Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Nguyễn Mạnh Tường:Qua những sai lầm trong Cải cách Ruộng đất Xây dựng quan điểm lãnh đạo |
3.5.2005 www.talawas.de
Nguyễn Mạnh Tường
Qua những sai lầm trong Cải cách Ruộng đất
- Xây dựng quan điểm lãnh đạo
1 2
Luật sư Nguyễn Mạnh Tường (1909-1996), năm 23 tuổi đă đậu hai bằng Tiến sĩ Văn khoa và Luật khoa ở Đại học Montpellier, Pháp. Sau khi về nước, ông dạy học tại trường Trung học Bảo hộ (Lycée du Protectorat). Bất mãn vì chính sách kỳ thị của Pháp, ông bỏ nghề dạy ra mở văn phòng luật sư. Năm 1946, ông tham dự Hội nghị Việt-Pháp tại Đà Lạt nhưng không được cử đi dự Hội nghị Fontainebleau. Ông theo chính phủ Hồ Chí Minh kháng chiến chống Pháp tới ngày ký Hiệp định Genève 1954 thì trở về Hà Nội dạy học ở trường Đại học Văn khoa. Với tư cách thành viên của Mặt trận Tổ quốc, L.S. Nguyễn Mạnh Tường đọc bài diễn văn này trong một phiên họp của Mặt trận Tổ quốc ở Hà Nội, ngày 30 tháng Mười, 1956. Cũng nên nhắc lại rằng bài diễn văn này được đọc sau khi Trung ương Đảng hạ lệnh chấm dứt chiến dịch Cải cách Ruộng đất ngày 20.7.1956 và sau đó ban hành các biện pháp sửa sai. Vì bài diễn văn này, ông Tường bị tước hết mọi chức vụ và danh vị nghề nghiệp và phải sống một cuộc đời vô cùng thiếu thốn. Năm 1991, nhân dịp được phép sang Pháp ông đưa cho nhà xuất bản Quê Mẹ ở Paris in và phát hành cuốn sách tự thuật L’excommunié (Kẻ bị khai trừ) năm 1992. Ông trở về Hà Nội và mất năm 1996, thọ 87 tuổi.
Thưa các quí vị,
Hội nghị Mặt trận Trung ương họp để nghiên cứu các sai lầm trong Cải cách Ruộng
đất và chính sách sửa chữa sai lầm ấy. Hôm nay tôi được đúc kết trước toàn thể
Hội nghị các ý kiến mà trong mười ngày vừa qua tôi đã trình bày trong tổ thảo
luận, với tinh thần thận trọng của người trí thức không bao giờ quên trách nhiệm
của mình trước nhân dân và lịch sử nước nhà.
Tôi phấn khởi được nghe bản phê bình của Đảng Lao động do ông Trường Chinh đọc
trước Hội nghị. Nhưng tôi cũng phải thú rằng lòng phấn khởi của tôi một phần bị
giảm đi, vì tôi nhớ lại kết quả tai hại của các sai lầm đã phạm trong công cuộc
Cải cách Ruộng đất. Tôi xin phép các vị được kính cẩn nghiêng mình trước kỷ niệm
những người vô tội đã chết oan, không phải vì bàn tay của địch mà chính của ta.
Trong cuộc kháng chiến anh dũng của ta, những đồng bào đã hi sinh, có thể nói
được, chết với trong lòng chan chứa nỗi vui sướng vì chết cho sự nghiệp giải
phóng dân tộc khỏi nanh vuốt của địch. Họ chết vì địch, cho ta, đó là cái chết
tích cực, cái chết vẻ vang, cái chết oanh liệt mà Tổ quốc ghi nhớ muôn thuở.
Trái lại, các người chết oan vì các sai lầm trong cuộc Cải cách Ruộng đất này,
lúc tắt thở, cay đắng đau xót vì chết với một ô danh. Chúng ta đã xoá bỏ cái ô
danh đó, nhưng con cháu của các nạn nhân tài nào mà không ngậm ngùi? Đau đớn
hơn, bây giờ ta làm thế nào mà biến cái khổ cực của người tắt thở thành một niềm
an ủi cho họ được? Nếu chúng ta duy tâm và tin rằng linh hồn còn tồn tại thì một
phần nào ta chuộc lại được tội lỗi của ta. Nhưng ta duy vật và các người ấy lúc
chết cũng là duy vật. Do đó, cái nỗi khổ cực của họ ta biết rõ rằng bây giờ ta
không thể nào thủ tiêu được nữa. Quyền hạn của ta không tới đó. Nhưng cái gì ta
có thể làm được, ta cần làm, để như là đền bù một phần nào sự tổn thiệt của các
người ấy, và chứng minh ta thấm thía nỗi đau khổ của họ khi họ từ trần là ta
cương quyết rút bài học kinh nghiệm đau đớn và sửa chữa các sai lầm nghiêm trọng
mà họ là nạn nhân.
Với tinh thần của một người trong quần chúng, của một người công dân đau khổ
trước bao nhiêu cái chết oan của người vô tội, tôi xin phép trình bày mấy ý kiến
xây dựng. Chủ yếu tôi sẽ phê phán và truy nguyên các sai lầm trong Cải cách
Ruộng đất, nhưng theo ý tôi các sai lầm này chỉ là biểu hiện điển hình và bi đát
nhất của những thiếu sót trong sự lãnh đạo của Đảng Lao động. Do đó tôi xin được
góp ý kiến xây dựng quan điểm lãnh đạo của Đảng Lao động.
Tại sao tôi lại tin như vậy? Là vì, không những trong Cải cách Ruộng đất chúng
ta đã phạm sai lầm nghiêm trọng mà cả trong nhiều khu vực khác nữa. Trong các
khu vực này, sai lầm cũng đã đưa một số người trong quần chúng đến cái chết thê
thảm. Do đó, nếu chỉ cục bộ hóa các sai lầm, chúng ta không thể rút được bài học
kinh nghiệm, chúng ta sẽ khiếm khuyết với sự tín nhiệm của tất cả các đảng viên
Đảng Lao động, với sự mong đợi của toàn dân. Chúng ta phải kiên quyết không cho
các sai lầm ấy tái diễn và tác hại nữa. Đó là nhiệm vụ tối thiểu của chúng ta
đối với các người đã chết oan.
Tình hình nước ta hiện thời ra sao? Tình hình ấy có bi quan không? Đó là vấn đề
nhận định thôi. Nhưng cái chủ yếu là ta không nhìn tình hình ây với con mắt bi
quan. Vậy sự thật khách quan như thế nào? Nhìn vào nông thôn, ta thấy hiện thời
tình trạng thiếu đoàn kết rất phổ biến. Vì thi hành sai chính sách cải cách, ta
đối lập các từng lớp trong giai cấp nông dân, cán bộ cũ và mới, chi bộ cũ và mới
của Đảng. Trong khi đập tan giai cấp địa chủ, ta không phân biệt đối xử, ta để
cho chết chóc thê thảm những người hoặc già cả hoặc thơ ấu mà ta không chủ
trương tiêu diệt. Ta chỉ cần đọc lại các bài giáo huấn cho đồng bào nông thôn
trong báo Nhân Dân là ta đủ hiểu mặt mũi nông thôn hiện giờ ra sao. Nhìn vào các
công xưởng, công trường, ta thấy gì? Cứ đọc báo Nhân Dân thôi, ta thấy Chính phủ
gửi các phái đoàn đi thăm các anh chị em công nhân, ủy lạo họ, bắt buộc thi hành
quy chế lao động mà Chính phủ đã ban ra. Nghĩa là thế nào? Nghĩa là giai cấp
công nhân đã phải lao động sản xuất hai năm nay mà không được bồi dưỡng đúng
mức. Lắng nghe dư luận đồng bào Hà Nội thôi, ta được biết rằng có it ra một
doanh nghiệp quốc gia lãng phí bao nhiêu triệu trong khi dưới chế độ Pháp thuộc,
cũng doanh nghiệp ấy mang lại cho thực dân đế quốc các số lãi khổng lồ.
Về Mậu dịch nửa năm nay, đồng bào ca thán như thế nào, ta đã biết. Nào chèn ép
các nhà kinh doanh tư nhân, nào lãng phí bao nghìn triệu trong khi thực hiện
chính sách, nào tàn nhẫn với các người bán sức lao động cho mình, nào đưa ra thị
trường sữa hư mà không bao giờ nghĩ đến tính mệnh của người ốm, của trẻ sơ sinh,
nào tung ra bơ hỏng, thuốc lá mốc, phạm đến sức khỏe của nhân dân, nào bất lực
trước hiện tượng vật giá ngày càng lên trong khi nhiệm vụ của mình là phải bình
ổn nó. Có thể nói được, suốt ngày đêm không đâu là không có lời oán trách Mậu
dịch.
