trực tiếp thực hiện ở nhiều nước châu Âu (kể cả Ðức và Italia) nhằm khôi
phục và phát triển kinh tế, ổn định tình hình xã hội và chính trị. Nó cũng nhằm
giải quyết những mâu thuẫn và xung đột bên trong các nước này trước ảnh hưởng
rộng lớn của các nước xã hội chủ nghĩa. Khái niệm được nhắc tới nhiều nhất trong
các văn bản có tính chất cương lĩnh ở các nước phương Tây là “Nhà nước phúc
lợi”. Nhà nước không chỉ điều tiết đời sống kinh tế theo hướng chống độc quyền
mà còn bắt đầu bảo đảm những phúc lợi xã hội cần thiết cho dân cư (kể cả trợ cấp
thất nghiệp ở mức đáng kể). Như vậy, trong đời sống kinh tế, ranh giới giữa xã
hội công dân (tư nhân) và Nhà nước (công cộng) không còn rành mạch như trước.
Trong đời sống chính trị cũng vậy, nhưng theo một hướng ngược lại. Trong các thế
kỷ trước kia, Nhà nước giống như một thực thể xa lạ nằm bên ngoài và đứng bên
trên xã hội công dân. Ðó là những Nhà nước được áp đặt lên xã hội: Nhà nước quân
chủ, Nhà nước độc tài... Cả ở những nước đã trải qua cách mạng chính trị rộng
lớn như Pháp cũng chưa thiết lập được một Nhà nước thật sự dân chủ. Trong phần
lớn các trường hợp, Nhà nước nằm trong tay một thiểu số có thế lực (kinh tế hay
chính trị, hay cả hai). Ðó chính là cơ sở hiện thực để Marx và Engels kết luận
Nhà nước là công cụ của giai cấp thống trị. Nhưng tình hình dần dần đổi khác. Do
các cuộc đấu tranh giành dân chủ của đại đa số dân chúng ngày càng phát triển
mạnh mẽ nên các Nhà nước phương Tây cũng chuyển dần thành những Nhà nước dân chủ
ở những mức độ khác nhau. Ðiều đó đặc biệt thấy rõ từ sau Chiến tranh thế giới
thứ hai, đến mức khó có thể nói Nhà nước ở một số nước là thuộc về giai cấp nào.
Các cơ quan quyền lực, trong nhiều trường hợp, được cấu tạo từ các cuộc bầu cử
có sự tham gia tích cực của đông đảo quần chúng. Tát nhiên, chưa thể nói đó là
những chế độ dân chủ thật sự, “trăm phần trăm” vì các giai cấp, các tầng lớp có
thế lực vẫn khống chế các cơ chế dân chủ ở một mức độ quan trọng. Nhưng cũng
không thể nói rằng Nhà nước ở những nước đó chỉ là bộ máy quản lý của giai cấp
tư sản, như những người mác-xít giáo điều thường nghĩ.
Trong đời sống kinh tế, quá trình dân chủ hóa cũng được thực hiện từng bước. Các
công ty lũng đoạn lớn không những bị Nhà nước điều tiết và hạn chế mà cả Nhà
nước lẫn các công ty ấy cũng bị những người lao động, thông qua các tổ chức đại
diện của họ, tác động tới một cách mạnh mẽ. Ngày nay, ở các doanh nghiệp lớn, đã
hình thành một “bộ ba” (chủ công ty, Nhà nước và người lao động làm công) chịu
trách nhiệm quyết định những vấn đề quan trọng nhất như tiền công, điều kiện lao
động, định hướng phát triển kỹ thuật và công nghệ... Những mâu thuẫn gay gắt
giữa lao động và tư bản, giữa Nhà nước và các cá nhân công dân không còn nổ bùng
thành những cuộc xung đột lớn, những cuộc cách mạng xã hội phá vỡ trật tự chung
của xã hội mà dần dần được giải quyết trên cơ sở đồng thuận (consensus). Thế là
cả trong lĩnh vực đời sống kinh tế, ranh giới giữa xã hội công dân và Nhà nước
cũng không còn rành mạch như trước.
