Đối Thoại          Website: Doi-Thoai.com         Email: toasoandoithoai@yahoo.com


Thư Cho Con
Tâm Sự Giáo Già

 

Thư Cho Con

Giáo Già

Tâm Sự Giáo Già

Ngày 23 tháng 8 năm 2007

H.,

Dân oan kéo về biểu tình trên đường phố Saigon

Tuần nầy, tạm gác những chuyện liên quan đến thời cuộc, mặc dầu chuyện dân oan vẫn còn là vấn đề nhức nhối, làm điên đầu nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam (CSVN), vì gần 1 tháng sau khi cuộc biểu tình của người dân khiếu kiện, trước cửa Văn phòng Quốc hội 2, bị họ cưỡng chế giải tán, với lời hứa sẽ chỉ định từng địa phương giải quyết cụ thể; nhưng tình trạng của bà con dân oan vẫn chưa có dấu hiệu gì khả quan. Theo tin được loan trên đài Á Châu Tự Do (RFA) thì khi đa số dân oan ở địa phương đến gõ cửa các cơ quan trách nhiệm đều nhận được những câu trả lời qua loa, chiếu lệ, như trước kia. Nhiều người bất bình tiếp tục kéo về Sài Gòn biểu tình, kéo đến phòng Tiếp dân số 210 Võ Thị Sáu, quận 3, để tiếp tục khiếu kiện. Hàng ngày họ chầu chực để được xem xét, nhưng cũng hoài công vô ích. Những ai mạnh dạn đấu tranh thì liên tục bị an ninh mời lên điều tra, sách nhiễu, đe doạ.

Nông dân từ các tỉnh kéo về trụ sở tiếp dân để khiếu kiện.

Cũng xin không nói nhiều đến chuyện Thượng Tọa Thích Không Tánh, cùng 2 nữ phật tử của Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất, do Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ cử ra Thủ Ðô Hà Nội để phát quà cứu trợ hàng trăm dân oan đang biểu tình khiếu kiện tại văn phòng tiếp dân của Ðảng và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, tại số 110 đường Cầu Giấy, đã bị công an bắt giữ lúc 11 giờ sáng nay, ngày 23/8/2007, khiến số tiền hơn 200 triệu đồng VN dự định phát làm quà cứu trợ cho đồng bào dân oan miền Bắc cũng lọt vào tay công an, mà không ai biết nó sẽ được giải quyết cách nào, theo thứ luật rừng trong cả rừng luật Xã hội Chủ nghĩa; chuyện Nhà báo tranh đấu Nguyễn Khắc Toàn đi giúp phát quà cho dân oan ở tòa án tối cao số 48 phố Lý Thường Kiệt bị công an Hà nội bị bắt giữ gần 3 giờ trong đồn phường Trần Hưng Ðạo, vào chiều qua hôm qua, 22/8/2007; chuyện Cô Lê Thị Kim Thu vừa bị công an Hà Nội bắt giữ từ tối hôm qua (22-08-2007, giờ VN); rất nhiều chuyện não lòng...; để viết cho con đọc lại chuyện “Tâm Sự Giáo Già” mà Ba đã tâm sự hơi nhiều khi phát biểu với quan khách và bằng hữu trong buổi ra mắt Tập 8 Thư Cho Con do Hội Cao Niên Diên Hồng tổ chức tại Oakland, California, ngày 18/8/2007 vừa qua.

