Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Thư gởi ông Michael Michalak tân Ðại sứ Mỹ tại Việt Nam |
Kính thưa ông Đại Sứ
Nhân dịp ông đại diện cho chính phủ Hoa Kỳ đến đất nước Việt Nam chúng tôi trong
vai trò đại sứ, nhân danh cá nhân và trên 80 triệu công dân Việt Nam xin gởi đến
ông những ước mơ cùng nguyện vọng của dân tộc tôi. Xin kính chúc cho ông luôn
luôn dồi dào sức khỏe.
Chúng tôi được biết rằng trước khi đến Việt Nam, ông đã từng gặp gỡ các nhà đấu
tranh dân chủ ở Hoa Kỳ, ông cũng có hứa là sẽ thường xuyên gặp gỡ các nhà bất
đồng chính kiến đang đấu tranh ôn hòa trong nước. Chúng tôi hy vọng với sự giúp
đỡ nhiệt tình của ông cùng với những ảnh hưởng liên kết không thể thiếu được
giữa đất nước Việt Nam và Hoa Kỳ thì trong một tương lai không xa, nhân quyền
trong đó mọi quyền tự do căn bản của con người sẽ được thực thi đúng mức ở đất
nước chúng tôi đúng như những gì mà ĐCSVN đã từng cam kết thi hành trước Liên
Hiệp Quốc và các công ước quốc tế. Đây cũng là ước mơ chung không những cho toàn
dân Việt Nam trong nước mà còn cho hơn 3 triệu đồng bào Việt Nam ở nước ngoài,
trong đó đông nhất là ở Hoa kỳ.
Với truyền thống đầy lòng nhân ái và tinh thần bao dung rộng lượng của tổ tiên
chúng tôi để lại, toàn dân tộc chúng tôi sẵn sàng quên đi quá khứ mà chính quyền
CSVN đã gây ra với những cảnh tượng kinh hoàng và đen tối nhất trong lịch sử VN.
Thật vậy, vào những năm 1954-1956, ĐCSVN đã tiến hành cuộc cải cách ruộng đất
với những cảnh thanh trừng đẫm máu các thành phần không cùng quan điểm với đảng
đã khiến cho hơn 300 ngàn người dân vô tội phải bị giết oan và tiếp theo những
năm sau đó lại thêm cuộc thanh trừng đối với các văn nghệ sĩ qua phong trào nhân
văn giai phẩm, tội ác tàn bạo này lại được ĐCSVN lập lại vào dịp tết Mậu Thân
năm 1968 tại cố đô Huế với những mồ chôn tập thể được bỏ lại khi rút lui vì sự
quyết tâm tái chiếm lại Huế của Quân Lực VNCH.
Nhân dân Việt Nam thật là vô phước khi phải chịu sống trong những hoàn cảnh đau
thương này. Trước năm 1975 Hoa kỳ đã đến đất nước chúng tôi để cùng với nhân dân
miền Nam chúng tôi chiến đấu bảo vệ nền tự do dân chủ trước sự xâm lăng của chủ
nghiã Cộng sản đầy tham vọng với mục tiêu thế giới đại đồng, nhưng rồi cũng vì
quyền lợi riêng mà Hoa Kỳ đã bỏ rơi miền Nam VN để cho CS chiếm, khiến cho sự hy
sinh của trên 58 ngàn quân nhân Mỹ trên đất nước VN đã không tròn nguyện ước.
Chính vì sự quay lưng của chính phủ Hoa Kỳ lúc đó mà ĐCSVN đã thống nhất đất
nước theo con đường cộng sản. Với nền tự do dân chủ và cuộc sống sung túc của
nhân dân miền Nam VN đã không thay đổi được tư duy của hàng lãnh đạo CSVN. Sau
bao cuộc thanh trừng từ việc đánh tư sản, phân chia ruộng đất cho đến việc đầy
đọa tàn bạo dưới hình thức tập trung cải tạo hầu hết quân nhân, cán chính của
VNCH, tập trung dân thành thị vào những vùng đồng khô cỏ cháy được mệnh danh là
khu kinh tế mới…v.v… khiến cho cuộc sống của nhân dân miền Nam phải chịu chung
cảnh khổ mà nhân dân miền Bắc thân yêu đã chịu đựng trong suốt 30 năm dài dưới
quyền lãnh đạo của đảng CSVN. Đây là hệ qủa tất yếu khiến cho hơn 3 triệu người
Việt Nam giờ đây phải chấp nhận cuộc sống tha hương trên khắp thế giới trong đó
cũng có hàng trăm ngàn người phải bỏ mình nơi biển cả, nhưng với sự văn minh
vượt bực của nền dân chủ đa nguyên trên thế giới cũng như với sự thành công của
các kiều bào Việt Nam ở hải ngoại, cùng với sự sụp đổ hoàn toàn của chủ nghĩa CS
ở Liên Sô và cả khối Đông Âu đã khiến cho ĐCSVN bắt buộc phải chấp nhận nền kinh
tế thị trường của tư bản.