Nhưng tình hình đó không dẫn tới chỗ mất đi xã hội công dân như có người lầm
tưởng, mà chỉ đưa tới một dạng mới của xã hội công dân, vừa củng cố những chân
đứng độc lập của nó trong quan hệ với Nhà nước, lại vừa thâm nhập qua lại giữa
nó và Nhà nước. Trong quan hệ ấy, Nhà nước cũng thay đổi tính chất: Nhà nước
không còn là một bộ phận nằm bên ngoài cơ thể xã hội nữa mà trở thành một bộ
phận bên trong của nó.
Sự phục hưng của khái niệm “xã hội công dân” diễn ra trong bối cảnh chung ấy. Có
thể tìm thấy hai lý do:
Thứ nhất, sự can thiệp của Nhà nước vào đời sống kinh tế và các lĩnh vực khác
của dân cư, khi được đẩy sâu quá mức cần thiết, đã trở thành một vật chướng ngại
đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội công dân. Nói cách khác, “cái công
cộng” bắt đầu lấn át “cái tư nhân” (ở đây, cái tư nhân không chỉ là ở trong kinh
tế mà cả ở trong các mặt khác, nhất là bình diện đời sống tinh thần). Những hoạt
động kinh tế tư nhân bị gò bó quá mức theo những qui định của Nhà nước đã trở
thành kém hiệu quả. Ðó là cơ sở hiện thực để cho chủ nghĩa bảo thủ (hay chủ
nghĩa bảo thủ mới) có cơ nảy nở và phát triển. Cái thường được gọi là chủ nghĩa
Thatcher và chủ nghĩa Reagan chính là biểu hiện của chủ nghĩa bảo thủ ấy. Nó đề
xướng việc quay trở lại với tự do kinh doanh, thực hiện các quá trình tư nhân
hóa đối với khu vực kinh tế Nhà nước đã trở nên quá nặng nề và kém hiệu quả,
đồng thời giảm nhẹ gánh nặng của “Nhà nước phúc lợi” (wellfare states). Trong
những điều kiện hiện nay, nó không thể, và thật ra cũng không muốn, xóa bỏ mọi
sự can thiệp của Nhà nước vào đời sống kinh tế; nó chỉ đưa sự can thiệp này
xuống mức cần thiết tối thiểu. Nhưng trên con đường thực hiện những chủ trương
này, nó vấp phải sự chống đối về hai mặt: một mặt, của chính giới kinh doanh (do
những điều kiện kinh doanh ngày càng khó khăn, nhiều người muốn Nhà nước thực
hiện chế độ bảo hộ chặt chẽ); mặt khác, các tầng lớp lao động rộng rãi cũng
chống lại các chủ trương ấy vì họ cũng có thể bị cắt giảm nhiều các khoản trợ
cấp xã hội. Có thể nói rằng, “xã hội công dân” dưới dạng hiện nay vừa muốn bảo
vệ tính độc lập, vừa muốn có sự điều chỉnh của Nhà nước ở những lĩnh vực nằm
ngoài tầm với của nó.
Thứ hai, quá trình dân chủ hóa ở các nước phát triển phương Tây đã đi tới một
giới hạn mới: chế độ dân chủ đại nghị (démocratie représentative) đang mất đi
sức sống và những tiền đề cho một chế độ dân chủ tham gia (démocratie de
participation) đang dần dần xuất hiện. Chế độ dân chủ đại diện là một thành quả
rất lớn của sự phát triển xã hội về mặt chính trị, do đó cũng là thành quả của
xã hội công dân nhưng đến giai đoạn này, nó bắt đầu trở thành xơ cứng, kém hiệu
lực và, ở một mức độ nào đó, trở thành kém dân chủ, thậm chí phản dân chủ. Một
mặt, bộ máy Nhà nước, dù là trong chế độ dân chủ, không những không gạt bỏ mà
còn làm tăng tính chất quan liêu của nó. Ðời sống xã hội càng phức tạp, Nhà nước
càng phải qui định nhiều thứ và hệ quả tất yếu là có nhiều qui định trở thành
những trói buộc mới đối với các cá nhân công dân, đối với xã hội. Mặt khác,
chính những tổ chức chính trị dân chủ - trước hết là các chính đảng ra tranh cử
qua mỗi cuộc bầu cử, với mục đích giành sự tín nhiệm lớn nhất của cử tri đối với
mình - cũng dần dần biến thành những cơ thể thoái hóa, quan liêu hóa. Tình trạng
vừa giành nhau, vừa chia nhau thế lực và quyền lợi đã xảy ra, được gọi bằng một
thuật ngữ mới: partitocratie (sự thống trị của các đảng). Nó khác với
đảng trị (partocratie) chỉ sự độc quyền thống trị của một đảng. Các đảng ra
tranh cử đều giống nhau ở chỗ đặt lợi ích của các đảng lên trên lợi ích của quần
chúng, thậm chí “móc ngoặc” nhau để chia chác quyền lợi. Tình trạng khủng hoảng
chính trị ở một số nước châu Âu (nổi bật nhất là Italia) cho thấy rõ điều này.