Hôm đó, Ba đã nhắc lại câu hỏi được nhiều người hỏi Ba rằng: “Anh nói chuyện với con anh không được sao mà phải viết thư cho nó”. Ba đã thưa rằng: “Sao lại nói không được, đâu có gì để phải không nói được.” Nhưng “Có những điều nói được mà cũng có những điều không nói được một cách tự nhiên, nếu không muốn nói là rất... khó nói. Vì vậy, tiện hơn hết là viết. Viết thoải mái hơn nói. Nói cần phải lựa lúc, lựa lời, đâu phải lúc nào nói cũng được, đó là chưa kể phải uốn lưỡi bảy lần trước khi nói, đâu phải muốn nói thì nói; đó là chưa kể nhiều khi phải chứng minh lời nói bằng hình ảnh thì bất tiện quá, nói cho con nghe mà làm như thuyết trình trước quan khách. Viết thì lúc nào cũng được. Nửa đêm, chợt thức giấc, ngủ lại không được, ra bàn mở computer gõ lọc cọc một hai giờ, được năm mười trang, là xong một bức thư. Sáng dậy đọc lại không vừa ý, còn được sửa tới sửa lui. Chớ nói rồi thì “nhứt ngôn ký xuất tứ mã nan truy”, một lời lỡ nói ra rồi xe bốn ngựa đuổi theo cũng không kịp.”

Có một số người khác vui miệng nói với Ba “Anh viết Thư Cho Con như Ðại Hàn làm phim bộ, hết tập nầy tới tập khác. Anh có tính tới cuốn thứ mấy thì hết bộ phim dài Thư Cho Con”. Ba đã cám ơn câu hỏi khá lý thú đó trước khi trả lời rằng: “Tôi không biết, vì khi tôi còn sức viết, và thời cuộc còn có chuyện đáng viết, thì mỗi tuần còn có Thư Cho Con xuất hiện, và mỗi năm tiếp tục có 2 cuốn Thư Cho Con đã được hiệu đính in ra để làm lễ vật dâng cúng phụ mẫu theo lời nguyện của tôi lúc hai Người còn sanh tiền”.

Giáo Già đang “tâm sự”

Lại có người nói với Ba: “Anh làm chuyện không giống ai” và Ba đã trầm ngâm đáp: “Thú thật tôi không hiểu hết nghĩa ba chữ ‘không giống ai’ được nói tới đó, nên không dám trả lời; chỉ dám thưa rằng tôi đã làm, đang làm, và sẽ làm theo đúng lời nguyện của tôi đối với Ba Má tôi lúc hai Người còn sanh tiền, cũng như lúc hai Người đã qua đời. Cho tới bây giờ, mỗi lần đi San Jose, đến nghĩa trang Oak Hill, đốt nhang trước mả Ba Má, tôi đều tiếp tục nguyện như vậy. Người ta giàu, người ta có nhiều phương tiện, người ta cúng giỗ Cha Mẹ bằng mâm cao cổ đầy. Còn tôi, tôi có chút chữ nghĩa được Ba Má dạy cho trong suốt cuộc đời, nhứt là khi gia đình suy sụp, nghèo túng đến độ đi học không có guốc mang, không có tiền mua sách, phải vào nhà sách “tra tự điển cọp”. Tôi cúng Ba Má tôi chút chữ nghĩa đó, những chữ nghĩa kết tinh thành những tác phẩm, thành những lá Thư Cho Con... Ðây cũng là cách tôi tự dặn lòng mình rằng ngày nào tim tôi còn biết thế nào là yêu thương, ngày đó tôi không thể nào quên được tình yêu thương Ba Má tôi dành cho tôi; ngày nào đầu óc tôi còn biết suy nghĩ, ngày đó tôi còn biết công ơn nuôi dạy của Ba Má tôi và chắt lọc nó thành các tác phẩm dùng dạy các con tôi như Ba Má tôi đã dạy tôi...”

