Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Nguyễn Kiến Giang |
18.8.2006
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7815&rb=0306
1. “Công bằng là đạo người ta ở đời”
Có lẽ không cần phải chứng minh dài dòng rằng công bằng từ ngàn xưa đã là một
trong những khát vọng lớn nhất, một trong những lý tưởng xã hội cao nhất của mọi
con người. (Trong tiểu luận “Công bằng xã hội và kinh tế”, tôi đã trình bày khái
quát về vấn đề này, xin được khỏi nhắc lại). Ðối với người Việt Nam, công bằng
bao giờ cũng được coi là một thứ đạo lý sống của cộng đồng cũng như của mỗi cá
nhân. “Công bằng là đạo người ta ở đời...”, nhiều người đã thuộc lòng câu
này từ thời nhỏ tuổi.
Thật ra, chưa có một tác giả nào nói một cách kỹ lưỡng và có hệ thống về đạo lý
này của người Việt cả. Nhưng qua những lẽ sống và những hiện thực sống của người
Việt xưa nay, có thể hiểu được những nội dung cơ bản của nó. Và cũng như ở các
nước khác, khái niệm “công bằng” được hiểu, được xác định từ những cái ngược
lại với nó, mà theo ngôn ngữ khoa học, đó là sự xác định theo lối tiêu cực:
công bằng được hiểu từ những bất công.
Người Việt cảm nhận rất sâu sắc những nỗi bất công lớn qua cuộc đời của mình
cũng như qua những quá trình lịch sử của dân tộc mình: những bất công mà cộng
đồng mình gánh chịu đối với những thế lực bên ngoài cộng đồng, những bất công
trong nội bộ cộng đồng về địa vị, tài sản, công tội, trí tuệ v.v...
Khi sự độc lập tự chủ của đất nước bị xâm phạm và tước đoạt thì nỗi bất công lớn
nhất chiếm lĩnh tim óc mọi người Việt là thân phận nô lệ của mình đối với những
thế lực xâm lược bên ngoài. Mà trong lịch sử Việt Nam không ít lần cả dân tộc
rơi vào cảnh nô lệ ấy. Vì thế, công bằng trước hết được cảm nhận như sự thoát
khỏi thân phận nô lệ cho nước ngoài. Bằng cảm nhận ấy - và nó đã trở thành một
tâm thức chủ đạo của người Việt - không ít lần người Việt đứng lên chiến đấu một
mất một còn giành lại độc lập tự chủ của đất nước. Ðạo lý công bằng này được nói
rõ trong những “tuyên ngôn” lớn, chỉ tính một ngàn năm trở lại đây, nó thể hiện
nổi bật từ “Nam quốc sơn hà nam đế cư” đến “Không có gì quý hơn độc
lập tự do”...
Trong nội bộ cộng đồng dân tộc, sự cảm nhận về bất công cũng được thể hiện rất
rõ trong các quan hệ xã hội khác nhau: thống trị - bị trị; giàu - nghèo; sang -
hèn... Xin nói ngay, các quan hệ này không được coi là bất công tự bản thân
chúng. Ðạo lý Nho giáo, Phật giáo và cả Ðạo giáo nữa ăn rất sâu vào tâm thức
người Việt, khiến người ta coi những quan hệ thứ bậc (hierarchique) như một cái
gì tự nhiên, do Trời định đoạt, do phúc đức cha ông, do đức độ cá nhân tạo nên.
Ở người Việt ngày trước, không hề có khái niệm “giai cấp” (do đó, cũng không có
khái niệm “đấu tranh giai cấp”) mà khái niệm chiếm ưu thế trong các quan hệ xã
hội là “hòa”, là “nhường”, là “nhẫn”. Thỉnh thoảng có nổi lên những cuộc đấu
tranh xã hội quyết liệt nhưng không phải là để xóa bỏ hệ thứ bậc xã hội cũ mà là
xóa bỏ những hiện tượng loạn cương, như xã hội học gọi tên. Có vua là tự
nhiên, người ta chỉ chống lại hôn quân (bạo chúa) và ủng hộ minh quân
(minh chúa). Có quan cai trị cũng là tự nhiên, người ta chỉ chống tham quan ô
lại và ưa thích những liêm quan, những vị quan trung nghĩa. Giàu
nghèo cũng là tự nhiên, người ta chỉ bài bác những ác bá, trọc phú và tán
dương những người giàu ân đức. Trong quan hệ gia đình cũng vậy, người ta không
chống lại quyền uy gia trưởng mà chỉ bài bác những người bố ác nghiệt với con
cái, những anh em bất nghĩa với nhau. Người ta tin vào “mệnh trời”, vào sự sáng
suốt của trời (“Trời có mắt”), vào “ác giả ác báo”, vào “luân hồi” như một sự
điều chỉnh tự nhiên... Một xã hội công bằng đối với người Việt xưa là vậy. Công
bằng về đạo lý hơn là về xã hội, về tính chính đáng (legitimité) hơn là về quyền
lợi kinh tế. Nó hướng tới một trạng thái “đại đồng” nhưng “tiểu dị”, tới một
trật tự được coi là tự nhiên, mà thật ra, đó là một trật tự noi theo những khuôn
mẫu (stéréotyes) lâu đời. Nói như thế, không phải là tuyệt đối không có xu hướng
bình quân trong ý thức xã hội. Những vết tích thị tộc nguyên thủy, những tác
động dòng họ thường là chỗ dựa khá bền vững cho xu hướng bình quân, nhất là ở
các làng xã. Nhưng xu hướng này chưa bao giờ là xu hướng chủ đạo và cũng chưa
bao giờ được “lý luận hóa”.