Tuy nhiên, cũng vì tham vọng quyền lực và sự giàu có bất minh mà các nhà lãnh
đạo CSVN không dám mở rộng con đường cạnh tranh về chính trị, bởi vì họ biết
rằng nếu cho các thành phần không cùng quan điểm được tự do chỉ trích những sai
trái của chính quyền cũng như cho phép báo chí tư nhân hoạt động theo như những
gì mà ĐCSVN đã từng cam kết thì không bao giờ người dân chấp nhận sự cai trị
suốt đời của đảng cả, và trên 600 tờ báo quốc doanh sẽ không bao giờ tồn tại. Vì
thế cho nên ĐCSVN đã lừa dối cả thế giới bằng những luận điệu tuyền truyền có hệ
thống từ trong nước cho đến quốc tế.
Nhân dân Việt Nam cũng không hiểu vì sao Hiệp định đình chiến Paris ngày
27/01/1973 quy định tổng tuyển cử để cho nhân dân chọn lựa thành phần lãnh đạo
đất nước có sự tham gia và bảo đảm của các cường quốc trong Hội đồng Bảo an LHQ,
nhưng khi ĐCSVN xé bỏ hiệp định để dùng quân sự với sự tiếp sức tối đa của Liên
Sô và Trung Quốc đánh chiếm miền Nam trong lúc có sự hiện diện của Ủy ban Kiểm
soát đình chiến, thế nhưng LHQ và các cường quốc đã ký tên trong hiệp định đều
lặng thinh trước hành động vi phạm này của CS.
Nhân dân VN cũng nhận thấy rằng chính quyền CSVN đã từng tham gia cam kết thi
hành các công ước quốc tế như: Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 của
LHQ được thừa nhận trên toàn thế giới và Công ước Quốc tế quy định về quyền Dân
sự và Chính trị năm 1966 ..vv.. tất cả cũng đều khẳng định là quyền tự do ngôn
luận, quyền quảng bá ý kiến và tin tức qua mọi phương tiện truyền thông và qua
mọi biên giới, cũng như mọi người đều có quyền giữ vững quan điểm của mình mà
không bị ai can thiêp. Tại Việt Nam những quyền tự do căn bản đó cũng được ghi
trong điều 69 của Hiến pháp năm 1992. Nhưng trên thực tế không bao giờ được nhà
nước CSVN tôn trọng và thi hành, những ai không cùng quan điểm vơí đường lối cai
trị độc tài của đảng mà dám công khai nói lên tiếng nói lương tri của con người
dù là một cách ôn hòa, đều bị ĐCSVN liệt vào thành phần tuyên truyền chống phá
nhà nước theo điều 88 Bộ luật Hình sự, một điều khoản đi ngược lại điều 69 của
chính Hiến pháp do ĐCSVN đề ra, nó cũng hoàn toàn không phù hợp với Bản Tuyên
ngôn Quốc tế Nhân quyền và các Công ước Quốc tế quy định về quyền Dân sự và
Chính trị, mà Việt Nam là một thành viên đã từng cam kết thi hành.