Về hộ khẩu thì cán bộ tỏ vẻ không phải là nhằm duy trì trật tự an ninh, phá vỡ
cơ sở của địch, trái lại quấy nhiễu nhân dân, tạo ra một đời sống thành thị điêu
đứng cho tất cả. Nếu các vị cần những dẫn chứng cụ thể, tôi chỉ xin nhắc lại hồ
sơ mênh mông, thu lượm các thắc mắc cay đắng của đồng bào Thủ đô trong Đại hội
lần thứ ba của nhân dân Hà Nội vừa họp cách đây hai tháng.
Nói về chính sách khôi phục kinh tế, ta thấy gì? Số vốn mà các nhà công thương
mang ra kinh doanh chỉ là một phần ti tiểu, số công nhân làm việc trong các
doanh nghiệp tư nhân không có nghĩa lý gì. Trái lại ta thấy tất cả một phong
trào các nhà tư bản thu hẹp hoạt động của họ, hoặc “chuyển hướng” bằng cách đâm
ra quay chỉ, bán nước mía, hay dệt vài thước vải vớ vẩn, hoặc đóng cửa ăn vào
vốn để khỏi đụng chạm đến Sở Lao động vì vấn đề công nhân, với Sở Công thương vì
vấn đề đăng ký và nguyên liệu sản xuất, với Sở Tài chính vì thuế khoá đặc biệt.
Thuế bổ sung đã đưa bao nhiêu người đến chỗ phá sản, có kẻ đến chỗ tự sát. Các
người tiểu thương buôn thúng bán mẹt, đẩy chiếc xe hàng tiều tụy trong phố, cũng
“được” nộp thuế, cũng như các người suốt ngày làm việc ở công sở hay công xưởng,
tối về thức đêm dệt vài thước kiếm thêm tiền độ thân. Hàng trăm, hàng nghìn công
chức cũ về hưu, với gia đình của họ, trước đây sống bằng lương hưu trí, hai năm
nay không được ai chiếu cố đến, chết dần chết mòn, có người đâm đầu xuống sông
tự tử, có người hai lần uống độc dược để quyên sinh.
Còn như các cán bộ thì ta có cần nói đến không? Ta cứ trông mặt mũi, quần áo họ,
ta chỉ cần hỏi con số những người qua các phòng khám bệnh, các bệnh viện, ta
liếc mắt nhìn họ ăn uống những gì trong bữa cơm, là ta đủ hiểu khổ cực của họ.
Ta quên thế nào được các đồng bào tập kết ra ngoài Bắc, số phận con cái họ ở Hà
Nội, Hải Phòng, số phận chính của họ bi đát quá nỗi! Khổ cực nhất cho các anh
chị em là không nương tưa đuợc vào một đời sống gia đình đề khuây khỏa trong lúc
thảm sầu.
Các hiện tượng trên đây có đúng không, tôi chỉ yêu cầu các vị đọc báo Nhân Dân,
nghiên cứu các hồ sơ chồng chất lên ở Mặt trận Thành Hà Nội sau Đại hội lần thứ
3 vừa rồi, nghe ngóng lời than phiền của quần chúng, nhìn nhận các quang cảnh
diễn ra dưới mắt của các vị là các vị đủ hiểu rồi. Quả thực như ông Trường Chinh
đã tuyên bố, uy tín của chính phủ, của Đảng bị tổn thiệt rất nhiều. Thế tại sao
đồng bào chúng ta lại khổ cực? Phải chăng vì cán bộ của chúng ta non, hẹp hòi,
chưa thấm nhuần lý luận cách mạng, không tôn trọng giá trị của con người, các
nhu cầu và đòi hỏi chính đáng của nó? Phải chăng vì ta đang mắc trầm trọng bệnh
ấu trĩ của cách mạng? Các điều đó là có, ta không hề chối và ta cũng không thể
chối cãi được. Nhưng nhận định như vậy vẫn còn hời hợt. Ta phải đi sâu hơn nữa.
Khi trong Cải cách Ruộng đất của ta, ta thấy bao nhiêu người bị tù tội, bị giết
oan, trong đó bao nhiêu người dân ưu tú đã từng góp phần không nhỏ vào sự nghiệp
cách mạng, khi hiện thời ở nông thôn vẫn có người bị đánh đập, ngược đãi, khi ta
không xây dựng được đoàn kết giữa các đồng bào, thì ta phải nhận định rằng các
sai lầm ta đã mắc trong cuộc Cải cách Ruộng đất này chỉ là những biểu hiệu cực
độ của các sai lầm ta đã phạm, và các sai lầm ấy nêu lên, như tôi trình bày trên
đây, một vấn đề cực kỳ quan trọng là vấn đề lãnh đạo của Đảng Lao động.
Do đó, tôi yêu cầu các vị cho phép tôi bắt đầu nghiên cứu các sai lầm trong Cải
cách đã rồi sau khi truy nguyên các sai lầm ấy, đề đạt mấy ý kiến về vấn đề lãnh
đạo.
I. Vấn đề pháp lý trong Cải cách Ruộng đất
Ta đã sai lầm nghiêm trọng trong Cải cách Ruộng đất, ta có thể tránh được sai
lầm ấy mà vẫn bảo đảm được đường lối căn bản của cách mạng không? Tôi giả nhời
cương quyết rằng có.
Đường lối cách mạng của ta đòi hỏi gì? Ruộng phải trở về người cày. Điều này rất
đúng không ai có thể chối cãi được. Nông dân là đại đa số trong nhân dân, nông
dân là quân đội chủ lực của cách mạng, nhất định cách mạng không thể nào thành
công được nếu ta không thỏa mãn nhu cầu thiết yếu và cấp bách của nông dân.
Không cần phải là một nhà chính trị cao, một nhà cách mạng thạo, cũng nhận thấy
điều ấy. Chỉ cần nhìn lịch sử cách mạng từ thời kỳ cổ đại đến giờ là đủ hiểu
rồi.
Như vậy về nguyên tắc, ta tán thành chủ trương Cải cách Ruộng đất.
Về phương pháp, ta có nên ban ơn cho nông dân không? Nhất định là không. Nông
dân ta trong bao nghìn năm đã khổ cực dưới chế độ bóc lột phong kiến và một trăm
năm nay dưới chế độ bóc lột thực dân. Đồng bào nông thôn ta lầm than như vậy, đã
mất hết khí thế con người. Ta cần khôi phục khí thế của người nông dân, xây dựng
cho họ tinh thần chủ nhân ông trên đất nước. Do đó ta thấy cần thiết phải phát
động tư tưởng của họ để họ nhận được phân minh kẻ thù của họ, để họ vùng giậy
nắm lấy quyền thế ở nông thôn.
Nhưng từ đây trở đi, ta thấy khởi phát các sai lầm. Sai lầm này, ông Trường
Chinh đã nhận thấy là ở chỗ: ta quên hẳn ta hiện thời nắm chính quyền và chính
quyền ấy, nếu ta biết sử dụng nó, khai thác nó một cách sáng suốt, nhất định ta
vẫn thành công nhưng ta tránh được bao tai họa làm ta đau khổ hiện thời.
Con đường ông Trường Chinh đã đi để tiến tới kết luận ấy là con đường chính trị.
Các anh em tôi là những nhà luật học, chỉ là nhà chuyên môn và lý luận trên cơ
sở chuyên môn thôi, đã trông thấy kết luận ấy ngay từ khi chính sách phát động
và Cải cách được đề ra. Tại sao? Vì giải pháp chính quyền cụ thể là giải pháp
pháp lý, đảm bảo thắng lợi hoàn toàn của cách mạng nếu ta biết mang nó ra phục
vụ chính trị và cách mạng.
Ta muốn gì? Tìm kẻ thù của nông dân, của cách mạng để tiêu diệt nó. Nhưng đồng
thời nếu ta biết lo xa, nhìn xa, ta cũng không quên rằng công lý của cách mạng,
muốn bảo toàn được uy tín và thắng lợi của cách mạng, phải biết đánh đúng địch.
Khi đưa ra khẩu hiệu “thà chết 10 người oan còn hơn để sót một địch” thì khẩu
hiệu này không những quá tả một cách vô lý mà phản lại cách mạng là đằng khác
nữa. Muốn chứng minh điều này ta chỉ cần nhìn thực tế: kết quả sai lầm ta đã
phạm khi thực hiện khẩu hiệu này rất tổn thiệt cho uy tín của cách mạng và cho
bản thân bao nhiêu chiến sĩ cách mạng. Nếu không phải đó là phản lại cách mạng
thì là gì?