Trong hoàn cảnh ấy, các cá nhân công dân muốn có một chế độ dân chủ khác, cao
hơn, trong đó, những lợi ích và ý kiến của họ được phản ánh một cách trực tiếp
hơn. Sự phát triển của những phương tiện liên lạc mới, dựa vào kỹ thuật và công
nghệ tin học, nhất là các máy điện toán, cũng cho phép thực hiện sự tham gia
trực tiếp của các cá nhân công dân vào đời sống chính trị của xã hội. (Chẳng
hạn, ngày nay tổng thống Mỹ có thể trực tiếp yêu cầu từng cá nhân công dân cho
biết ý kiến của họ về vấn đề này hay vấn đề khác, nếu muốn).
Ðó là những lý do chủ yếu đưa tới sự phục hưng của khái niệm “xã hội công dân” ở
các nước phát triển phương Tây, ở chính nơi xã hội công dân đã tồn tại hàng trăm
năm nay. Trong The Public Interest, tác phẩm vừa mới xuất bản của mình,
D. Bell nhấn mạnh rằng “yêu cầu trở về với xã hội công dân là yêu cầu trở về với
một phạm vi đời sống xã hội có thể quản lý được, và đời sống xã hội ấy phải coi
trọng sự liên hiệp tự nguyện của các giáo hội và các cộng đồng, để cho các quyết
định được đưa ra từ các địa phương mà không bị kiểm soát bởi Nhà nước và bộ máy
quan liêu của nó” (trích theo Adam B. Seligman, The Idea of Civil Society,
The Free Press, N.Y., p. 2). Cũng tương tự như vậy, Charles Taylor nêu bật tư
tưởng về xã hội công dân như phần nổi bật nhất trên con đường tiếp tục đấu tranh
cho tự do trong thế giới hiện đại (Sách đã dẫn). Và đối với Michael
Waltzer thì xã hội công dân chính là sự tổng hợp những giá trị khác nhau trong
sự tìm kiếm một “đời sống tốt đẹp”. Một cách cụ thể hơn, Mickey Kaus, trên báo
New Republic, đã kêu gọi mở rộng xã hội công dân ở nước Mỹ, đề xướng
những chính sách nhằm đưa người giàu và người nghèo cùng sánh vai nhau bước vào
những ngôi trường công cộng được sửa sang lại, những trung tâm và những cơ quan
phục vụ quốc gia...
5. Chế độ xã hội chủ nghĩa và khái niệm “xã hội công dân”
Nếu sự phục hưng của khái niệm “xã hội công dân” ở các nước phương Tây nổi lên
như một trào lưu mạnh mẽ như đã nói trên thì ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ,
trước hết ở các nước SNG và Ðông Âu, nó xuất hiện như một hiện tượng hoàn toàn
mới mẻ và có sức sống mãnh liệt hơn nhiều. Trong lịch sử các nước này, xã hội
công dân cũng đã từng tồn tại với những mức độ trưởng thành khác nhau nhưng với
việc thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa ở đó, xã hội công dân bị xóa bỏ và ngay
cả khái niệm “xã hội công dân” cũng không hề được nhắc tới.