Người Việt đấu tranh cho đạo lý công bằng một cách bền bỉ và đôi khi cũng khá
quyết liệt, nhất là vào những thời kỳ suy tàn của các triều đại (Lý, Trần, Lê,
Nguyễn), bằng những cuộc nổi dậy mà một số nhà sử học gọi chưa thật chính xác
lắm là các cuộc “khởi nghĩa nông dân” hay “cách mạng nông dân” (mô phỏng theo
những cách gọi cuộc “chiến tranh nông dân” ở châu Âu thời Trung đại và Cận đại).
Trên thực tế, đó là những cuộc nổi dậy nhằm thay đổi triều đại hơn là những cuộc
khởi nghĩa mang những lý tưởng công bằng xã hội của nông dân (như các cuộc nổi
dậy Hoàng Cân hay Thái Bình thiên quốc ở Trung Quốc ngày xưa, dù rằng những cuộc
nổi dậy này vẫn chưa thoát khỏi hệ tư tưởng quân chủ cổ truyền). Song nhìn
chung, các cuộc đấu tranh cho công bằng chủ yếu vẫn diễn ra một cách “hòa bình”,
bằng những hình thức bài bác, chế giễu và kiện tụng.
Từ cuối thế kỷ thứ XIX - đầu thế kỷ thứ XX, các quá trình xã hội mới được mở đầu
ở Việt Nam. Một mặt, sự thống trị của thực dân Pháp được thiết lập; đất nước mất
độc lập tự chủ; dân Việt Nam trở thành nô lệ cho nước ngoài; nỗi bất công lớn
nhất đối với dân Việt Nam xuất hiện và đây không chỉ là bất công về chính trị.
Những sự bóc lột của thực dân Pháp (chiếm đất đai làm đồn điền, độc quyền mua
bán, khai thác hầm mỏ, v.v...) dẫn tới chỗ của cải đất nước phần lớn lọt vào tay
những “ông chủ” nước ngoài, gây ra cùng khổ, đói nghèo của số đông dân chúng.
Mặt khác, các quan hệ kinh tế và xã hội mới đã hình thành theo hướng phân hóa
giai cấp ngày càng rõ rệt, những bất công và giàu nghèo tăng lên. Ngoài những
bất công về đạo lý, về chính trị, còn chồng chất thêm những bất công mới gắn
liền với đời sống vật chất - kinh tế hàng ngày của người dân. Ý thức về những
bất công ấy ngày càng lan rộng và ăn sâu trong xã hội.
Lúc đầu, ý thức này nảy sinh dưới ảnh hưởng của thuyết tiến hóa (Darwin,
Spencer...), lý giải những bất công đối với dân tộc theo lối “mạnh được yếu
thua”. Về sau, từ khi chủ nghĩa Mác-Lênin du nhập vào Việt Nam thì những bất
công trong các quan hệ giữa dân tộc và chủ nghĩa thực dân và giữa các giai cấp
xã hội khác nhau được giải thích theo thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp.
Khái niệm “công bằng xã hội” không phải được hiểu từ những kiểu bất công “đối
ngoại” và “nội bộ” ấy mà chủ yếu là từ kiểu bất công thứ nhất, vì không một
người Việt Nam nào, dù thuộc giai cấp nào, lại không cảm thấy nỗi nhục mất nước
để nuôi khát vọng độc lập và tự do của dân tộc. Không những thế, các cuộc đấu
tranh chống ách áp bức nước ngoài được tiến hành chủ yếu bằng sức mạnh bạo lực.
Những bất công trong nội bộ cộng đồng tạm thời được đặt xuống dưới và được giải
quyết bằng những biện pháp ôn hoà, trừ một số trường hợp cực đoan (như thời kỳ
xô viết Nghệ An, với khẩu hiệu “trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ!”).
Song không phải vì thế mà ý thức về công bằng xã hội bị lu mờ. Cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc nào, ngoài mục tiêu giành độc lập dân tộc ra, cũng noi theo
những lý tưởng xã hội nào đó. Ở Việt Nam, sự du nhập và truyền bá chủ nghĩa cộng
sản đã mang lại cho những bộ phận quần chúng nhất định, nhất là trong các tầng
lớp nghèo khổ, một ý thức công bằng xã hội mạnh mẽ. Ðằng sau sự vẫy gọi của lòng
yêu nước, ở chân trời xa còn hiện lên hình ảnh mờ ảo nhưng tha thiết của một xã
hội công bằng, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn.
Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 và những năm đầu kháng chiến chống Pháp, lòng
yêu nước quật khởi và ý thức công bằng xã hội trở thành những động lực tinh thần
mạnh mẽ của người Việt Nam. Phải nói rằng đó là những năm đẹp nhất, hào hùng
nhất trong lịch sử dân tộc hàng nghìn năm. Công bằng xã hội lúc đó thể hiện ở
tinh thần cùng nhau hy sinh cho đất nước, ở những sự điều hòa quyền lợi giữa các
tầng lớp xã hội khác nhau (vận động giảm tô, hiến điền, “thóc gạo khao
quân”...).
Nhưng chẳng bao lâu, với sự du nhập chủ nghĩa Mao từ Trung Quốc đầu những năm
50, vấn đề công bằng xã hội được đặt ra theo tinh thần “đấu tranh giai cấp”, mô
phỏng những kinh nghiệm “đấu tố” của Trung Quốc trong các phong trào cải cách
ruộng đất, “tam phản”, “ngũ phản”, v.v..., mà về thực chất, đó là quan niệm về
công bằng xã hội theo chủ nghĩa bình quân của nông dân nghèo khổ. Hậu quả của
các cuộc vận động “giảm tô” và “cải cách ruộng đất” thật ghê gớm. Chưa bao giờ
xã hội Việt Nam bị chia cắt thô bạo đến thế, chưa bao giờ công bằng xã hội vốn
là đạo lý của người Việt lại được thực hiện một cách vô đạo lý đến thế. Việc sửa
sai đã giúp giảm bớt những hậu quả tai hại ấy nhưng những cuộc “đấu tố” dã man
trong cải cách ruộng đất vẫn là một ký ức nặng nề của toàn xã hội. Ngày nay nhìn
lại, nhiều người cho rằng hoàn toàn có thể tiến hành cải cách ruộng đất theo lối
ôn hòa hơn nhiều và có hiệu quả hơn nhiều (như kinh nghiệm Ðài Loan cho thấy).