Khẩu hiệu của pháp lý thì khác hẳn: “Thà 10 địch sót còn hơn một người bị kết án
oan”. Thế ta có lo ngại rằng 10 địch sót không? Không, vì ta nắm chính quyền, vì
cách mạng ta đã thành công. Như vậy kẻ thù của cách mạng chẳng sớm thì chậm,
nhất định hoặc cải thiện, giác ngộ, hoặc lọt vào lưới của ta. Khẩu hiệu này lợi
ở chỗ: không một người oan nào bị kết án. Do đó, không có các kết quả cực kỳ tai
hại diễn ra hiện thời.
Làm thế nào thực hiện được khẩu hiệu ấy? Kinh nghiệm pháp lý của hàng nghìn năm
lịch sử thế giới cho ta biết rằng ta có phương pháp để tìm đúng địch mà đánh,
không đánh tràn lan, không đánh người vô tội. Tôi xin phép nhắc tóm tắt sau đây
các nguyên tắc căn bản mà pháp lý nêu lên để đạt mục đích ấy.
Một nguyên tắc đầu tiên là không hình phạt các tội đã phạm quá lâu rồi mà bây
giờ mới khám phá ra. Tại sao? Vì rằng vấn đề bằng chứng khó giải quyết được,
tang vật đã mất, nhân chứng có người đã từ trần, có người không nhớ rõ các sự
việc họ đã mục kích. Hơn nữa, sở dĩ hình luật phạt các tội, là vì các tội ấy đã
xâm phạm vào trật tự xã hội: tác hại cho nạn nhân và gây tác dụng xấu trong quần
chúng. Nhưng khi tội đã phạm quá lâu, trật tự xã hội hết bị xâm phạm rồi, nạn
nhân không còn đau khổ, tác dụng xấu của tội cũng hết, thời gian đã hàn gắn các
vết thương. Bây giờ lại vạch chuyện cũ thì không những khó thu thập được bằng
chứng kết tội mà lại gây một sự náo động trong xã hội không cần thiết. Chính xã
hội thấy “quên” lợi hơn là “nhớ”.
Một nguyên tắc thứ hai là trách nhiệm của phạm nhân thì chỉ một mình phạm nhân
phải chịu, không có trách nhiệm chung của vợ con, của gia đình. Nêu trách nhiệm
truớc hình luật của các người “có quan hệ” với phạm nhân không những là bất công
mà lại còn gây các sự rung động vô ích trong xã hội. Hơn 400 năm nay không một
nước Tây phương nào làm việc đó nữa. Trách nhiệm trước hình luật chỉ là một
trách nhiệm cá nhân mà thôi. Không những thế, về phương diện nhân đạo, thì các
phạm nhân quá già được miễn nghị, miễn tố và các vị thành niên được chiếu cố.
Môt nguyên tắc thứ ba là muốn kết án một người phải có bằng chứng xác đáng. Phải
có nhân chứng là những kẻ đã mục kích sự phạm pháp và cung khai một cách cụ thể,
rõ ràng, chắc chắn. Một nhân chứng thôi chưa đủ, ít ra cũng phải có hai nhân
chứng cung khai phù hợp với nhau mới được coi là đáng kể. Cung khai của các nhân
chứng phải ăn khớp với nhau và trong quá trình phạm pháp các tang vật thu được
phải có tác dụng hợp lý, sát hợp với kết quả do cuộc điêù tra mang lại.
Một nguyên tắc thứ tư là thủ tục điều tra, xét xử phải bảo đảm quyền lợi của bị
tố nhân. Bị tố nhân có quyền nhờ luật sư bào chữa cho mình, và khi thiếu điều
kiện nhờ luật sư, khi nào là một trọng tội, Tòa phải cử luật sư bào chữa không,
cho bị can. Trong tất cả, giai đoạn điều tra ở trình độ công an thẩm vấn trong
phòng dự thẩm, buộc tội trước tòa, quyền lợi của công tố viện ngang với quyền
lợi bị can, nghĩa là nếu công tố viện đưa hết lý lẽ để buộc tội, bị can đưa hết
lý lẽ để minh oan. Cuộc đấu lý diễn ra trong tất cả quá trình điều tra, truy tố,
xét xử giữa công tố viện và luật sư. Các vị thẩm phán ngồi xét xử phải là vô tư,
đứng giữa để theo rõi cuộc đấu lý diễn ra dưới mắt mình. Như thế mới nhận định
đúng và xử công minh. Toà án xét xử không chịu lệnh của ai trong khi xét xử, chỉ
biết xét xử theo lương tâm của mình và căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ, sau khi
nghe hai tiếng chuông buộc tội và gỡ tội. Người thẩm phán phải được đủ đảm bảo
để làm nhiệm vụ của mình mà không sợ ai khiển trách hay gây khó khăn cho mình
được. Khi điều tra thẩm vấn, tuyệt đối cấm không được dùng phương pháp tra khảo,
đánh đập, hành hạ bị can, mớm cung cho bị can, dọa nạt hay dụ dỗ hắn. Khi nào có
điều nghi ngờ thì bị can được miễn nghị. Nếu bị kết án thì còn quyền chống án
lên tòa trên. Nếu bị kết án tử hình thì lại còn quyền xin ân giảm trước vị Chủ
tịch Chính phủ. Con người của bị can, trong tất cả quá trình truy tố và xét xử
phải được tôn trọng triệt để, khi bị can ra trước tòa thì không được xiềng xích
họ và không lúc nào được dùng nhục hình đối xử với họ.
Theo một nguyên tắc căn bản, không phải vì một người tác hại cho một người khác
mà người ấy phải chịu trách nhiệm trước hình luật. Tác hại cho ai thì chỉ nêu
trách nhiệm về phương diện dân sự, nghĩa là bồi thường thôi — của người đã tác
hại. Muốn truy tố người ấy để thi hành hình luật đối với hắn thì phải chứng minh
rằng hắn phạm một tội, nghĩa là phạm vào một điều khoản nào qui định trong hình
luật, và hình luật không bao giờ có tác dụng đối với quá khứ cả: nếu hành động
của một người diễn ra trong thời kỳ mà hình luật chưa quan niệm là một tội thì
người ấy không thể mang ra truy tố được. Không những bị can phải phạm một tội đã
qui định rồi trong pháp luật, mà ta lại còn phải xét xem rằng lúc phạm tội ấy bị
can có ý thức, có ý chí phạm pháp hay không, hay là vô tình mà phạm pháp. Sự đối
xử trong hai trường hợp ấy khác nhau.
Lúc tôi nhắc lại các nguyên tắc này thì có vị cho rằng như thế là phiền phức,
phức tạp. Dĩ nhiên rồi, nhưng tất cả vấn đề là: ta có muốn giết người vô tội
không? Nếu không thì không thể nào làm khác được. Hơn nữa, muốn nhận định vấn đề
cho đúng, ta không nên đứng vào vị trí một người hiện thời không dây dưa với
pháp luật, một người ở một cương vị chính quyền. Ta phải đứng vào cương vị của
bị tố nhân; lúc ấy vấn đề rất sáng tỏ, không những ta đòi thi hành các nguyên
tắc pháp luật, ta còn cố gắng tìm hiểu thêm các nguyên tắc mới để đảm bảo người
oan khỏi bị chết.
Nếu mang ra áp dụng các nguyên tắc ấy vào cuộc Cải cách ruộng đất của ta, ta sẽ
làm thế nào? Thủ tục cải cách cứ diễn bài nhưng sự trừng trị bọn cường hào gian
ác hay phản động, ta sẽ không giao cho một tòa án nhân dân, đặc biệt như ta đã
làm với tất cả sự thiếu sót về phương diện pháp lý mà ta đã biết. Trái lại, sau
khi phát động tư tưởng của nông dân, ta sẽ nghe lời họ tố cáo kẻ thù của họ. Ta
sẽ ủy nhiệm toà án nhân dân thường lập các hồ sơ, để tòa án, với bộ máy và kinh
nghiệm của nó, tiếp tục điều tra, kiểm tra, lấy cung chứng, truy tố, luận tội,
xét xử. Ta đảm bảo triệt để cho bị tố nhân quyền bào chữa của họ, ta yêu cầu các
luật sư làm tròn nhiệm vụ của họ, ta tôn trọng triệt để con người của bị tố
nhân. Ta chỉ thù ghét và kết án, trừng phạt tội của nó đã phạm thôi. Ta tin
tưởng ở tòa án, ta đảm bảo cho các vị thẩm phán làm việc ngoài sự điều khiển của
chính quyền, một cách biệt lập, tôi nói biệt lập chứ không phải độc lập, theo
lương tâm của các vị và căn cứ vào hồ sơ và kết quả của cuộc thẩm vấn.