Thật ra, chủ nghĩa xã hội như một trào lưu tư tưởng đấu tranh cho công bằng xã
hội không có gì ngược lại với xã hội công dân cả. Chính sự ra đời của chủ nghĩa
xã hội là sản phẩm của xã hội công dân, nó thể hiện những yêu cầu về công bằng
và bình đẳng xã hội của những cá nhân độc lập về tư tưởng và chính trị, muốn
thoát ra khỏi thân phận làm thuê. Và với ý nghĩa này, chừng nào trong xã hội vẫn
còn những bất công xã hội, chừng đó chủ nghĩa xã hội với tư cách một trào lưu tư
tưởng và chính trị vẫn còn đất sống. Nhưng, thật nghịch lý, khi đem những lý
tưởng của chủ nghĩa xã hội ra thực hiện một cách phổ biến trên phạm vi toàn xã
hội thì tình hình lại không giống như những lý tưởng của nó khi mới được đề
xướng. Trong tương lai, không biết còn có những mô hình xã hội chủ nghĩa nào
khác không nhưng mô hình “chủ nghĩa xã hội Nhà nước” như đã được đem thực hiện ở
một loạt nước thì đã tỏ ra không có hiệu quả, nói đúng hơn, hiệu quả của chúng
hoàn toàn đi ngược với những lý tưởng ấy. Nói cách khác, chủ nghĩa xã hội nảy
sinh từ xã hội công dân nhưng khi đem ra thực hiện, xã hội công dân liền bị
triệt tiêu.
Trong mô hình “chủ nghĩa xã hội Nhà nước”, mọi cái đều bị Nhà nước hóa triệt để.
“Cái công cộng” lấn át và, cuối cùng, xóa bỏ “cái riêng tư” (cái tư nhân). Từ
đời sống kinh tế đến đời sống chính trị, từ đời sống gia đình tới đời sống văn
hóa - tinh thần, tất cả đều bị Nhà nước chi phối tận từng chi tiết. Con người
lao động trong xã hội công dân cũ (mà Marx coi là xã hội tư sản) ít ra còn có sở
hữu về sức lao động của mình cả khi không có hay bị tước mất quyền sở hữu về tư
liệu sản xuất thì bây giờ, sở hữu sức lao động và quyền tự do bán sức lao động
cũng không còn nữa. Họ chỉ còn là “người sở hữu tập thể” đối với tư liệu sản
xuất mà thật ra là không có sở hữu gì hết. Sở hữu mất, những lĩnh vực riêng tư
của đời sống con người (gia đình, tín ngưỡng,...) cũng không còn giữ được tính
độc lập mà biến thành những “đinh ốc” không hồn trong guồng máy xã hội do Nhà
nước hoàn toàn điều khiển theo ý chí của nó. Xã hội công dân, vì thế, bị xóa bỏ,
nhường chỗ lại cho xã hội toàn trị (société totalitaire).
Thật dễ hiểu tại sao vấn đề xã hội công dân được đặt ra một cách cấp thiết và
bao trùm trong các phong trào dân chủ ở các nước Ðông Âu và Liên Xô cũ cuối
những năm 80 - đầu những năm 90. Nói như A. N. Neduchevski, sự xung đột giữa xã
hội công dân và Nhà nước là “vấn đề tư tưởng - chính trị trung tâm của các quốc
gia Ðông Âu” (“Dân chủ và bạo quyền thời cận đại và hiện đại”, Voprocy
filosofii, số 10, 1993, Moskva, tr. 18). Trong những điều kiện lịch sử của
các nước đó, phần nào giống với hoàn cảnh Tây Âu thế kỷ XVIII, vấn đề xã hội
công dân vừa gắn với vấn đề độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia, vừa gắn với
những yêu cầu dân chủ của đại đa số dân chúng. Nó thể hiện thành sự khôi phục
tính độc lập của xã hội công dân, hay nói đúng hơn, sự khôi phục của chính bản
thân xã hội công dân.
Nhưng vấn đề không được đặt ra theo lối lựa chọn giữa “xã hội công dân hay
Nhà nước” như Meduchevski quan niệm. Ðó là vấn đề “xã hội công dân và Nhà
nước”, vì rằng đó không phải là vấn đề có cái này thì không có cái kia. Không
một xã hội công dân nào có thể tồn tại mà không có Nhà nước (tất nhiên, đây là
Nhà nước pháp quyền); vấn đề là không được để cho xã hội công dân bị Nhà nước
hoá, bị Nhà nước “nuốt chửng” như trong xã hội toàn trị trước đây. Tất cả các
quan hệ công cộng và/hay tư nhân phải được điều tiết bằng Nhà nước pháp quyền.