Nhưng chưa học xong bài học đau xót của cải cách ruộng đất, thì cuối những năm
50 - đầu những năm 60 (tức là ngay sau cải cách ruộng đất), người ta lại giải
quyết vấn đề công bằng xã hội theo lối “xóa bỏ các giai cấp bóc lột” dưới hình
thức “cải tạo xã hội chủ nghĩa” mà về thực chất, đó là những sự tước đoạt. Không
những các “giai cấp bóc lột” (như tư sản, phú nông, tiểu chủ...) bị tước đoạt,
mà cả những người lao động có sở hữu tư nhân (nông dân, tiểu thương, thợ thủ
công, v.v...) cũng bị tước đoạt. Những cấu trúc kinh tế và xã hội “mới”, hoàn
toàn giả tạo, được thiết lập cho phù hợp với “chủ nghĩa xã hội”. Cấu trúc kinh
tế chỉ gồm hai thành phần: kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể. Tương ứng với
cấu trúc kinh tế đó là cấu trúc xã hội gồm hai giai cấp chính: giai cấp công
nhân và giai cấp nông dân tập thể. Cộng thêm vào đó là “tầng lớp trí thức xã hội
chủ nghĩa” mà trên thực tế, mang tính chất viên chức hơn là tính chất trí thức.
Cách giải quyết vấn đề công bằng xã hội theo lối đó đã dẫn tới những hậu quả tai
hại như thế nào cho sự tồn tại và phát triển bình thường của xã hội Việt Nam,
tưởng không cần phải chứng minh nữa. Một quan niệm thô sơ về công bằng xã hội
như vậy, sau khi giải phóng miền Nam, còn được áp dụng trong cả nước, cũng với
những cuộc “cải tạo xã hội chủ nghĩa” như đã được làm ở miền Bắc trước đó. Toàn
xã hội lâm vào ngõ cụt, cho tới khi bắt đầu công cuộc “đổi mới” từ năm 1986. Có
thể nói một cách tổng quát rằng: việc giải quyết vấn đề công bằng xã hội theo
lối “xã hội chủ nghĩa” ấy đã thất bại.
2. Thực trạng bất công trong xã hội Việt Nam hiện nay
Sự thất bại về công bằng xã hội, như kinh nghiệm các nước xã hội chủ nghĩa trước
đây cho thấy, không những biểu hiện ở sự bất lực trong việc giải quyết những bất
công, mà còn biểu hiện ở sự xuất hiện những bất công mới.
Lúc đầu, đúng là có những đảo lộn xã hội thật lớn lao trước sự vui mừng của một
số người và sự tuyệt vọng của một số người khác. Và đây không phải là điều gì
mới. Ngay sau Cách mạng tháng Mười Nga, Pierre Pascal, một trí thức Pháp hưởng
ứng cuộc cách mạng này sớm nhất, đã mô tả không khí xã hội Nga hồi đó: “Một cảnh
tượng độc nhất làm say lòng người: sự sụp đổ của một xã hội. Bây giờ chính là
lúc thực hiện thánh thi thứ tư trong những lời kinh chủ nhật và Magnificat (Văn
chầu Thánh Mẫu): Những kẻ cường quyền bị hạ bệ và kẻ nghèo khổ đứng lên khỏi bùn
đen. Những ông chủ nhà bị dồn vào một gian phòng, và ở mỗi gian phòng khác có
một gia đình đến ở. Không còn người giàu nữa: chỉ có những người nghèo và những
người nghèo hơn. Trí thức không được coi là đặc quyền và không còn được tôn
trọng nữa. Người thợ trước đây được đề bạt lên làm giám đốc, chỉ huy các kỹ sư.
Tiền lương từ trên xuống dưới gần ngang nhau. Quyền sở hữu chỉ còn lại những bộ
áo quần người ta mặc hàng ngày. Quan tòa không còn phải áp dụng luật pháp. Hôn
nhân chỉ còn là một sự đăng ký giá thú và ly hôn có thể được báo bằng tấm danh
thiếp. Con cái được ăn học để giám sát bố mẹ. Những tình cảm hào hiệp bị sự khốn
khó xua đuổi: trong gia đình người ta tính từng mẩu bánh hay vài gam đường. Vẻ
dịu dàng bị coi là tội lỗi. Sự hiếu thảo bị giết bởi cái chết hiện ra khắp nơi.
Tình bạn chỉ còn như là tình đồng chí”. (Pierre Pascal, Journal, t.2,
trích theo R. Furet, Le passé d’une illusion, Robert Laffont, Paris,
1995, tr. 131). Không phải cảnh tượng này diễn ra ở tất cả các nước xã hội chủ
nghĩa đúng hệt như vậy, nhưng những đảo lộn xã hội ở mức độ khác nhau đã xảy ra
khắp nơi. Và những thể chế về công bằng xã hội sau khi thiết lập chế độ xã hội
chủ nghĩa thì gần như giống nhau. Ðại đa số dân chúng biến thành những người làm
công cho Nhà nước hoặc trực tiếp (công nhân, viên chức), hoặc gián tiếp (nông
dân tập thể, xã viên hợp tác xã). Tất cả đều do một bộ máy toàn năng điều khiển.