Nguyễn Mạnh Tường
Qua những sai lầm trong Cải cách Ruộng đất
- Xây dựng quan điểm lãnh đạo
1 2
II. Các nguyên nhân sai lầm
Theo như tôi nhận định, với chủ quan của tôi, các nguyên nhân sai lầm thuộc hai
loại, có loại trực tiếp, nhưng nếu ta phân tích loại này thì ta sẽ đi tới một
loại thứ hai mà theo tôi là những nguyên nhân chính, ta cần chú ý.
Các nguyên nhân trực tiếp ta trông thấy ngay. Sở dĩ khi nghiên cứu chính sách
cải cách, ta không nghĩ đến giải pháp pháp lý đưa ra để điều hòa với giải pháp
chính trị, phải chăng là vì ta không biết giải pháp pháp lý? Nếu không thì là sự
thiếu sót nghiêm trọng của cấp lãnh đạo. Nhưng tôi tin rằng không phải như thế
đâu. Sở dĩ ta không để ý đến giải pháp pháp lý là vì ba lý do:
Quan điểm bạn-thù, ta-địch mơ hồ — Các hiện tượng trên trường quốc tế và
trong nước rất nhiều và rõ rệt.
Trên trường quốc tế, trong các nước dân chủ của ta thôi, ta thấy những điều làm
ta suy nghĩ. Ta thấy chẳng hạn những người suốt đời hi sinh cho sự nghiệp cách
mạng, giữ những trọng trách trong chính thể cách mạng, rồi bỗng nhiên phải truất
quyền, khai trừ ra khỏi Đảng, tống giam, thậm chí có khi bị giết nữa. Rồi ít lâu
sau, ta lại thấy các người ấy được khôi phục công quyền, đảng tịch, cương vị,
người nào bị kết án tử hình rồi thì được an táng lại ở các đài kỷ niệm các liệt
sĩ mà Tổ quốc ghi tên muôn đời.
Trong nước ta, qua cuộc Cải cách Ruộng đất ta thấy bao nhiêu các chiến sĩ cách
mạng thành tích lộng lẫy, có người ngực gắn tới hai huy chương kháng chiến (ở
ngoại thành Hà Nội) bị kết án là phản động, cường hào gian ác và, sau khi nhận
tội, bị tống giam hay bị hành hình. Ấy là không nói đến các người trong quần
chúng bị hi sinh oan. Đối với các nạn nhân này, ta có thể một phần nào hiểu các
sai lầm đã phạm, vì họ thiếu hay không có thành tích cách mạng hay kháng chiến.
Nhưng đối với các đảng viên ưu tú, tinh hoa của dân tộc, lúc bị xử trí như ta đã
biết, thì ta tự hỏi trong đầu óc của những người xử họ có cái gì mà ta gọi là lý
tính không? Ngay một thường dân, không phải là một nhà chính trị hay văn hóa,
chỉ sử dụng cái lẽ phải của mình thôi, cũng không thể nào hỗn hợp người xấu với
kẻ tốt như vậy được. Ta phải đặt vấn đề rằng cán bộ từ trên xuống dưới, tham gia
Cải cách Ruộng đất, không phải là người điên cuồng, cũng không phải là người chủ
mưu, dụng tâm phá hoại. Nếu như thế thì ta sẽ gửi họ đến bác sĩ chuyên môn chữa
bệnh thần kinh, hay đến công tố viện của các tòa án. Nhưng không phải như thế,
ta tin như vậy. Do đó, kết luận mà ta tiến tới, dù muốn hay không, là các các
cán bộ ấy có một quan điểm rất mơ hồ về ta-thù, bạn-địch.
Còn gì đau đớn hơn là câu ta được nghe “ta đánh cả ta nữa”. Nếu như vậy thì ta
cần phải nhận rằng ta không phân biệt được bạn và thù. Ta đọc lại các bài gần
đây đăng trong báo Nhân Dân của các đồng chí bị xử trí oan, hoặc các đồng chín
ấy nói, hoặc không nói, nhưng ta đều hiểu các đồng chí ấy nghi ngờ những người
kết án các đồng chí, không phân biệt được bạn và thù. Vì vậy nên đánh cả bạn,
giết cả bạn.
Tôi thấy đây là một điều cực kỳ quan trọng. Nguyên do ở đâu? Phải chăng ở một
tinh thần cảnh giác quá cao đến nỗi mù quáng, ở một tả khuynh mà ta thường mắc
trong giai đoạn ấu trĩ của cách mạng? Đây không phải là nơi và lúc mà ta cần
phân tích sâu sắc điều ấy. Chủ yếu là ta nhận thấy rằng một nguyên nhân sai lầm
là ở trong quan điểm thù bạn rất mơ hồ. Nếu ta không kịp sửa chữa sai lầm, xây
dựng lại quan điểm thù bạn, một ngày kia ta sẽ lại phải khóc trên kỷ niệm của
những vị có công nhất với cách mạng, với nhân dân. Ta cương quyết không thể nào
để tình trạng ấy tái diễn ra được.
Bất chấp pháp luật — Giáo sư Ba Lan Mahelli nói chuyện ở Bộ Tư pháp, cho
ta biết rằng bên Ba Lan, khi cách mạng thành công, các nhà chính trị bất chấp
pháp luật. Họ quan niệm rằng họ đủ tài năng để đảm nhận các cương vị lãnh đạo
trong ngành tư pháp, để bó buộc tư pháp phục vụ triệt để chính trị mà không đếm
xỉa đến các nguyên tắc căn bản của pháp lý. Kết quả là chẳng bao lâu bộ máy tư
pháp sộc sệch, không những không củng cố được chính thể cách mạng, ngược lại,
tác hại quá nhiều gây bao nhiêu khó khăn cho chính quyền cách mạng. Sai lầm ấy
đuợc uốn nắn kịp thời: hoàn cảnh khách quan đã dạy một bài học cho chủ quan các
nhà chính trị, để lãnh đạo chuyên môn phải nhập trường học tập, trước non 2 năm,
sau 5 năm, để qua pháp lý, phục vụ chính trị và cách mạng.
Điều này không làm chúng ta ngạc nhiên. Trong giai đoạn đầu tiên, chính trị say
sưa với các thắng lợi đã thu —và dĩ nhiên các thắng lợi ấy vĩ đại— lâm vào tình
trạng tự mãn và bao biện.
Nhưng quản trị một nước, đặc biệt một nước đang xây dựng chính quyền cách mạng,
nghĩa là một cái gì vô cùng mới mẻ và khó khăn — không giống như là đề ra đường
lối và khẩu hiệu tranh đấu cách mạng và vận động quần chúng làm cách mạng. Hai
khu vực hoạt động ấy tuy quan hệ mật thiết với nhau, nhưng mỗi ngành hoạt động
có kỹ thuật và quy luật của nó. Lúc nhà chính trị bao biện, bất chấp hoàn cảnh
khách quan kinh nghiệm xương máu của lịch sử, thì chẳng sớm thì muộn ta thấy
diễn ra những tai hại hiện thời làm chúng ta đau xót. Trên con đường bao biện và
tự mãn ấy, các nhà chính trị đã bị thúc đẩy bởi những thành kiến đối với pháp lý
và tin rằng pháp lý là cái gậy chỉ dùng để chọc bánh xe, không hiểu rằng, trái
lại, chính pháp lý giúp xe khỏi lật, khỏi gây tai nạn. Nguy hại hơn là chính trị
tự đặt mình lên trên pháp luật. Ngay trong trường hợp chính trị sau khi đặt mình
lên trên pháp luật, còn giữ vững thái độ chân chính, cũng đã gây ra bao khó khăn
rồi. Pháp luật chủ yếu đề ra những cái gì có thể làm được, cái gì không được
phép làm, do đó nhân dân vững tâm biết rõ đường mà đi. Nhưng tâm hồn quần chúng
chỉ được ổn định khi nào quần chúng biết rõ rằng cái gì bó buộc mình cũng đồng
thời bó buộc nhà cầm quyền. Trái lại, khi pháp luật chỉ gò bó quần chúng mà
không gò bó nhà cầm quyền thì nhà cầm quyền mỗi lúc có thể vẽ ra các đường mới
mà quần chúng chưa từng biết. Vì vậy quần chúng hoang mang: cái gì hôm qua làm
được, ngày mai với sự độc đoán của nhà cầm quyền có thể bị coi là phi pháp.