Không có Nhà nước pháp quyền mà nói tới xã hội công dân là hoàn toàn vô nghĩa.
Chính những ngộ nhận về vấn đề này đã dẫn tới tình trạng hỗn loạn xã hội rất tai
hại sau những biến đổi chính trị căn bản ở các nước Ðông Âu. Sự suy yếu quyền
lực Nhà nước đã bắt dân chúng phải trả một cái giá rất đắt. Tất cả vấn đề ở đây
là thay thế Nhà nước toàn trị bằng Nhà nước pháp quyền, chứ không phải thay thế
Nhà nước bằng tình trạng phi Nhà nước. Ở một mức độ rất lớn, chính sự hình thành
và củng cố Nhà nước pháp quyền là một trong những tiền đề bắt buộc của sự khôi
phục và phát triển của xã hội công dân.
6. Xã hội công dân và dân chủ hóa
Ðến đây, có thể rút ra một nhận xét có tính nguyên tắc: quá trình dân chủ hóa ở
tất cả các nước đều gắn liền với sự hình thành và phát triển của xã hội công
dân. Không như vậy, quá trình dân chủ hóa sẽ không có nội dung xác thực. Như đã
biết, dân chủ hóa, về thực chất, là chuyển quyền lực chính trị trong tay Nhà
nước sang tay nhân dân. Nói cách khác, nhân dân phải trở thành chủ thể của quyền
lực Nhà nước.
Không phải sự tồn tại của xã hội công dân ở bất cứ giai đoạn nào của nó cũng gắn
với chế độ dân chủ. Xã hội công dân có thể và trên thực tế đã xuất hiện và tồn
tại ngay cả khi không có chế độ dân chủ, thậm chí cả dưới một chế độ quân chủ và
độc tài. Nhưng quá trình dân chủ hóa thì khác. Nó chỉ có thể có nội dung đích
thực khi gắn với sự hình thành và phát triển của xã hội công dân. Có thể có xã
hội công dân (tất nhiên dưới dạng không hoàn thiện) mà chưa có chế độ dân chủ,
nhưng không thể có chế độ dân chủ mà không có xã hội công dân.
Ðiều đó thấy rõ trong các quá trình dân chủ hóa ở các lục địa khác nhau. Trong
bài “Những con đường của dân chủ vào lúc kết thúc thế kỷ XX: bối cảnh thế giới”,
ME MO, Moskva, số 10, 1993), E. Rashkovski nói: “Trong bối cảnh xã hội -
văn hóa và chính trị hiện nay, các khái niệm dân chủ và xã hội công dân không
tách rời nhau. Khi các cá nhân đạt tới một trình độ phát triển khá cao và mỗi cá
nhân mang những lợi ích và xu hướng khác nhau, hay nói theo thuật ngữ xã hội
học, khi các cá nhân ở trong trạng thái “nguyên tử hóa” thì sự khác nhau và đối
lập nhau giữa các nhóm và các cá nhân là không thể tránh được. Trong những điều
kiện ấy, không thể điều hành xã hội bằng một Nhà nước tập trung hóa. Phải xây
dựng và thực hiện một nguyên tắc điều hành khác: tìm kiếm sự đồng thuận giữa các
nhóm và các cá nhân có những lợi ích và xu hướng khác nhau. Và sự đồng thuận ấy
đòi hỏi phải có một Nhà nước pháp quyền mạnh mẽ và có hiệu quả. Tất cả những sự
khác nhau và đối lập nhau trong xã hội phải được điều tiết bằng những thể chế
luật pháp trên cơ sở những giá trị dân chủ và nhân bản”. E. Rashkovski nhấn mạnh
tới vai trò đặc biệt của sự đồng thuận trong xã hội. Theo ông, những tác động
mạnh mẽ chưa từng thấy có tính đặc trưng cho thế giới hiện nay về kinh tế, thông
tin, tộc người - dân tộc, tổ chức, tư tưởng,... đã và đang đem lại định hướng
đặc biệt cho bộ mặt lịch sử hiện nay (hậu truyền thống và, về nhiều mặt, còn là
hậu công nghiệp). Tính cô lập và những ranh giới giữa các nhóm và các xã hội
đang bị xóa mờ dần. Những kinh nghiệm đau xót về bao nhiêu cuộc xung đột xã hội
trong quá khứ và sự tự ý thức của cá nhân gắn liền với ý thức cộng đồng, thậm
chí với ý thức toàn cầu, đã và đang đem lại những xung lực mới cho sự đồng thuận
bên trong xã hội và giữa các xã hội khác nhau. Có thể nói, các khái niệm dân chủ
hóa và đồng thuận xã hội, trong những điều kiện của thế giới hiện đại, là các
khái niệm không những thuộc cùng một cấp độ mà còn giao nhau về nội dung.