Sự phân phối bình quân, hay gần như bình quân, được thiết lập về tư liệu sinh
hoạt. (“Một yêu anh có may-ô, Hai yêu anh có cá khô ăn dần...” là một
hiện thực cách đây chưa xa ở nước ta). Và hẳn người ta còn nhớ cảnh gắp thăm mua
phụ tùng xe đạp, mua quần đen... Những cảnh đó đã chấm dứt với “đổi mới”, với
“kinh tế thị trường”, được nhiều người cảm nhận như một biến đổi xã hội quan
trọng. Có người nói rất đúng rằng, trong một nền kinh tế “thiếu hụt” (économie
de deficit) thì đó là sự phân phối nạn nghèo khổ cho mọi người. Chế độ bao cấp
quả tình cũng thật chu đáo: từ chiếc tã cho trẻ sơ sinh đến tấm vải liệm cho
người chết. Không ai chết đói cả, hoặc nếu có thì, như người ta nói, chỉ là “có
nơi có lúc” nhưng hầu hết không đủ no và thiếu dinh dưỡng. Ðứng về một mặt nào
đó, một xã hội “đại đồng” (hiểu theo nghĩa “rất giống nhau”) đã hiện lên trước
mắt chúng ta. Và bây giờ, sau khi xóa bỏ chế độ bao cấp, không phải không có
người còn luyến tiếc!
Nhưng đó chỉ làm một mặt của tấm huân chương. Còn mặt khác của nó (thật khó phân
định đây là mặt phải hay mặt trái) là sự hình thành một xã hội thứ bậc (societé
hiérarchique) với những đặc quyền lớn và nhỏ. Ở đô thị, xã hội phân chia thành
hai hạng người: người của Nhà nước được hưởng các loại tem phiếu do cơ quan, xí
nghiệp phát và người không phải của Nhà nước chỉ có phiếu N (nhân dân) do các
phường, các khu phố phát. Và ngay trong “những người của Nhà nước”, sự chênh
lệch về mức cung cấp rất lớn, nếu tính từ phiếu E đến bìa A (chưa nói tới một số
ít người được cung cấp “theo nhu cầu”). Chưa nói tới rất nhiều bất công khác làm
người ta công phẫn: từ trường học cho con em đến những khả năng tiến thân khác
nhau, từ nhà nghỉ đến chỗ chữa bệnh, từ vé đi xem các cuộc trình diễn đến vé
nghỉ mát, v.v... Cũng chưa nói đến những cơ hội đi nước ngoài học hành và công
tác... Và cũng chưa nói tới những bất công về mặt chính trị theo sự phân chia lý
lịch: “trong sạch” và “có liên quan” (với chế độ cũ, với gia đình bóc lột ngày
xưa, với đủ mọi thứ đáng nghi ngờ). Bất công hiện lên khắp nơi và khắp các lĩnh
vực. Xin nhấn mạnh: đó là những bất công được chính thức thừa nhận, không cần
che đậy, nhân danh “cách mạng”, “chủ nghĩa xã hội”, “thời kỳ quá độ”... Có những
bất công có thể hiểu được, nhưng có những bất công không thể hiểu được vì những
chế độ xã hội “lạc hậu” trước đây cũng không thấy có.
Những bất công thời “quan liêu bao cấp” này đã làm triệt tiêu những động lực
lành mạnh của con người và ở một mức độ nào đó, làm “lưu manh hóa” con người.
Chúng phỉ báng nhân cách tốt đẹp của con người, đưa con người vào trạng thái
bệnh hoạn. Bởi vì để tồn tại và nhất là để tiến thân, người ta buộc phải đi theo
những tính toán nhỏ nhen: dìm dập nhau, xu nịnh, giả dối, v.v... Ðạo đức suy đồi
vì thế, guồng máy hỗn loạn vì thế và cả nền kinh tế nữa, cũng mất hiệu năng vì
thế.
Có người nói: nhắc lại cái “thời đã qua” ấy làm gì? Tôi nghĩ khác: phải nhắc lại
và nhắc lại nhiều hơn, không chỉ vì để tránh cho xã hội ngày mai lại đi vào “vết
xe đổ” ấy (ngày nay, không phải không có người muốn trở lại), mà còn vì những hệ
quả của những bất công này vẫn còn rất nặng nề, gây khó khăn rất lớn cho việc
tạo ra một không khí xã hội bình thường và lành mạnh, do đó, cả cho sự phát
triển xã hội hiện nay và sau này.
Không có gì bí mật khi nói rằng một bộ phận khá lớn những người giàu có hôm nay
chính là những quan chức chiếm giữ những đặc quyền đặc lợi hôm qua và bây giờ
đang dựa vào những quyền lực sẵn có trong tay để làm giàu. Ðúng là ta đang
khuyến khích “dân giàu” (để cho “nước mạnh”). Nhưng sự giàu có cần khuyến khích
là sự giàu có do năng lực (trí tuệ, kinh doanh) tạo ra, chứ không phải là bất cứ
sự giàu có nào, nhất là sự giàu có do tham nhũng, ăn cướp của dân, đầu cơ, buôn
lậu... Một hiện tượng khá phổ biến ở các nước xã hội chủ nghĩa trước khi chuyển
sang kinh tế thị trường là chủ nghĩa tư bản quan chức (capitalism
nomenclatura): những quan chức có thế lực đang dùng tài sản đục khoét bằng mọi
kiểu (từ đặc quyền đặc lợi đến tham nhũng), cũng dùng quyền lực hiện có để làm
giàu vô cùng nhanh chóng kiểu mafia. Họ thông đồng với những thế lực buôn
bán phi pháp để trục lợi. Pháp luật không đụng tới họ (một bộ phận trong bộ máy
giám sát và xử lý về luật pháp cũng dựa vào quyền lực của mình để làm giàu). Và
không ít trường hợp, họ và con cái họ đang trở thành những “bà chủ”, “ông chủ”
của những đơn vị kinh doanh mới, trở thành những “nhân vật mới” có thế lực trong
nền kinh tế thị trường hoặc công khai, hoặc ngấm ngầm. Chưa nói tới việc họ dùng
những đồng tiền ăn cắp hoặc ăn cướp để xây dựng nhà cửa nguy nga, mua sắm những
thiết bị sang trọng, sống phè phỡn như đế vương. Chỉ cần nhìn hàng loạt ngôi nhà
đồ sộ mọc lên gần đây ở các thành phố và thị xã, cũng đủ nhận diện thứ “chủ
nghĩa tư bản quan chức” này không khó khăn gì. Rồi nhà cửa, đất đai (nhất là đất
đai) họ được Nhà nước giao cho sử dụng theo lối đặc quyền đặc lợi trước đây cũng
đang dần dần biến thành tài sản “hợp pháp” của họ.