Có người trách Ba: “Sao cứ mang chuyện riêng của mình ra làm phiền thiên hạ.” Ba đã xin lỗi và thưa thêm rằng: “Nếu những lá Thư Cho Con của tôi có làm phiền ai đó thì cho tôi xin lỗi. Tôi biết đây là chuyện riêng của tôi, viết Thư Cho Con tôi là chuyện riêng của tôi, nhưng những điều tôi muốn nói với con tôi, cho nó biết các chuyển biến thời cuộc có phần nào liên quan đến cuộc sống của tôi, của nó, của gia đình chúng tôi, lắm khi của cả 3 triệu người Quốc gia Việt Nam hải ngoại, của non 85 triệu dân Việt Nam đang lầm than ở quốc nội, để cùng nhau suy nghĩ, cùng nhau nhắc nhớ thân phận tỵ nạn của mình, nhắc nhớ mình là người lưu dân lúc nào cũng phải nhớ quê hương đích thực của mình ở bên kia biển Thái Bình, ở cách xa hơn nửa vòng trái đất, đang trầm luân trong thảm nạn độc đảng độc tài, hơn 32 năm rồi, chưa biết đến chừng nào mới kết thúc, nhắc nhớ mình bỏ nước ra đi vì không chịu nổi sự áp chế của đoàn người gian ác từ Bắc vô Nam làm tan nát cả đất nước phồn vinh hơn các quốc gia phồn vinh trong vùng Ðông Nam Á, mà theo thống kê được Học Giả Ðỗ Thông Minh trích dẫn Economic Bulletin / Singapore ngày 14/4/2007 trang 738 ghi nhận sự thay đổi lợi tức đầu người trong một năm, tính từ năm 1956 đến 2006 [50năm] ở một số quốc gia Á châu và Ðông Nam Á cho thấy::           

                       

Quốc gia                                            năm 1956       năm 2006

Ðài Loan                                            121 đô la                   12,000 đô la

Mã Lai                                                246                             4,520

Thái Lan                                            64                                            2,450

Nam Dương                           87                                            1,150

Nam Việt Nam                       144                             550 (toàn VN)

Giặc từ Miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa nghèo đói vô xâm lăng Miền Nam Việt Nam phồn vinh đã gieo đau thương tang tóc cho cả dân tộc, bỏ tù bao nhiêu người trong các trại cải tạo, đày đọa bao nhiêu gia đình nơi các vùng kinh tế mới, các nông công trường xã hội chủ nghĩa, giáo dục trẻ thơ làm những chuyện mánh mung gian dối, giết chết tương lai thế hệ tiếp nối. Tưởng Thư Cho Con là chuyện riêng, nhưng nó là chuyện chung của những người cùng mang chung thân phận tỵ nạn lưu lạc xứ người, không phải để cầu thực mà để tìm tự do. Nó cũng là những điều tôi muốn nói với bạn bè của con tôi, nói với bạn bè của tôi. Tôi muốn qua những điều tôi viết cho con, trình bày cho dư luận rõ về những chuyển biến của thời cuộc, với những nỗ lực không ngừng của những người còn nhận mình là con dân của Tổ Quốc Việt Nam đang từng ngày tranh đấu rút ngắn ngày về cố quốc không còn thảm nạn độc đảng độc tài, dưới bất cứ hình thức nào.”

Bìa sau và bìa trước Thư Cho Con Tập 8

Ba cũng mượn dịp nầy để lên tiếng cám ơn Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm, nguyên Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên Việt Nam Cộng Hòa, đã thông cảm, khi viết Lời Tựa cho cuốn Thư Cho Con Tập 8 nầy, qua trích đoạn ghi sau: “Mỗi lá thư của tác giả là một lời kêu gọi thiết tha, một tiếng chuông thức tĩnh, giống lên trong cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản ở hải ngoại, thúc giục mọi người đừng quên bảo vệ căn cước của người Việt quốc gia đồng thời hãy tích cực yểm trợ công cuộc đấu tranh chính đáng của những người trong nước, đang can đảm đứng lên đòi quyền làm người và sự tự do dân chủ cho người dân trước sức áp chế khắc nghiệt của chế độ độc tài cộng sản... Nhờ những phân tích cặn kẽ, những suy tư sâu xa, những lập luận vững chắc của ông mà qua những bức thư gửi cho con, người đọc có thể thấy rõ bản tính nói láo, hư cấu để tuyên truyền, che giấu sự thật để lừa dối dân chúng, đánh lừa dư luận, của chánh quyền cộng sản, cũng như chính sách độc tài, kềm kẹp khắc nghiệt của họ đối với các tôn giáo và các nhà hoạt động chính trị đối lập...” (Nguyễn Thanh Liêm, Lời Tựa, Thư Cho Con Tập 8, Mekong-Tynan, California, 2007, trang 5-11)