Hoang mang ấy lên tới cực độ khi tác dụng của sự thay đổi thái độ này của nhà
cầm quyền không những ảnh hưởng đến tương lai, mà là ảnh hưởng cả về quá khứ
nữa. Đó là trường hợp nhà cầm quyền, lúc tự đặt mình lên trên pháp luật, giữ
thái độ chân chính đúng mực, huống hồ là khi nhà cầm quyền sử dụng quyền thế của
mình một cách lộng quyền, như ông Trường Chinh đã nhận định. Quyền xử tử người
một cách đơn giản như vậy trái với luật pháp: đó chỉ là một giải pháp chính trị
mà thôi. Nếu mà các người sử dụng quyền ấy lại không sử dụng với tinh thần chính
sách của lãnh đạo, sử dụng một cách lộng quyền thì kết quả thế nào, hiện thời ta
đã trông thấy rõ.
Bất chấp chuyên môn — Các nhà chính trị bất chấp pháp luật. Nhưng nếu các
vị ấy tranh thủ ý kiến của các nhà chuyên môn và cho phép các nhà chuyên môn đề
đạt ý kiến thì các nhà chuyên môn cũng sẽ yêu cầu các nhà chính trị nên chú ý
đến pháp luật, và dùng pháp luật phục vụ cách mạng.
Nhưng tiếc thay, trong 10 năm vừa qua, ta thấy một tình trạng quái gở. Chính trị
ám ảnh đầu óc chúng ta đến nỗi hai chữ “lập trường” làm ta mất ăn mất ngủ. Nếu
được dùng một hình ảnh “duy tâm”, tôi ví lập trường như cái oan hồn ngày đêm
theo đuổi kẻ nào đã hãm hại người chủ của nó. Có một điều lạ, là các anh em công
nông, các vị lãnh tụ không bao giờ nói đến lập trường trong sinh hoạt hàng ngày.
Trái lại, các cán bộ và đảng viên tiểu tư sản không lo ngại gì bằng sự mất lập
trường. Vì vậy, để nhớ đến nó, mở miệng ra là nêu lập trường rồi. Đó là tinh
thần tự ti của một giai cấp mất khí thế, quên rằng mình đứng trong hàng ngũ cách
mạng. Dù sao, ở Việt Nam chúng ta cũng đã xẩy ra những sự việc như sau đây, ta
cần ghi nhớ để con cháu ta cười muôn thuở: khi chọn một người vặn lái ô tô, ta
không hỏi người ấy có bằng vặn lái và đã vặn lái bao năm, ta chỉ hỏi: “Có lập
trường không?” Kết quả là từ hai năm nay, riêng trong thủ đô Hà Nội, hàng trăm
tai nạn xảy ra do các người vặn lái ô tô có lập trường mà không nắm chuyên môn.
Khi đưa tới bệnh viện một bệnh nhân cấp cứu, vấn đề mang ra thảo luận trước tiên
là: Bệnh nhân thuộc thành phần giai cấp nào? Chữa cho địa chủ thì “mất lập
trường”. Để nó chết mới chứng minh mình có “lập trường giai cấp” (hiện tượng do
B.S. Nguyễn Xuân Nguyên đưa ra).
Tại sao có những hiện tượng quái gở như vậy? Là vì chính trị chiếm đóng tất cả
các khu vực trong nhận thức của chúng ta làm chúng ta mất cả cái nhân đạo tối
thiểu của con người, làm chúng ta khước từ các chân lý. Chân lý cho biết rằng
chính trị không thể nào thay thế được cho chuyên môn, không làm được việc của
chuyên môn. Nếu như vậy thì ít ra chính trị cũng hỏi ý của chuyên môn mới là
phải. Nhưng không. Chính trị nghi ngờ chuyên môn, không tin ở chuyên môn. Lúc
thì cho rằng chuyên môn là do văn hoá và khoa học tư sản đế quốc xây dựng, là vô
dụng (đó là một sai lầm nghiêm trọng các người tin như vậy chưa đọc Lenin). Lúc
thì cho rằng các nhà chuyên môn không phải xuất hiện ở tầng lớp cơ bản, công hay
nông, thì không có đảm bảo vì thái độ lừng chừng, lập trường lỏng lẻo, dù là 10
năm nay họ đã bước chân vào đường cách mạng và chứng minh nhiệt tình của mình
đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, kiến thiết quốc gia.
Theo ý tôi, đây là một vấn đề then chốt. Các anh em trí thức kháng chiến thường
phàn nàn rằng Đảng Lao động thiếu tín nhiệm họ. Họ đau khổ mà nhận thấy rằng mặc
dầu họ đã trải qua bao nhiêu thử thách, chịu đựng bao nhiêu hi sinh, trải qua
bao nhiêu gian nguy, Đảng vẫn chưa tin ở họ. Nào họ có yêu sách gì quá đáng đâu?
Họ có đòi làm Bộ trưởng hay Đại sứ đâu? Không. Đại đa số các anh em trí thức nói
chung, không mơ ước các cương vị, công tác lộng lẫy đâu, họ vui lòng nhường chỗ
cho các nhà chính trị, các đảng viên. Họ chỉ thiết tha đòi hỏi được mang khả
năng chuyên môn và kinh nghiệm của họ ra phục vụ nhân dân mà thôi. Họ chỉ thiết
tha mong muốn được bảo toàn danh dự trí thức của họ và cái tự do tư tưởng mà họ
quan niệm là cần thiết cho nhân phẩm của người trí thức mà thôi. Họ đã từng nghe
thấy Đảng tuyên bố: Người trí thức là vốn quí của dân tộc. Nhưng họ cảm thấy vốn
ấy quí quá đến nỗi phải cất nó đi thật kỹ, giữ gìn nó trong một bán ảnh, một
hoàng hôn trường cửu. Nếu có ai cho rằng tôi nói không đúng, tôi cứ đề nghị
người ấy quay mặt nhìn chung quanh, ở các cương vị công tác trong chính thể của
ta. Có một chỗ nào mà người trí thức ngoài Đảng nắm được thực quyền không? Tác
dụng “hiếu hỉ” hay “cười gật” thì có, mà lại có nhiều. Nhưng ngay ở các cương vị
ấy, ngoài vai trò hiếu hỉ, cười gật, người trí thức có một trách nhiệm gì không,
có quyền nói gì làm gì không, quần chúng đã biết và miễn tôi giả nhời.
Chính trị chèn ép chuyên môn như thế nào, xua đuổi người trí thức ra ngoài con
đường cách mạng ra sao, lịch sử kháng chiến đã cho ta kinh nghiệm đau đớn. Năm
1949, phong trào tư pháp liên khu III tan vỡ vì chính quyền quan niệm tư pháp
phải thuộc sự điều khiển của mình. Năm 1951, phong trào quân y, dân y liên khu
IV sụp đổ vì các chính trị viên đưa vào các bệnh viện đã đàn áp chuyên môn, thúc
đẩy các bác sĩ có công với cách mạng, với kháng chiến, phải gạt nước mắt mà rời
bỏ kháng chiến. Đó không phải là chủ trương của Đảng Lao Động. Nhưng có một điều
làm ta suy nghĩ: sao mãi bây giờ sau 10 năm Đảng mới nghiên cứu một chính sách
cho trí thức? Điều ấy chứng tỏ rằng từ khi cách mạng thành công, ta chưa đánh
đúng giá người trí thức, chưa đặt vấn đề trí thức. Do đó, làm thế nào khai thác
được tất cả khả năng của người trí thức để họ mang chuyên môn ra phục vụ nhân
dân?
Trên đây, tôi nói về người trí thức từ chiến khu trở về. Đối với người trí thức
vẫn ở trong Thủ đô, ta thấy sự thiếu tín nhiệm ấy lại còn trầm trọng hơn nữa.
Bao lần ta nghe tiếng chua cay của các anh em ấy phàn nàn bị coi như là kẻ thù,
mặc dầu các anh em vì yêu nước đã khắc phục mọi lo sợ do tuyên truyền của địch
gây ra và ở lại với chúng ta. Ta để cho cán bộ hộ khẩu xâm phạm đến danh dự của
các anh em, ta không tìm cách nào sửa chữa sai lầm ta đã phạm đối với anh em. Ở
các công sở tình trạng chèn ép của chính trị đối với chuyên môn đã đưa đến cái
danh từ bi đát làm cho ta đau lòng: “họ Lưu, họ Kháng”. Không đoàn kết được các
anh em, ta lại còn có thái độ úp mở, nhùng nhằng (ta tưởng như vậy là thượng
sách), thậm chí ta lại còn nghi ngờ các anh em. Ta không hiểu rằng làm như vậy,
ta bất công với các anh em, ta không tôn trọng lời đã hứa qua chính sách tiếp
quản và cương lĩnh Mặt Trận, ta đẩy các anh em xa rời ta, ta vô tình ném xuống
bể tiêu cực cái vốn chuyên môn của các anh em trí thức trong Thủ đô.