Một số người đưa ra ý kiến đáng chú ý: “Thôi thế cũng được, miễn là những tài
sản họ nắm trong tay được họ đưa ra kinh doanh một cách hợp pháp, coi như thứ
“tiền chuộc” (rachat) đối với họ, như vậy cũng tốt cho sự phát triển kinh tế của
đất nước”. Tôi tán thành ý kiến này về nguyên tắc nhưng trong thực tế, rất khó
xảy ra điều đó. Bởi vì nói chung, chủ nghĩa tư bản quan chức là thứ chủ nghĩa
tư bản ăn bám tuyệt đối, chỉ làm cho nền kinh tế đất nước hỗn loạn thêm và
èo uột đi. Chừng nào nó còn tồn tại, chừng đó không thể nói tới một sự phát
triển kinh tế lành mạnh được. Chủ nghĩa tư bản quan chức là tác nhân ung thư đối
với xã hội hiện nay. Nó là sự kết hợp những đặc quyền đặc lợi kiểu phong kiến
thời quan liêu bao cấp với những hoạt động làm giàu kiểu mafia thời kinh tế thị
trường. Quyền lực chính trị đẻ ra quyền lực kinh tế, trước đây đã như vậy, ngày
nay lại càng như vậy. Chủ nghĩa tư bản quan chức là sự thách thức nghiêm trọng
nhất đối với sự phát triển của đất nước; nó tạo ra những bất công lớn nhất, nhức
nhối nhất trong xã hội hiện nay.
Chính nó, chứ không phải là sự phân hóa giàu nghèo của kinh tế thị trường, đang
đặt đất nước trước những triển vọng nguy hiểm về kinh tế về xã hội. Một số người
lên tiếng báo động về tình trạng phân hóa giàu nghèo hiện nay ở nước ta, coi đó
như nguồn gốc của mọi bất công xã hội hiện nay. Ý kiến này, theo tôi, có mặt
đúng và có mặt chưa đúng.
Phân hóa giàu nghèo đang là một hiện tượng đập vào mắt mọi người. Chấp nhận kinh
tế thị trường có hiệu quả cao nhất thì không thể không chấp nhận sự phân hóa
giàu nghèo. Nếu coi đó là một sự bất công xã hội thì đó là một sự bất công xã
hội cần thiết. Kinh nghiệm phát triển kinh tế của các nước trên thế giới
cho thấy sự phân hóa giàu nghèo là điều tự nhiên, kinh tế càng phát triển thì,
một mặt, khoảng cách giàu nghèo dần dần thu hẹp lại và, mặt khác, ngay cả những
tầng lớp nghèo cũng có mức sống ngày càng tăng lên. Như vậy còn tốt hơn là sự
chia đều nhau một chiếc bánh ngày càng nhỏ lại vì kinh tế không có hiệu quả (vả
lại, khi chiếc bánh nhỏ dần đi thì không thể chia đều được, một số người có thế
lực sẽ chiếm lấy phần lớn hơn và một số người “hẩm hiu” sẽ chỉ được hưởng “bụi
bánh”). Công bằng xã hội, hiểu theo nghĩa mọi người đều giàu có ngang nhau, là
một ảo tưởng. Tất cả vấn đề là sự phân hóa giàu nghèo phải mang tính chất lành
mạnh, phần hưởng thụ tương xứng với hiệu quả hoạt động kinh tế, không giới hạn
hiệu quả đó cũng như phần hưởng thụ tương xứng với nó. Ði đôi với những cạnh
tranh chính đáng, hợp pháp trong kinh tế thị trường, xã hội phải tính đến việc
bảo đảm một mức sống cần thiết tối thiểu cho những thành viên mất khả năng hoạt
động, gặp khó khăn lớn hoặc gặp rủi ro, ngoài ý muốn của họ. Ðiều đặc biệt quan
trọng là xã hội tạo ra những cơ may ngang nhau cho mọi người khi bước vào
những hoạt động độc lập bằng cách bảo đảm cho mỗi người có trình độ học vấn tối
thiểu ngang nhau, có khả năng thể lực tối thiểu ngang nhau... Tất cả cùng đứng
ngang nhau ở “vạch xuất phát”, sau đó, ai đạt được hiệu quả cao hay thấp là tùy
theo năng lực của mỗi người.