Ở các nước phát triển về kinh tế và về dân chủ, vấn đề đó dù sao cũng đã có được
những phương thức giải quyết phần nào có hiệu quả. Ở đó, người ta đang đi tìm
những phương thức mới, có hiệu quả hơn. Nhưng ở các nước kém phát triển, nhất là
ở những nước đang cố gắng vượt qua tình trạng kém phát triển, vấn đề này đang
được đặt ra gay gắt hơn nhiều. Những cuộc đấu tranh quyết liệt đang diễn ra
trong quá trình dân chủ hóa tại các nước đó. Về thực chất, đó là quá trình đấu
tranh giữa xã hội công dân và chế độ độc tài. Nam Triều Tiên là một thí dụ nổi
bật. Trong bài “Phát triển kinh tế và dân chủ hóa ở Nam Triều Tiên” (Korea
and World Affairs, số 4, 1991, Seoul), Chung-Shi Ahn đã xem xét mối quan hệ
giữa những biến đổi kinh tế và sự hình thành xã hội công dân ở nước này. Ông nêu
bật những nỗ lực vô tận của các công dân nhằm giành tự do cá nhân và tính độc
lập của xã hội đối với sự kiểm soát độc đoán của uy quyền chính trị (ở đây là
chế độ độc tài của một nhóm cầm quyền riêng, tức là giới quân sự). Ở Nam Triều
Tiên, trên thực tế, chế độ độc tài không phải bao giờ cũng kiểm soát khu vực xã
hội một cách tuyệt đối. Do đó, xã hội công dân có được một mức độ độc lập nào đó
và thường được phép tự kiểm soát trong những giới hạn nhất định. Nhưng theo tác
giả này, khi xã hội công dân đã đạt tới một trình độ phát triển nào đó thì sự
xung đột của nó với quyền lực độc tài là không thể tránh khỏi, nhất là với bộ
máy đàn áp. Các cuộc đấu tranh dân chủ hóa nảy sinh dưới những hình thức khác
nhau mà mục đích là: 1) các thể chế đàn áp của nhà nước bị thay bằng những cơ
quan đại diện trong tiến trình dân chủ hóa và, do đó, xã hội công dân ngày càng
độc lập hơn với bộ máy Nhà nước; 2) thông qua quá trình ấy, những hình thức của
quyền công dân dân chủ xuất hiện ngày càng nhiều, bắt buộc Nhà nước phải đặt các
thể chế của nó vào những quan hệ vững chắc hơn với xã hội công dân.
Quá trình này cũng đã và đang diễn ra ở nhiều nước Mỹ-La tinh. Nam Triều Tiên,
theo tác giả, cũng trải qua quá trình đó. Việc thiết lập chính quyền dân sự thay
cho chính quyền quân sự qua cuộc bầu cử tổng thống đầu năm 1993 là một thành tựu
to lớn của dân chủ hóa cũng như của sự phát triển xã hội công dân cao hơn. Không
thể nói rằng ở các nước khác, tình hình cũng sẽ diễn ra như ở Nam Triều Tiên.
Nhưng về đại thể, nếu quan sát kỹ tình hình ở một số nước châu Á như Thái Lan,
Ðài Loan, Philippin, v.v..., người ta thấy có những quá trình mang nội dung
giống với Nam Triều Tiên.
Một điểm được Chung-Shi An nhấn mạnh là không được đồng nhất tính độc lập của xã
hội công dân với “một Nhà nước yếu”. Ông nói: “Thật mỉa mai khi chúng ta đi đủ
một vòng để kết luận rằng dân chủ cần có một Nhà nước mạnh. Tuy nhiên, ở đây,
một Nhà nước mạnh tuyệt nhiên không phải là một sự biện minh cho việc quay trở
về với hệ thống cũ. Trong một Nhà nước thật sự dân chủ, uy quyền của Nhà nước sẽ
lại được xã hội công dân trao cho và, do đó, các cơ quan Nhà nước có thể trở nên
mạnh hơn trước đây, tuy với một quan niệm khác”.