Đó là những nguyên nhân trực tiếp. Đào sâu hơn nữa, ta thấy rằng sở dĩ có những
hiện tượng như ta vừa phân tách trên đây, chẳng qua chỉ vì sự lãnh đạo của ta
thiếu dân chủ, xa lìa quần chúng.
Chính thể ta thiếu dân chủ như thế nào, ta đã từng biết. Vai trò của các vị Bộ
và Thứ trưởng ngoài Đảng như thế nào, các vị đó làm được những gì trong Hội đồng
chính phủ, trong các ngành chuyên môn mà các vị ấy phụ trách, ta không nên đi
quá sâu. Ta chỉ cần liếc mắt nhìn qua công việc làm trong mỗi Bộ, ta chỉ cần
nghe tiếng than phiền của các cán bộ, công chức làm việc trong các Bộ là ta
hiểu. Ta cũng biết rằng chủ trương của Đảng có lẽ không phải như vậy đâu, nhưng
trong thực tế công tác, mỗi anh em ta tiếp xúc với các vị Bộ hay Thứ trưởng
ngoài Đảng, đều nhận thấy rằng quyền hành của các vị ấy hình như không phải là
quan trọng cho lắm. Nhận định như vậy có lẽ ta lầm đấy. Nhất định ta lầm. Nhưng
dù sao có “dư luận” không ai chối cãi được. Do đó, nếu chủ trương của Đảng không
phải như vậy thì ít ra Đảng cũng mang trách nhiệm không làm thế nào để tiêu tan
cái dư luận tai hại mà chúng ta thấy tồn tại từ thời kỳ kháng chiến đến giờ.
Nhưng cũng có điều chắc chắn không ai chối cãi được, là các vị Bộ hay Thứ trưởng
không có trách nhiệm gì trước Quốc hội, trước nhân dân, chỉ có trách nhiệm trước
Chính phủ mà thôi. Chưa bao giờ ta thấy vị Bộ truởng nào bị lật đổ cả. Phải đợi
đến các sai lầm đặc biệt nghiêm trọng trong Cải cách mới thấy hai vị Thứ trưởng
phải rút lui khỏi Hội đồng Chính phủ. Các hiện tượng ấy chứng tỏ rằng Chính phủ
ta chưa thực hiện được dân chủtrong khi lập Hội đồng Chính phủ, vì các vị Bộ hay
Thứ trưởng đều được cử hay bị truất, ngoài sự tham gia trực tiếp hay gián tiếp
(qua Quốc hội) của quần chúng.
Tình trạng của Quốc hội lại rõ hơn nữa. Mười năm Quốc hội đã thành lập. Các vị
đại biểu Quốc hội còn phản ảnh được ý nguyện của quần chúng không, quần chúng có
tín nhiệm ở Quốc hội nữa không, đó là một vấn đề. Nhưng dù vấn đề ấy ta giải
quyết như thế nào đi nữa, có một điều chắc chắn là một Quốc hội già 10 năm rồi
mà vẫn tồn tại ngoài sự can thiệp của quần chúng, sự lựa chọn của quần chúng,
chứng minh rằng quần chúng 10 năm nay đã bị truất quyền cử đại biểu của mình
rồi. Dĩ nhiên trong thời kỳ kháng chiến, bầu lại Quốc hội là một điều không làm
được. Và hiện thời, Nam-Bắc bị tạm chia cắt, do đó sự bầu lại toàn thể Quốc hội
cũng là khó khăn. Nhưng dù sao riêng ở các miền giải phóng này, nếu ta chú ý đến
quyền người dân cử đại biểu của họ thì nhất định ta phải cho phép người dân bỏ
phiếu rồi. Từ khi hòa bình trở lại, 2 năm đã qua, mãi bây giờ trước phong trào
quần chúng đòi thực hiện dân chủ, ta mới nghĩ đến quyền bỏ phiếu của người dân
và bổ sung Quốc hội.
Nào có thế thôi đâu? Ngay cái Quốc hội ta đang có hiện thời, ta có thực hiện dân
chủ với nó không? Chắc chắn là không. Thỉnh thoảng ta mới họp Quốc hội, và trong
các buổi họp đó ta chỉ thấy Chính phủ đưa ra các báo cáo để Quốc hội nghiên cứu,
xây dựng, hay các chính sách để Quốc hội tán thành và bổ khuyết. Quyền lập pháp
của Quốc hội ở đâu? Quyền đề ra đường lối, chủ trương trong nội trị, ngoại giao,
quyền nêu trách nhiệm của Chính phủ và các Bộ, quyền lựa chọn nhân viên trong
Hội đồng Chính phủ, bấy nhiêu quyền, Quốc hội có được hưởng dụng không? Dư luận
quần chúng quan niệm rằng Quốc hội chỉ có quyền thông qua các chính sách mà
thôi. Còn như các sắc lệnh hay đạo luật thì thường thường, quyền thông qua ấy
chỉ thuộc ban Thường trực của Quốc hội. Nếu Quốc hội là tổ chức cao nhất của
quần chúng, đại diện cho quần chúng, thì ta phải khách quan nhận thấy rằng, với
vai trò vô cùng yếu ớt của Quốc hội hiện thời, quyền dân chủ của quần chúng
không được thực hiện.
Nói đến Mặt trận thì tình hình cũng tương tự. Mặt trận hiện thời là tổ chức quần
chúng có lẽ sát tình hình quần chúng nhiều nhất. Nhưng ta có để nó đóng vai trò
của nó không? Không. Tác dụng của nó là động viên quần chúng để tán thành, ủng
hộ và thi hành các chính sách. Đứng về phương diện này, nó làm tròn nhiệm vụ của
nó. Nó xứng đáng với tín nhiệm của Đảng và Chính phủ. Nhưng hoạt động của nó như
thế chỉ có một chiều thôi. Ta chưa khai thác các khả năng của nó. Ta chưa nhận
thấy bản chất của nó. Nó có thể là liên lạc “hai chiều” giữa quần chúng và Đảng,
Chính phủ. Một mặt như nó thường làm, nó động viên quần chúng để thực hiện các
chủ trương của Đảng và Chính phủ. Nhưng mặt khác, nó có thể là cơ quan phản ảnh
lên Đảng và Chính phủ các ý kiến, thắc mắc, nguyện vọng của quần chúng, góp phần
xây dựng các chính sách, nói lên tiếng nói của quần chúng, cung cấp tài liệu
nguồn gốc ở quần chúng, tích cực giúp đỡ cấp lãnh đạo tránh khỏi chủ quan, thắt
chặt liên lạc giữa cấp lãnh đạo và quần chúng. Nhưng muốn để cho nó đóng vai trò
ấy, ta phải “dân chủ” đối với nó, nghĩa là phát động tự do tư tưởng của nó, để
nó mạnh dạn nói lên ý kiến của quần chúng, dù là các ý kiến trái ngược với nhận
định của cấp lãnh đạo. Nhưng từ trước tới nay, ta không làm như vậy. Ta thấy khó
chịu khi nó thỏ thẻ —chỉ thỏ thẻ thôi— những lời làm ta một phút chốc tỉnh giấc
mộng chủ quan mà ta trong cấp lãnh đạo đang say sưa. Vì vậy ta chỉ thường cho
phép nó, chỉ khuyến khích nó phụ họa ta, tán đồng ta với thái độ của đứa con
khen hay khi mẹ nó hát. Tóm lại, ta không dân chủ với nó. Do đó, ta hạn chế khả
năng của nó, nó không giúp ích gì cho cấp lãnh đạo.
Thiếu dân chủ là gì? Là xa rời quần chúng, là giam hãm mình vào ngục thất của
chủ quan. Tại sao một chính thể cách mạng lại có thể phạm sai lầm nghiêm trọng
như vậy được?
Trước đây, ta không trả lời được. Những người kính yêu cách mạng rất ngạc nhiên
khi thấy có kẻ đi tìm tự do, rời bỏ hàng ngũ cách mạng để lén sang phía tư bản.