Ở nước ta, sự phân hóa giàu nghèo hiện nay về cơ bản là kết quả của những bất
công lưu cữu ngày càng được khoét rộng ra. Số người giàu lên bằng cách làm ăn
chính đáng, hợp pháp không nhiều, trong khi những kẻ giàu lên bằng chụp giật,
tham nhũng, buôn lậu, chiếm đoạt... lại quá nhiều. Ngày xưa, để giàu có, phải
mất cả một đời, còn bây giờ thì chỉ trong một thời gian rất ngắn, có khi chỉ mấy
tháng, mấy ngày là có thể trở thành người giàu có. Cả một lớp người giàu có hãnh
tiến đang đè nặng lên toàn xã hội, không chỉ về đời sống kinh tế mà cả về đời
sống văn hóa, đạo đức.
Bên cạnh đó, nhiều người “không may” gần như không hề nhận được một sự giúp đỡ
và bảo đảm nào của xã hội từ ăn ở, học hành, chữa bệnh,... trở đi. Và trong
những người “không may” này, chua xót nhất là những người đã hi sinh cả một phần
thân thể mình, hy sinh con cái mình, nhà cửa, tài sản của mình trong các cuộc
chiến đấu giải phóng toàn vẹn đất nước.
Một bên là chủ nghĩa tư bản quan chức, các tầng lớp giàu có hãnh tiến, bất hợp
pháp và một bên là những tầng lớp, những người nghèo khổ làm không đủ ăn và
“không may” - đó là nét nổi bật nhất trong bức tranh về công bằng xã hội ở nước
ta hiện nay.
Ngoài ra, còn phải kể tới nhiều bất công khác:
Ở đây, tôi không có ý định làm một bản liệt kê đầy đủ và có hệ
thống mà chỉ muốn nêu lên một số hiện tượng bất công dễ nhìn thấy khi bàn tới
bức tranh chung về thực trạng bất công ở nước ta hiện nay.
3. Ði tới công bằng xã hội như thế nào?
Trước hết, xin nói ngay rằng không bao giờ có thể đạt tới công bằng xã hội tuyệt
đối, lý tưởng cả. Công bằng xã hội là một giá trị định hướng để con người sống
ngày càng tốt hơn trong các quan hệ giữa các thành viên của cộng đồng, về mặt
vật chất cũng như về mặt tinh thần. Vì thế, không thể bàn về công bằng xã hội
theo lối trừu tượng, ngoài không gian và thời gian.
Ở đây, xin bàn về công bằng xã hội trong những điều kiện xã hội cụ thể của
nước ta hiện nay. Chúng ta đã từ bỏ quan niệm công bằng xã hội vừa có tính
chất bình quân, vừa chứa đựng đặc quyền đặc lợi của chế độ quan liêu bao cấp
trước đây. Chúng ta đang đương đầu với những bất công cũ và mới, có hại cho sự
phát triển của đất nước, trong một xã hội đang chuyển biến mạnh mẽ.
Ðịnh hướng của sự phát triển đã được nêu ra: đi tới một xã hội dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng và văn minh. Ðịnh hướng này đang được sự hưởng ứng rộng
rãi trong dân chúng. Nhưng khi đi sâu vào những mục tiêu ấy, có nhiều điều cần
phải làm rõ hơn. Chẳng hạn, về mục tiêu xã hội công bằng là mục tiêu có liên
quan trực tiếp với những điều chúng ta đang bàn. Những câu hỏi trực tiếp đặt ra
là thế nào là công bằng xã hội trong hoàn cảnh hiện nay? Mối quan hệ của nó với
sự phát triển xã hội là như thế nào? Làm thế nào để đạt tới công bằng xã hội khi
nó đã được quan niệm một cách tương đối thống nhất? Xin lần lượt trình bày ý
kiến của tôi để trả lời những câu hỏi đó. Và vì ở đây, tôi không có tham vọng
đưa ra một chương trình cụ thể về công bằng xã hội nên chỉ dừng lại ở những quan
niệm và định hướng giải pháp chung.
3.1. Công bằng xã hội trong những điều kiện cụ thể hiện nay là thế
nào?
Tuy chưa định hình rõ ràng, xã hội Việt Nam hiện nay đang mở ra khả năng ngày
càng rộng lớn cho các cá nhân, các tầng lớp xã hội khác nhau phát huy những năng
lực và những nguồn lực vốn có và có thể có để vừa mưu cầu lợi ích của mình, vừa
tạo nên sức mạnh chung của cộng đồng (“dân giàu, nước mạnh”), đưa đất nước từng
bước tiến tới trình độ hiện đại (“văn minh”). Như vậy, công bằng xã hộ cần được
hiểu theo những yêu cầu ấy. Quan niệm công bằng xã hội theo chủ nghĩa bình quân
đi ngược lại những yêu cầu ấy đã đành, mà cả quan niệm “mạnh được yếu thua”,
“may nhờ rủi chịu”, để mặc cho mọi thứ bất công hoành hành, có hại cho lợi ích
của đại đa số dân chúng, cũng không thể chấp nhận được. Có người nói: đã là kinh
tế thị trường thì phải chấp nhận mọi thứ bất công. Một nền kinh tế thị trường
“dã man”, vô chính phủ, để mặc cho các thế lực mafia chi phối thì đúng là
thế thật. Và như kinh nghiệm một số nước cho thấy, một nền kinh tế thị trường
như vậy không giúp gì cho sự phát triển của đất nước, ngay cả trong lĩnh vực
kinh tế, sớm muộn gì cũng sẽ dẫn đất nước tới hỗn loạn, nghèo khổ và ngày càng
lạc hậu. Nền kinh tế thị trường mà chúng ta muốn có là một nền kinh tế thị
trường “văn minh”, có luật pháp, có điều tiết theo những lợi ích chung của sự
phát triển đất nước và bảo đảm cho mọi người sống ngày càng ổn định và khá lên
thì không thể chấp nhận tất cả mọi bất công đang có và có thể có.