Xin lấy ý kiến vừa dẫn để kết thúc bài viết này.
Tháng mười hai 1993
*
Phụ lục
Ðề cương: Sự hình thành xã hội công dân ở phương Đông
Bản đề cương này được soạn hồi tháng ba 1991, trước khi viết “Tìm hiểu
khái niệm xã hội công dân” (1992). Nhưng rồi sau đó không có điều kiện viết
thành tiểu luận như dự định. Dù sao trong đề cương đã có một số luận điểm làm
chỗ dựa cho bài viết trên đây, xin ghi lại để tham khảo.
1. Đặt vấn đề
Thế giới hiện nay, xét trên bình diện phát triển xã hội và kinh tế - kỹ thuật,
thường được chia thành hai nhóm chủ yếu: các nước phát triển và các nước kém
phát triển (hay đang phát triển). Tương ứng với sự phân chia đó là sự phân chia
thành phương Ðông và phương Tây. Ðó là một sự phân chia hết sức tương đối vì
không hề có một ranh giới dứt khoát giữa hai khái niệm địa lý - xã hội
(géosocial) này, (ngay trong mỗi “khu vực” ấy, cũng có sự phân chia giữa các
nước phát triển và chưa phát triển). Dù sao đã có thể nói tới những quan niệm
chung nào đó về phát triển và tiến bộ xã hội. Lịch sử đến cuối thế kỷ XX này cho
thấy một thế giới mang tính chỉnh thể, tính toàn cầu hơn đã tưởng. Con đường văn
minh loài người cũng có tính thống nhất rõ rệt. Nhiều mô hình xã hội đã được thử
nghiệm và, cuối cùng, con đường này đã bộc lộ đầy đủ ở những thành tựu có ý
nghĩa phổ biến: xã hội công dân, kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền. Ðó
là bộ ba không thể tách rời nhau, một thứ “tam vị nhất thể” (trinity), trong đó,
khái niệm “xã hội công dân” là khái niệm then chốt và cũng là bao trùm. Có thể
khẳng định: con đường phát triển xã hội và tiến bộ xã hội chính là con đường
hình thành và phát triển của xã hội công dân.
Vấn đề xã hội công dân, vì thế, trở thành vấn đề xã hội (theo nghĩa rộng nhất
của từ này, nghĩa là bao trùm tất cả các mặt của đời sống xã hội) có tầm
quan trọng hàng đầu của thế giới hiện đại, xét ở cả ba bình diện: - hoàn thiện
xã hội công dân ở những nước đã thiết lập được nó trong lịch sử; - hình thành xã
hội công dân ở những nước chưa có nó hoặc có nhưng chưa phát triển đầy đủ; - và
hướng tới một xã hội công dân ở qui mô toàn cầu. Ðó cũng là yêu cầu cấp thiết
nhất để cho mỗi nước và toàn thể loài người chuyển một cách thuận lợi nhất, ít
đau đớn nhất sang nền “văn minh trí tuệ” (dùng khái niệm của Toffler để chỉ văn
minh hậu công nghiệp).
Luận văn này chủ yếu bàn tới mặt thứ hai của vấn đề: sự hình thành xã hội
công dân ở các nước đang phát triển, tất nhiên, trong mối liên hệ hữu cơ với
hai mặt kia...
Trên đây chỉ là một số ý rời rạc, chưa có hệ thống và cũng chưa
có sơ sở nghiên cứu thật vững chắc. Tất cả đều phải được nghiên cứu kỹ trước khi
đi tới những kết luận thật sự có giá trị khoa học và thực tiễn.
Tháng ba 1991
Nguồn: Những bài viết của Nguyễn Kiến Giang trong thập niên 90 được đăng rải rác trên báo chí trong ngoài nước, được chuyền tay hoặc chưa công bố, nay được tập hợp thành loạt bài “Suy tư 90” cho bản đăng chính thức trên talawas, với sự hiệu đính cuối cùng của tác giả.