Điển hình trong thời gian vừa qua chính quyền CSVN đã thẳng tay đàn áp thô bạo
và bắt giam gần hết các nhà đấu tranh tự do dân chủ một cách ôn hòa như LS
Nguyễn Văn Đài, LS Lê Thị Công Nhân, LS Nguyễn Bắc Truyền, BS Lê Nguyên Sang, Ký
giả Huỳnh Nguyên Đạo, Ký giả Trương Minh Đức, nhà văn Trần Khải Thanh Thuỷ,
chuyên viên Nguyễn Phong, các công nhân Nguyễn Huy Chương, Nguyễn Tấn Hoành, cựu
chiến binh Lê Trí Tuệ, LS Nguyễn Thị Thùy Trang, Lê Thị Bích Hằng, dân oan Hồ
Thị Bích Khương, Ngô Lướt .
Nghiêm trọng và trắng trợn hơn, xem thường dư luận nhất là phiên tòa bịt miệng
LM Nguyễn Văn Lý với hình ảnh đã được lan truyền khắp thế giới. Hiện nay số
người bị CSVN bắt giam về tội tuyền truyền chống nhà nước không sao biết hết
được. Ngoài ra, số người mà trong thời gian qua vì áp lực quốc tế buộc CSVN phải
thả ra như nhà báo Nguyễn Vũ Bình, BS Phạm Hồng Sơn, LS Lê Quốc Quân, nhà báo
Nguyễn Khắc Tòan….v.v…đã cùng với những người khác như GS Hoàng Minh Chính, GS
Trần Khuê, TS Nguyễn Thanh Giang, ông Lê Hồng Hà, giáo viên Dương Thị Xuân, kỹ
sư Đỗ Nam Hải, nhà văn Nguyễn Xuân Nghiã, Trung tá Trần Anh Kim…v.v… (còn rất
nhiều mà chúng tôi không nhớ hết) hàng ngày chịu cảnh quản chế, bị trù dập và
công an theo dõi gắt gao cả ngày lẫn đêm, công ăn việc làm đều bị cắt bỏ hòan
toàn. Tháng 11 năm 2006 VN đăng cai tổ chức Hội nghị APEC và khi Tổng thống Mỹ
cùng các nhà lãnh đạo của các nước phát triển trên thế giới có mặt tại VN, thì
tất cả các nhà bất đồng chính kiến với đảng CS đều bị công an cô lập không cho
tiếp xúc với bên ngoài, tư gia của họ được công an đặt chốt canh gác ngày đêm.
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất kể từ năm 1981 là năm mà ĐCSVN thành lập
Giáo Hội quốc doanh thì tất cả những cơ sở tài sản của GHPGVNTN đều bị tịch thu
cho đến ngày nay, chùa chiền của GHPGVNTN thì thường xuyên bị chính quyền sách
nhiễu, hăm dọa khiến cho tín đồ không dám vào chùa để hành đạo, nhị vị hòa
thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ thì bị quản chế thường xuyên không
biết đến bao giờ mới hết, thiền viện nơi 2 Ngài an trụ thì được công an canh gác
ngày đêm, các nhà sư và chùa chiền, tự viện của GHPGVNTN trên toàn quốc cũng đều
có chung hoàn cảnh. Chỉ có các chùa chiền, tự viện và các nhà sư quốc doanh được
chính quyền công nhận và quản lý dưới sự kiểm soát của ban tôn giáo và Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc thì mới được tự do hành đạo, tín đồ các tôn giáo chỉ được tự do
hành lễ ở những nơi đã được chính quyền quản lý và cho phép.
Tôn giáo Tin lành hệ Mennonite ở Tây nguyên vẫn thường xuyên bị công an đàn áp
ngày đêm khiến cho một số tín đồ chịu không nổi đành phải tìm đường lánh nạn
sang Campuchia. Một sự thật qúa rõ ràng như thế nhưng không hiểu sao chính quyền
CSVN lại được chính phủ Hoa kỳ cho hưởng quy chế PNTR và bỏ tên trong danh sách
các quốc gia cần đặc biệt quan tâm CPC vv…, bởi vậy cho nên sau khi ĐCSVN được
toại nguyện rồi thì họ với bản chất sẵn có lại gia tăng những cuộc đàn áp dã man
chưa từng có trong thời gian hơn 20 năm qua, chiến dịch vừa đánh vừa đàm của
CSVN vẫn còn hiệu qủa và lời nói của cố Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu: “Ðừng
tin những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm” vẫn mãi mãi là
chân lý cho những ai còn tin vào những lời hứa của các nhà lãnh đạo đảng CSVN.