Một quan niệm thích hợp về công bằng xã hội hiện nay đòi hỏi phải phân biệt giữa
những loại bất công khác nhau:
Xóa bỏ những bất công “phi lý”, điều tiết những bất công “tự
nhiên” và “hợp lý” dù sao cũng chỉ là mặt tiêu cực của việc thực hiện công bằng
xã hội. Mặt quan trọng không kém - nếu không nói là quan trọng hơn - là mặt tích
cực: xã hội phải dần dần tạo ra được những điều kiện thuận lợi cho những cơ may
ngang nhau giữa các thành viên của xã hội. Vì chỉ riêng việc xóa bỏ và điều tiết
những bất công không đủ để thực hiện công bằng xã hội: xử lý và tước đoạt những
tài sản do tham nhũng và những hoạt động phi pháp cũng chưa có nghĩa là tạo ra
những cơ may ngang nhau về học tập, sức khỏe và tiến thân. Ðể làm công việc này,
cần có những chính sách và những đầu tư xã hội lớn. Khi nhà trường phổ thông và
các bệnh viện phổ thông còn đòi người ta phải trả tiền thì không thể nói tới
những cơ may ngang nhau. Ngày nay, ở nhiều nước đang phát triển, cũng đã thực
hiện việc Nhà nước chi ngân sách cho giáo dục phổ thông và bảo hiểm y tế ở mức
tối thiểu ngang nhau. Còn ở nước ta lại đang thực hiện một cách phổ biến chế độ
nộp học phí và viện phí ở những cấp cơ sở, làm sao có thể hiểu được? Trong những
lĩnh vực phúc lợi xã hội cần thiết tối thiểu này, cần thực hiện ngay lập tức
công bằng xã hội, không thể viện lý do “cơ chế thị trường” như người ta vẫn làm
hiện nay. Ðặc biệt, tất cả những người có công với công cuộc giải phóng dân tộc,
cũng phải được hưởng những trợ cấp thường xuyên đủ duy trì mức sống tối thiểu mà
không phải là những chiếu cố “tình nghĩa” hay “nhân đạo” theo lối ban phát. Thực
hiện những cơ may ngang nhau không dễ nhưng phải làm từng bước để đi tới chỗ đó.
Có ý kiến nói rằng: khi chưa thực hiện được công bằng xã hội theo chủ nghĩa xã
hội và chủ nghĩa cộng sản, thì phải thực hiện công bằng xã hội theo “pháp quyền
tư sản” như Marx từng nói (xem Phê phán cương lĩnh Gôta). Thật ra, đó là
cách đặt vấn đề trên cơ sở hệ tư tưởng (vô sản/tư sản) hơn là trên cơ sở sự phát
triển kinh tế xã hội một cách bình thường theo hướng đi tới một xã hội công bằng
và văn minh. Lúc này, có lẽ không nên để mất quá nhiều thì giờ và công sức để
tranh cãi nhau về hệ tư tưởng. Chỉ nên giới hạn vấn đề này trong khuôn khổ những
mục tiêu đã đưa ra: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”.
3.2. Công bằng xã hội và sự phát triển đất nước
Như vậy, tiêu chí hàng đầu của công bằng xã hội ở nước ta hiện nay là có lợi hay
có hại cho sự phát triển đất nước. Ðây là bài toán cực khó, mà loài người, ít ra
trong cả một thế kỷ vừa qua, đang cố đi tìm những lời giải tối ưu nhưng chưa tìm
thấy. Kinh nghiệm cho thấy rõ: đặt công bằng xã hội lên trên hết (theo lối “chủ
nghĩa xã hội hiện thực” hay “Nhà nước phúc lợi”) sẽ dẫn tới chỗ triệt tiêu những
yếu tố phát triển kinh tế nhưng đặt hiệu quả kinh tế lên hàng đầu lại dẫn tới
chỗ khoét sâu những ngăn cách xã hội và nhất là dồn một số người không nhỏ vào
tình trạng nghèo khổ và bế tắc, cuối cùng cũng tạo ra những trở ngại lớn cho
hiệu quả và phát triển kinh tế, những nguy cơ bùng nổ xã hội. Phải đi tìm một
công thức mới, trong đó, không để hai mặt công bằng xã hội và phát triển kinh tế
đối kháng nhau, loại bỏ nhau (còn sự đối lập của hai mặt đó là không thể tránh),
mà cần phải làm sao để cho hai mặt đó trở thành tiền đề của nhau, hơn nữa, để
cho mặt này bao hàm cả mặt kia ở một mức độ hợp lý nhất. Ðiều đó càng cần thiết
vì ngày nay, mọi lý luận về sự phát triển đều bác bỏ cách hiểu phát triển đồng
nghĩa với tăng trưởng kinh tế và đều nhấn mạnh nội dung cơ bản và mục tiêu cao
nhất của sự phát triển là phát triển con người với tư cách cá nhân trong một
cộng đồng đầy nhân tính. Sự kết hợp, sự giao nhau của hai mặt đó phải được tính
toán theo những điều kiện cụ thể của mỗi nước, chủ yếu là theo trình độ phát
triển kinh tế và theo những truyền thống, theo tâm lý dân tộc. Ở đây, không có
và cũng không thể có đơn thuốc pha chế sẵn nào cả.