Ngay trong thủ đô ta hiện thời, qua Đại hội lần thứ 3 của Mặt trận Thành, ta
thấy phản ảnh ý muốn của bao nhiêu đồng bào muốn đi Nam. Ta nghĩ đến các đồng
bào, trong thời kỳ kháng chiến, gạt nước mắt mà trở về Hà-nội. Nếu cách mạng
mang lại cho họ ánh sáng và hạnh phúc, sao lại có người lo ngại trước cách mạng,
đau đớn vì cách mạng. Các người ấy không phải thuộc thành phần kẻ thù của cách
mạng, trái lại thuộc thành phần cơ bản trong nhân dân, như nông dân, công nhân.
Thế thì đâu là chân lý? Đó là một vấn đề mà trước đây ta chỉ đặt thôi và không
giải quyết được.
Bây giờ sau Đại hội lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên-sô, sau các cuộc bạo động
ở Berlin, Poznan, bên Tiệp, bên Hung, ta hiểu rõ vấn đề, ta giải quyết được nó.
Chung quy, mặc dầu cách mạng là tốt đẹp, mang lại hạnh phúc cho dân tộc, sở dĩ
vẫn có người xa lánh cách mạng, chẳng qua là vì chính thể cách mạng mắc trầm
trọng bệnh xa lìa quần chúng, thiếu dân chủ, do đó đi càng ngày càng sâu vào
tình trạng quan liêu, mệnh lệnh, duy trì một thái độ lãnh đạo hẹp hòi, độc đoán,
có khi độc tài. Thái độ một chiều không muốn, không cho phép ai nói cái gì trái
ngược ít nhiều với ý kiến nhận định, thành kiến của mình. Mình tự phụ, tự hào
mình có độc quyền tìm thấy và gìn giữ chân lý. Đó là tật tự cao tự đại của nhà
cách mạng. Ta bay bổng lên trời xanh của ảo tưởng, ta chỉ tin ở ta. Trong tư
tưởng, ta không khinh quần chúng, nhưng trong hành động, quả thật con mắt khách
quan nhận thấy ta bất chấp quần chúng. Thậm chí, khi ta nghe thấy một tiếng nào
từ quần chúng nói lên rằng ta nhầm, ta làm như thế này mới phải, lập tức ta thét
ngay đó là tiếng của địch. Sở dĩ quan điểm bạn thù của ta mơ hồ, và đâu ta cũng
trông thấy địch, chẳng qua là vì ta quá tự phụ, ta sùng bái ta quá đáng mà thôi.
Bây giờ ta biết rõ là nếu bệnh ấy phổ biến trong hàng ngũ cách mạng hiện thời
thì trách nhiệm chính là Stalin phải chịu. Vì tự cao, tự đại, tự phụ, tự mãn,
Stalin không cho phép ai dân chủ với mình, đâu cũng trông thấy địch. Kết quả thế
nào ta đã biết: khẩu hiệu nêu lên, thét lên, gào lên là: đề cao cảnh giác. Và
lợi dụng tình thế ấy, ta biết Béria đã làm những gì, phạm tội ác như thế nào.
Nếu không có quyết nghị lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên-sô, nếu không có những
sai lầm cực kỳ tai hại trong Cải cách, ta chưa mở mắt được, ta sẽ còn thấy bao
nhiêu máu oan chảy thành suối thành sông, bao nhiêu người kính yêu cách mạng mà
vẫn đau sót rời bỏ cách mạng. Tuy ta phải trả một giá quá cao, nhưng bây giờ ta
biết rõ nguyên do của các đau khổ của ta: ta thiếu dân chủ.
III. Phương hướng sửa chữa các sai lầm
Qua lịch sử tranh đấu của quần chúng hai nghìn năm nay, ta thấy cái gì mà nhân
bản của loài người đòi hỏi thiết tha nhất, đó là một đời sống vật chất tương đối
đầy đủ êm ấm, đó là một đời sống tinh thần tương đối ổn định, có đảm bảo và tự
do. Hạnh phúc của loài người xây dựng trên cơ sở dân sinh và dân quyền. Tôi muốn
nhấn mạnh ở đây về vấn đề dân quyền. Ta được biết từ hai thế kỷ nay chủ yếu
trong vấn đề dân quyền là vấn đề dân chủ, nghĩa là quyền của người dân làm chủ
trên đất nước, đồng thời là quyền của con người được sống theo các nhu cầu thiết
yếu và chính đáng của nhân bản. Từ cuộc Cách mạng tư sản Hoa Kỳ cuối thế kỷ 18,
Cách mạng tư sản Pháp 1789, tới cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa của Nga, quần
chúng nổi giậy, mang xương máu để giành kỳ được chế độ dân chủ. Sau cuộc đại
chiến lần thứ hai, Hiến chương Liên hiệp quốc đúc kết những thành quả của các
phong trào lịch sử tranh đấu cho dân chủ và đặt các nước văn minh trước trách
nhiệm của họ để thực hiện và đảm bảo các nguyên tắc dân chủ. Đối với các nước tư
bản ta không ngạc nhiên thấy chế độ dân chủ thực hiện với những thiếu sót quan
trọng. Nhưng ta có quyền ngạc nhiên khi ta thấy các thiếu sót ấy cũng xuất hiện
trong các nước đã hoàn thành cuộc Cách mạng dân chủ nhân dân và xã hội chủ
nghĩa. Đại hội lần thứ 6 của Hội Quốc tế các luật gia dân chủ họp trong tháng 5
vừa rồi tại Bruxelles đã lấy làm tiếc mà nhận thấy rằng trong tất cả các nước,
dù tư bản hay xã hội chủ nghĩa, mặc dầu các Hiến pháp, các bộ luật tuyên bố
trịnh trọng, tôn trọng thực hiện, đảm bảo thực hiện các nguyên tắc dân chủ, tuy
nhiên các nguyên tắc này vẫn bị dày xéo. Vì vậy trong tất cả các nước, quần
chúng tranh đấu kịch liệt.
Ở nước ta, trong bản Tuyên ngôn độc lập, trong Hiến pháp cũng như trong
các sắc lệnh, đạo luật, nguyên tắc dân chủ đã được ban bố. Nhưng qua phong trào
phát huy dân chủ mà Chính phủ chủ trương, qua đại hội nhân dân thủ đô lần thứ 3,
các Đại hội Mặt trận Trung ương, Mặt trận Thành, qua thông cáo của Hội nghị lần
thứ 10 của Trung ương Đảng Lao động, của Chính phủ v.v., nhân dân nhận thấy, và
Đảng cũng như Chính phủ xác nhận rằng ta thiếu sót về dân chủ khá nhiều. Vì các
thiếu sót ấy, ta phạm các sai lầm nghiêm trọng trong Cải cách ruộng đất như tôi
đã trình bày trên đây. Nguyên nhân sâu sắc của các sai lầm ấy, ta có thể quy kết
được. Sở dĩ đời sống tinh thần của ta không được ổn định, lúc nào ta cũng nơm
nớp lo sợ các hành động “lộng quyền” của nhà đương cục, là vì ta thiếu một chế
độ pháp trị phân minh, không đề ra nghĩa vụ và quyền lợi của mọi người, đồng
thời cả của cấp lãnh đạo nữa. Sở dĩ cấp lãnh đạo có thể phạm được các sai lầm
nghiêm trọng trong Cải cách Ruộng đất, tổn thất cho xương máu, mồ hôi nước mắt
của đồng bào, cho uy tín của Đảng và Chính phủ, là vì người dân không có quyền,
không có phương tiện nói lên ý kiến của mình, tham gia xây dựng các chính sách
của Chính phủ.
Do đó, phương hướng sửa chữa các sai lầm là một chế độ pháp trị chân chính, một
chế độ dân chủ thực sự.
Một chế độ pháp trị chân chính — Ở đây, chưa phải lúc và chỗ để tôi trình
bày ý kiến về vấn đề pháp trị. Ta sẽ có dịp khác. Ở đây, tôi chỉ muốn trình các
quí vị một nhận xét.
Đảng Lao động và chính phủ có nhận thấy cần thiết, trong chính sách sửa chữa các
sai lầm trong Cải cách, phải “tăng cường chế độ pháp trị” của ta. Tôi e rằng
trong tư tưởng lãnh đạo, sự nhận thức về vấn đề pháp trị chưa được rõ và đầy đủ.