Sau đó, Ba nói thêm: “Song song với sự thông cảm của Giáo sư Liêm, thỉnh thoảng tôi có nhận được những lời khích lệ lớn lao của nhiều độc giả, qua điện thoại, qua email, và qua cả vài cuộc gặp mặt hàn huyên tâm sự trước ly cà phê thơm phức, trước tô phở nước trong veo bốc khói ngào ngạt... Tuy nhiên, cũng có vài người đã đi xa hơn chuyện thông cảm và khích lệ, để yêu cầu tôi phải viết thế nầy thế nọ, nhưng những điều được gọi là “thế nầy thế nọ” đó lại là những điều ngoài sự hiểu biết, và ngoài cả khả năng của tôi, ngoài ý muốn của tôi, lắm lúc lại là những điều có thể gây nên ác cảm hoặc hiềm khích với người nầy người nọ mà tôi không bao giờ dám. Gặp mấy trường hợp nầy tôi đã xin lỗi và xin quý vị đó cứ tùy tiện tự viết cho vừa ý họ, đừng ép tôi phải viết theo ý họ khi tôi không có được những suy nghĩ như họ. Tôi biết quý vị đó buồn tôi, nhưng thà để cho họ buồn tôi, hơn là tôi làm buồn người khác, những người tôi không bao giờ muốn làm buồn, trong đó có những người tôi nghĩ rằng trong tương lai có thể đồng hành với tôi trên đường cùng nhau góp sức quang phục quê hương. Lắm lúc, những lá Thư Cho Con gây thành phản ứng dữ dội từ một số người nặc danh gọi điện thoại mắng tôi là “thằng già biết gì mà viết”, sao dám “nói xấu Ðảng và Nhà nước”, với lời đe dọa sỗ sàng “trong nước sợ công an trốn chạy như chuột, ra đây rồi bịa điều đặt chuyện nói xấu công an, có giỏi thì đi về nước ngồi viết kiểm điểm cho công an đọc...”.

Tâm sự sau cùng Ba trình bày hôm đó là: “Tôi nghĩ, làm báo là cái nghề, và những lá Thư Cho Con của tôi là cái nghiệp, một thứ biệt nghiệp đồng hành với cộng nghiệp. Nói theo thi hào Nguyễn Du trong Ðoạn Trường Tân Thanh thì:

Ðã mang lấy nghiệp vào thân

Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa

Và để kết thúc phần tâm sự nơi đây, tôi xin được nhắc lại câu chuyện mà tôi đã có lần thưa qua trong một dịp nào đó tôi không nhớ rõ. Ðó là, lúc còn sanh tiền, khi gia đình tôi mới qua đây tỵ nạn, năm 1984, chưa có việc làm mà cũng chưa biết phải làm gì thì bị bạn bè tới trước, đã an cư lạc nghiệp, xúi dại đi làm báo, cho làm Chủ bút tờ Saigon. Về nhà kể lại chuyện mừng vừa có “job” cho Má tôi nghe, bà không có ý kiến, chỉ nói một câu ngắn: “Nhà giáo cộng với nhà báo là nhà nghèo đó nghe con”.

Sau khi “tâm sự” với “người ngoài”, Ba trở lại “tâm sự” với con, nói với con rằng những lá Thư Cho Con được Ba đều đặn viết hằng tuần không chỉ lưu ý con những chuyển biến thời cuộc đáng quan tâm, mà còn nhắc nhớ những hệ quả tốt chỉ có được từ đó khi nó mang giá trị của một ánh lửa được chia sẻ, một đôi môi hé mở, một bàn tay mở rộng và một tâm hồn khoáng đạt bao dung:

1.      Một ánh lửa có chia sẻ mới lan toả được ánh sáng và ban trải sự ấm áp.

2.      Ðôi môi có hé mở mới bộc lộ được nụ cười, mới nói được lời nhơn ái.

3.      Bàn tay có mở rộng mới trao và nhận được quà tặng thân thương.

4.      Tâm hồn có khoáng đạt bao dung mới tràn ngập tươi vui, hạnh phúc.

Hẹn con thư sau

Giáo Già