Trong hoàn cảnh nước ta hiện nay, sự kết hợp hai mặt đó vấp phải những khó khăn
không dễ vượt qua được. Một mặt, chủ nghĩa bao cấp vừa bình quân vừa đặc quyền
còn để lại rất nhiều di sản nặng nề không những trong đời sống vật chất mà cả
trong ý thức con người. Mặt khác, quá trình chuyển sang kinh tế thị trường chứa
đầy những yếu tố độc quyền, lũng đoạn và vô chính phủ, tự phát làm cho kinh tế
thị trường mang trạng thái dã man, tuy có kích thích những hoạt động kinh tế nào
đó nhưng đưa con người vào những “mê cung” đầy bất trắc và nhất là, tạo nên một
sức ép tâm lý và xã hội của lối sống hãnh tiến, chạy theo đồng tiền một cách trơ
tráo (cynique). Không thể phủ nhận rằng kinh tế thị trường đã giúp cho đời sống
kinh tế đất nước rời khỏi “điểm chết” và phục hồi lại sức sống kinh tế của xã
hội. Ðó là một trong những thành quả lớn nhất của “đổi mới” và, xét về triển
vọng rất có lợi cho sự phát triển kinh tế của đất nước. Nhưng cũng không thể phủ
nhận rằng kinh tế thị trường dã man này đã tạo ra những bất công xã hội mới, ghê
gớm và, xét về triển vọng, sẽ ngăn cản sự phát triển xã hội nói chung. Tội lỗi
không phải thuộc về bản thân kinh tế thị trường mà ở những tác nhân phá hoại của
nó, biến nó thành dã man. Chúng ta cần có kinh tế thị trường như một môi trường
thuận lợi nhất cho các hoạt động kinh tế nhưng đó phải là một nền kinh tế thị
trường văn minh, với những hoạt động sinh lợi thật sự và được luật pháp kiểm
soát chặt chẽ có lợi cho quốc kế dân sinh.
Hơn nữa, bản thân kinh tế thị trường không tự động bảo đảm cho công bằng xã hội.
Phải có những điều tiết của xã hội (thông qua nhà nước) để phân phối lại những
kết quả hoạt động kinh tế theo hướng đảm bảo công bằng xã hội ở mức cần thiết
tối thiểu. Ðó là cái mà các nhà kinh tế học gọi là “kinh tế thị trường xã hội”
đã và đang được thực hiện ở một số nước phát triển. Tiếc thay, ở nước ta, chưa
có những sự điều tiết như vậy. Những bất công phi lý, phi pháp đang biến thành
những trở lực lớn đối với sự phát triển kinh tế. Khi nói rằng phát triển kinh tế
là tiêu chí hàng đầu của công bằng xã hội, thì đồng thời, ngay trong hoàn cảnh
nước ta hiện nay, cũng phải nói rằng công bằng xã hội (ở mức độ như đã quan niệm
trên đây) là một điều kiện của sự phát triển kinh tế, không có cái này mà không
có cái kia. Mọi thái độ coi nhẹ công bằng xã hội rốt cuộc dẫn tới chỗ làm cho
phát triển kinh tế bị hạn chế và què quặt.
Không thể đồng ý với quan niệm cho rằng nếu coi trọng công bằng xã hội thì khó
lòng tập trung các nguồn lực (bên trong và bên ngoài) để phát triển kinh tế.
Ðứng về ngắn hạn mà xét, có thể là như vậy, nhưng nếu xét theo triển vọng lâu
dài thì quan niệm này rất có hại. Xin lấy một ví dụ: đầu tư. Tất nhiên, trước
mắt cần tập trung đại bộ phận các nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế (nhất là vào
các cấu trúc hạ tầng và vào những lĩnh vực kinh doanh có khả năng sinh lợi
nhanh), để từ đó có thêm những nguồn lực ném vào giáo dục, y tế, trợ cấp xã
hội... Nhưng nếu ngày nay, không đầu tư thích đáng cho những lĩnh vực này
thì liệu trong mười - mười lăm năm nữa, chúng ta có thể bảo đảm nguồn nhân lực
có chất lượng cho sự phát triển kinh tế không? Hay lúc đó, nhân lực dồi dào của
nước ta sẽ trở thành một gánh nặng vì thiếu học vấn, thiếu trình độ nghề nghiệp
và không đủ sức khỏe? Theo tư duy kinh tế mới, đầu tư cho các lĩnh vực xã hội
cũng là trực tiếp đầu tư cho kinh tế, nhất là xét theo triển vọng dài
hạn. Ðầu tư cho cấu trúc hạ tầng, chẳng hạn, không chỉ bó hẹp vào những cấu trúc
hạ tầng kinh tế mà phải mở rộng ra những cấu trúc hạ tầng xã hội (con người). Do
đó, phải tính những đầu tư này như những đầu tư kinh tế. Ở đây, chúng ta lại có
thêm một luận cứ nữa để đặt công bằng xã hội và phát triển kinh tế trong sự
thống nhất của chúng.
3.3. Gợi ý một số giải pháp về công bằng xã hội
Công bằng xã hội đụng tới tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội: kinh tế,
chính trị, pháp luật, văn hóa, xã hội. Không thể giải quyết vấn đề công bằng xã
hội bằng cách khuôn nó vào cái thường được gọi là “chính sách xã hội” một cách
tách bạch. Công bằng xã hội phải được giải quyết - và chỉ có thể được
giải quyết - gắn liền với xã hội công dân, nhà nước pháp quyền, chế độ dân chủ,
kinh tế và văn hóa ngày càng phát triển.
Những gợi ý trên
đây chắc chắn chưa đầy đủ và chưa thật sát hợp. Ðiều cốt yếu là, theo chúng tôi,
đã đến lúc phải có những công trình nghiên cứu có hệ thống về công bằng xã hội
để sớm đưa ra những giải pháp cụ thể, thích hợp với sự phát triển của đất nước.
Tháng ba 1995
Nguồn: Những bài viết của Nguyễn Kiến Giang trong thập niên 90 được đăng rải rác trên báo chí trong ngoài nước, được chuyền tay hoặc chưa công bố, nay được tập hợp thành loạt bài “Suy tư 90” cho bản đăng chính thức trên talawas, với sự hiệu đính cuối cùng của tác giả.