Thưa ông Đại sứ,
Chúng tôi còn nhớ lời nói của TT Bush tại Spokane trước khi đến VN tham dự hội
nghị APEC đại ý là: Việt Nam muốn vào WTO thì phải chấp nhận cuộc chơi. Cuộc
chơi của WTO là bắt buộc mọi thành viên phải chấp nhận có sự cạnh tranh lành
mạnh từ kinh tế lẫn chính trị, nghĩa là phải chấp nhận đa nguyên trong mọi thành
phần của xã hội. Nhưng một thực tế qúa phũ phàng là chính quyền CSVN chỉ chấp
nhận kinh tế đa thành phần (bởi vì đa số người giàu có bây giờ là chính những
cán bộ cao cấp hoặc con cái, thân nhân, dòng họ của những cán bộ chức quyền),
còn về chính trị thì ĐCSVN không bao giờ cho bất cứ ai cạnh tranh cả.
Điều 4 Hiến pháp quy định ĐCSVN là thành phần duy nhất lãnh đạo đất nước là sai
và không phù hợp cho một thành viên LHQ và WTO, ngay cả sự trao đổi về văn hóa
và thương mại CSVN cũng vẫn không tôn trọng quy luật của WTO bởi vì thử nhìn lại
xem báo chí và văn hóa phẩm của CSVN tràn ngập thế giới nhất là ở Hoa kỳ,
Canada, Australia …, còn báo chí và văn hóa phẩm của người Việt hải ngoại thì
không bao giờ có mặt tại Việt Nam. Trên đây chỉ là một phần nhỏ trong chuỗi dài
mà ĐCSVN đang áp dụng để lừa gạt nhân dân trong nước và quốc tế, chúng tôi vì
trình độ qúa giới hạn cho nên không thể trình bày hết được.
Tuy nhiên, cũng vì tôn trọng sự công bằng và lẽ phải cho nên chúng tôi rất mong
ông với tư cách là đại sứ một nước lớn như Hoa Kỳ tại Việt Nam, xin ông hãy vì
lương tâm mà bênh vực cho nhân dân VN có quyền làm người, được sống trong nền tự
do dân chủ mà các dân tộc khác trên thế giới đang hưởng mặc dù đã qúa muộn. Ước
nguyện của nhân dân VN là .
1/ Được tự do chọn lựa người lãnh đạo đất nước theo đúng tinh thần của hiến
chương LHQ
2/ Được quyền gia nhập cũng như thành lập các hội đoàn độc lập với chính quyền,
được quyền bày tỏ chính kiến của mình mà không bị trù dập hoặc bị trả thù
3/ Bất cứ ai nếu có đủ quyền công dân cũng đều được tự do ứng cử chớ không phải
đảng cử như hiện nay, được tự do bầu cử chớ không phải bị đi bầu theo chỉ định
của đảng như hiện nay
4/ Phải có báo chí tư nhân độc lập với chính quyền để người dân được tự do tiếp
thu những luồng thông tin đa chiều.
5/ Phải để cho người dân chúng tôi được phê phán và giám sát chính quyền hầu
tránh tình trạng chính quyền độc taì, tham nhũng thối nát như hiện nay…v.v…
Chúng tôi nhận thấy rằng: Những ước mơ mà chúng tôi đang phấn đấu đó chỉ là
những quyền lợi qúa tầm thường mà nhân dân các nước tiên tiến trên thế giới đã
và đang thừa hưởng, chúng tôi tin tưởng rằng chính nghĩa bao giờ cũng thắng bạo
tàn phi nghĩa. Nếu đất nước VN chúng tôi có được nền tự do dân chủ như hằng mong
đợi thì sự hy sinh của trên 58 ngàn quân nhân Hoa kỳ trên đất nước chúng tôi sẽ
rất xứng đáng trên bầu trời tự do của nhân loại. Lịch sử Việt Nam và nhân dân
Việt Nam sẽ không bao giờ quên ơn quý vị.
Chúng tôi xin đại diện cho 85 triệu con người Việt Nam yêu chuộng tự do và công
bằng xin kính chúc ông và gia đình ông luôn luôn tràn đầy hạnh phúc.
Việt Nam, ngày 27/08/2007
Hoàng Trung Việt