Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Vũ Quốc Tuấn, |
09:47' 29/08/2006 (GMT+7)
http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/chongthamnhung/2006/08/606819 /
Bài tham gia Diễn đàn "Giải pháp nào để ngăn chặn,kiềm chế, đẩy lùi tham nhũng" của ông Vũ Quốc Tuấn. Tác giả từng là thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng.
Nguồn gốc của tham nhũng
|
|
Tham tức là tham lam, vơ vét của cải cho mình; còn nhũng là nhũng nhiễu, cũng là nhằm vơ vét: vơ vét của công và vơ vét của dân, của doanh nghiệp.
Trong tài liệu “Công cụ hỗ trợ cho tính minh bạch trong công tác cai trị ở địa phương”, Tổ chức Minh bạch thế giới (TI) đã nêu ra định nghĩa về tham nhũng của Klitgaard, MacLean, Abaroa và Parris được nhiều định chế quốc tế và học giả sử dụng như sau: “Tham nhũng có nghĩa là lợi dụng chức cụ cho lợi ích riêng. Chức vụ là một vị trí công tác dựa trên cơ cở niềm tin, mà từ đó, một người được nhận một thẩm quyền hành động nhân danh một định chế nào đó” (trích theo VietNamNet).
Trong thực tế, tham nhũng thường đi đôi với Nhà nước là tổ chức có bộ máy, có quyền lực; Nhà nước nào cũng tham nhũng, chỉ có mức độ và hình thức khác nhau mà thôi. Nhưng tại sao công chức Nhà nước lại tham nhũng, đó là vì Nhà nước có quyền lực, và chỉ ai có quyền lực mới có thể tham nhũng được; không có quyền lực thì làm sao tham nhũng được? Do đó, nguồn gốc của tham nhũng chính là quyền lực.
Về lý thuyết, người ta chia ra ba loại quyền lực: 1.Quyền lực chính trị (tức là của giới cầm quyền), họ có đủ các hệ thống bảo đảm cho quyền lực của mình, như pháp luật, quân đội, công an, tòa án, ... 2. Quyền lực tài chính (các chính phủ nắm tiền trong tay, hoặc các tập đoàn tài chính); 3. Quyền lực trí tuệ (cái này giá trị nhất, cơ bản nhất và lâu bền nhất). Các tập đoàn thống trị dựa vào quyền lực chính trị để thực hiện sự cai trị của mình.
Người nắm quyền lực thường nắm luôn nguồn tài chính công, để có thể chi phối việc chi tiêu nguồn tài chính đó (qua đó, có thể vơ vét). Đồng thời, vì quyền lực trí tuệ là cái cao sang nhất, được người đời kính nể nhất, cho nên, người nắm quyền lực chính trị thường muốn thể hiện luôn quyền lực của mình trong lĩnh vực trí tuệ.
Theo lý thuyết, mọi quyền lực đều phải được giám sát, nếu không, quyền lực trở thành tuyệt đối, ngày một bành trướng, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của một xã hội. Từ thế kỷ 17, Montesqieu đã viết: “Bất cứ ai có quyền đều có xu hướng lạm quyền, họ cứ sử dụng quyền đến khi nào gặp phải giới hạn”. Quyền lực không bị giám sát thì dễ xảy ra các tệ nạn như độc quyền, cửa quyền, đặc quyền, lạm quyền, tiếm quyền (tức là cướp quyền), v.v...
Và khi quyền lực đã trở thành một loại hàng hóa, có "thị trường quyền lực", nơi có thể mua, bán quyền lực, thì thị trường diễn biến rất phức tạp, sôi động, ở nhiều lĩnh vực, nhiều cấp.
Vì quyền lực đem lại lợi nhuận béo bở (siêu lợi nhuận) như thế, cho nên người ta tranh nhau bỏ tiền ra để mua một chức vụ hoặc một chỗ ngồi nào đó (có thể kiếm ra tiền). Sau khi họ đã mua được một vị trí kiếm ra tiền, thì họ lại phải tìm cách để "hoàn vốn" và nhất định phải "có lãi" so với số vốn bỏ ra ! Như thế, cái "vòng xoáy quyền lực" đó thường không có điểm dừng.
Để giám sát và hạn chế quyền lực, phải thực hành dân chủ: cơ chế hoạt động của bộ máy chính quyền phải công khai, minh bạch (nhất là chi tiêu công), có sự giám sát của dân, của doanh nghiệp, sự giám sát của các tổ chức xã hội dân sự (các hội, hiệp hội nghề nghiệp) ...
Singapore đề ra bốn điều trong cơ chế chống tham nhũng: để công chức "không cần tham nhũng, không muốn tham nhũng, không thể tham nhũng và không dám tham nhũng"; chính là một hệ thống hạn chế, răn đe, giám sát, kiểm tra và xử lý những kẻ tham nhũng một cách triệt để.
Trung Quốc chủ trương “hai phân khai” trong cơ chế quản lý: “Đảng, Chính phân khai”, tức là tách bạch rõ sự lãnh đạo của Đảng với sự quản lý của Nhà nước, Đảng không bao biện công việc của Nhà nước; và “Chính, Xí phân khai”, tức là tách bạch rõ chức năng quản lý nhà nước của cơ quan chính quyền và kinh doanh của xí nghiệp, (doanh nghiệp), cơ quan nhà nước không can thiệp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là những kinh nghiệm rất nên tham khảo.
Xóa bỏ tham nhũng đối với doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp, tệ nạn tham nhũng xảy ra cũng bắt nguồn từ quan niệm về quyền lực. Đúng ra, quyền lực thuộc về dân, về doanh nghiệp. Dân trao cho Quốc hội, cho Chính phủ thay mặt mình quản lý, điều hành đất nước (cai trị) theo hệ thống luật pháp. Nhưng có người nghĩ rằng họ đứng trên doanh nghiệp, có quyền ban phát, có quyền "cho", buộc doanh nghiệp phải "xin".
Như thế, rõ ràng là người ta đã hiểu sai về khái niệm "quản lý", hiểu sai về chức năng của Nhà nước, cũng hiểu sai về quyền hạn của công chức; cũng tức là "ngồi nhầm ghế" và "cầm nhầm quyền". Vì vậy, theo quy luật của kinh tế thị trường, phải trả lại quyền cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải có quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh và hợp tác bình đẳng giữa các loại doanh nghiệp, không phân biệt sở hữu và thành phần kinh tế, v.v...
Phòng, chống tham nhũng đối với doanh nghiệp phải thể hiện trước tiên trong hệ thống thể chế kinh tế. Vấn đề lớn nhất ở đây là phải xác định rõ vai trò của Nhà nước trong kinh tế thị trường. Theo lý thuyết thì "công dân được làm mọi việc mà pháp luật không cấm" và "công chức chỉ được làm những gì pháp luật cho phép", nhưng trong thực tế, có khi quyền của doanh nghiệp được "tối thiểu hóa", quyền của cơ quan công quyền được "tối đa hóa". Không ít điều trong luật trong nghị định, thông tư đã được các bộ chủ trì soạn thảo theo hướng có lợi cho bộ mình, đẩy khó khăn cho dân và doanh nghiệp; mà đáng tiếc là quá trình soạn thảo, thẩm định và thông qua, dù đã được quy định khá chặt chẽ, vẫn không phát hiện ra và ngăn chặn được.
Do vậy, trong việc xây dựng hệ thống thể chế, phải theo nguyên tắc: công khai, minh bạch; phải thu hút tối đa các doanh nghiệp, các hội, hiệp hội doanh nghiệp, các chuyên gia, tổ chức tư vấn độc lập, v.v... tham gia vào quá trình soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật, không thể cứ để các cơ quan nhà nước soạn thảo một cách “khép kín”.
Nói cách khác, phải tìm mọi cách hạn chế khả năng bành trướng quyền lực của cơ quan công quyền, phải có sự giám sát cơ quan công quyền ngay từ khi họ định đưa ra những quy định có thể bành trướng quyền lực của họ. Nguyên tắc đã được đề ra là: Nhà nước chỉ làm những việc gì đích thực cần thiết, đúng với chức năng của Nhà nước, còn thì để thị trường điều tiết theo nguyên tắc của thị trường, doanh nghiệp tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong kinh doanh.
Trong quá trình thi hành các thể chế, chính sách, tệ nạn tham nhũng có thể phát triển, muôn hình vạn trạng. Bộ máy và công chức cơ quan công quyền có thể đẻ ra thêm vô số thủ tục buộc doanh nghiệp phải tuân theo, thậm chí vòi vĩnh, gây khó khăn. Ví dụ như: không cho doanh nghiệp hưởng những quyền và ưu đãi đã được quy định trong văn bản pháp quy: như thuê đất, vay vốn, giảm, miễn thuế, v.v...
“Phép vua thua lệ làng” đã được thể hiện khá rõ, ngay trong công việc thường ngày của một nhân viên cơ quan hải quan, thuế vụ, cảnh sát giao thông ...Dù doanh nghiệp đương nhiên được hưởng những quyền đã được quy định trong văn bản pháp quy, nhưng vẫn bị đòi xuất trình những giấy tờ không liên quan; có khi vụ việc bị đùn đẩy từ người này sang người khác, hoặc cố tình kéo dài, vẫn bị hạch sách đủ điều, mà phần thua chắc chắn là ở phía người dân và doanh nghiệp, v.v...
Do đó, phải tìm cách hạn chế quyền lực cụ thể của mỗi cơ quan công quyền cũng như của mỗi công chức, không cho họ bành trướng thêm ngoài quy định của pháp luật, nghĩa là cơ quan nào, người nào làm việc gì, chịu trách nhiệm cá nhân đến đâu, phải rõ ràng, và phải được giám sát. Các thủ tục hành chính của từng việc phải công bố công khai, minh bạch, được niêm yết công khai nơi công sở. Bộ máy càng hợp lý, gọn nhẹ, công chức được sử dụng và được đãi ngộ xứng đáng, càng dễ chống tham nhũng.
Quan trọng hơn nữa là những công chức nhũng nhiễu doanh nghiệp phải bị trừng trị đích đáng, không để cho họ bênh che nhau, vì thông thường trong hệ thống quyền lực, họ rất dễ có "dây mơ rễ má" với nhau, cho nên, phải đưa sự giám sát của doanh nghiệp vào từng khâu, từng mắt xích của hệ thống.