Chính trị vẫn coi pháp luật như một “bà con nghèo”. Chữ “tăng cường” là một
chứng minh. Tuy rằng trong nước ta có một Bộ Tư pháp, có các toà án, có luật lệ,
nhưng chế độ pháp trị hầu như không có. Đó là một điều tôi sẽ nghiên cứu sâu sắc
hơn khi nào tôi trìng bày ý kiến về chế độ pháp trị, một chế độ pháp trị chân
chính. Theo ý tôi, thì vấn đề không phải là tăng cường mà là xây dựng.
Một chứng minh khác trong chính sách Sửa sai trong Cải cách này, tôi vẫn thấy
chính trị lấn áp pháp lý. Trước hết bức thư của ông Hồ Viết Thắng tự phê bình và
xin rút lui khỏi Mặt trận Trung ương chỉ là một giải pháp chính trị mà thôi.
Trong cuộc mạn đàm với các vị đại biểu đến họp hội nghị này, tôi nhận thấy không
ai “thông” về ý kiến và biện pháp ông Hồ Viết Thắng trình bày cả. Riêng về phần
tôi là một nhà luật học, tôi chưa thể nào nhận định được trách nhiệm của ông
Thắng. Có thể trách nhiệm của ông ấy rất lớn, có thể rất nhỏ. Đứng trên tinh
thần pháp lý, sự nhận tội lỗi của một người không đủ để qui định trách nhiệm của
người ấy. Trong Cải cách, khi những đảng viên ưu tú bị đoàn Cải cách gán cho là
phản động, ra trước nhân dân, có người cũng nhận tội trong khi biết là mình oan.
Ta nên rút kinh nghiệm vừa qua, sửa sai không phải là phạm các sai lầm khác. Do
đó, đứng trên một lập trường pháp trị chân chính, tôi đề nghị phải lập một ủy
ban điều tra gồm các vị đại biểu Quốc hội, Mặt trận, Đảng Lao động với sự cộng
tác của các vị thẩm phán cao cấp, giàu kinh nghiệm để lập một hồ sơ theo phương
pháp pháp lý đã nhận định, trên quá trình đi từ lãnh đạo qua chỉ đạo đến chỗ
thực hiện chính sách, trách nhiệm ở chỗ nào và do những ai phải chịu. Sau khi
kết thúc cuộc điều tra, ủy ban ấy sẽ phân tách trách nhiệm chính trị và trách
nhiệm pháp lý. Ai chịu trách nhiệm chính trị sẽ trả lời trước Quốc hội biến
thành Toà án tối cao. Ai chịu trách nhiệm pháp lý sẽ trả lời trước các tòa án tư
pháp. Dưới con mắt của quần chúng theo dõi xây dựng cuộc điều tra và xét xử,
công lý phát huy, không còn ai thắc mắc nữa.
Có người hỏi làm thế để làm gỉ? Tôi xin phép trả lời. Làm thế để rút kinh
nghiệm. Tôi cảm thấy ngay hiện thời ta chưa rút được kinh nghiệm đâu. Chính trị
không những lãnh đạo pháp lý —đó là đúng— nhưng vẫn lấn át pháp lý, thay thế cho
pháp lý, như trong trường hợp ông Hồ Viết Thắng, như thế là ta vẫn mở cửa cho
các sai lầm mới còn nguy hại hơn nữa. Không những thế, ta biết rằng nhu cầu công
lý thuộc nhân bản con người văn minh. Từ người bị xử trí oan cho đến các người
chỉ chịu thiệt gián tiếp vì các sai lầm, có thể nói được rằng toàn dân đợi chờ
công lý. Một biện pháp chính trị xuề xoà không thỏa mãn được ai. Bằng chứng ở
nông thôn, ta được biết tình hình “căng thẳng”. Phong trào trả thù, tự xử diễn
ra khắp mọi nơi, kéo chúng ta trở về quá khứ của lịch sử. Còn như các đảng viên
bị xử trí sai, tâm hồn các anh em như thế nào, ta chỉ cần đọc lại báo Nhân Dân.
Tuy rằng các anh em kết thúc các bài tường thuật lại đau khổ của mình bằng những
lời phấn khởi, nhưng các lời này không làm ta quên được các lời phẫn uất, chua
xót, cay đắng mà các anh em nói lại với ta từ đầu bài. Nhưng bi đát hơn hết là
các chiếc khăn trắng chít trên đầu họ hàng thân thích của những anh em bị xử tử,
những bàn thờ vẫn dựng trong nhà, các thổn thức phá vỡ im lặng của các đêm hiu
quạnh, các ngày cúng giỗ nhắc lại hàng năm bi kịch thê thảm đã diễn ra trong gia
đình vì cuộc Cải cách. Nhân dân đòi hỏi các người có công được thưởng và các
người có tội phải đền tội. Trách nhiệm của tất cả mọi người từ trên xuống dưới,
từ dưới lên trên, phải được qui định rõ ràng, dứt khoát. Như thế mới yên được
lòng dân, như thế mới thu phục được nhân tâm. Kinh nghiệm lịch sử dạy ta điều
ấy. Trong chính sách sửa chữa sai lầm, ta không thể quên được bài học lịch sử.
Quần chúng im lặng đợi chờ công lý.
Chúng ta thiết tha mong ước ở chính trị một nhận định đúng về vai trò của pháp
luật phục vụ cách mạng. Kinh nghiệm đau đớn vừa qua bó buộc ta phải xây dựng lại
quan điểm “địch” trên cơ sở pháp lý và pháp trị. Các sai lầm nghiêm trọng ta đã
phạm bắt nguồn ở một quan điểm chính trị về địch. Quan điểm ấy linh động quá,
“biện chứng” quá, nên ta không biết phân tách địch và ta, do đó ta đánh cả ta
nữa. Muốn tránh các sai lầm hôm qua đừng tái diễn ngày mai, ta cần xác định theo
hình luật thế nào là địch. Lúc đó ta mới đánh đúng địch, và có đánh đúng địch ta
mới củng cố được ta, ổn định được nhân tâm, duy trì lại trật tự và an ninh ở
thôn quê, kiến thiết lại đoàn kết giữa các tầng lớp nhân dân ở thôn quê cũng như
ở thành thị, đảm bảo cho quần chúng một đời sống tự do, thoát khỏi mọi sự đe dọa
của “lộng quyền”, bênh vực các quyền căn bản và thiết yếu của con người.
Tóm lại, nếu chính trị giác ngộ, vui lòng tôn trọng pháp lý, thiết lập một chế
độ pháp trị trong đó chính trị vẫn lãnh đạo pháp lý, nhưng đồng thời nêu thật
cao gương phục tùng pháp lý và pháp trị thì nhất định chính trị khôi phục đuợc
uy tín và được quần chúng nhiệt liệt ủng hộ.
Một chế độ thực sự dân chủ — Thế nào là một chế độ thực sự dân chủ? Đó là
một chế độ trong đó người dân được làm chủ trên đất nước không những trong hiến
pháp, mà cả trong thực tế nữa. Đây không phải là lúc, là chỗ, mà ta đi sâu vào
vấn đề. Ta chỉ cần nhận thấy rằng trong giai đoạn hiện thời, quần chúng có đòi
hỏi cái gì quá đáng đâu, chỉ yêu cầu có một điều thôi, là được đàm thoại với cấp
lãnh đạo, được đề đạt lên cấp lãnh đạo, ý kiến về các chính sách do cấp lãnh đạo
xây dựng. Các vị lãnh tụ đã bao lần khen dân ta tốt. Mà dân ta tốt thật. Bằng
chứng là điều tôi vừa nhắc lại đây. Trong khi quần chúng có quyền đòi hỏi ở một
chính thể cách mạng rất nhiều, nhân dân ta chỉ có một yêu cầu mà ai cũng phải
nhận là chính đáng. Tại sao nhân dân chỉ có cái yêu cầu nhũn nhặn ấy mà thôi? Là
vì nhân dân thông cảm với cấp lãnh đạo phải đương đầu với bao khó khăn. Nhưng
nếu nhân dân chỉ đề ra có một yêu cầu, yêu cầu ấy thiết yếu. Tôi tin rằng cấp
lãnh đạo cũng nhận thấy như vậy. Tôi không quên lời của ông Trường Chinh đọc bản
tự phê của Đảng Lao động tại Hội nghị này. Ta nghe thấy cấp lãnh đạo thú nhận
trước Hội nghị rằng Trung ương Đảng đã phạm sai lầm là xa quần chúng, chỉ tiếp
xúc với quần chúng qua báo cáo của các cán bộ đảng viên mà thôi. Ta phải nhận
định rằng đây là một sai lầm nghiêm trọng. Do đó, cuộc Cải cách Ruộng đất của ta
đã gặp các thất bại cay đắng. Trái với lời ta thường nói, ta đã thiếu dân chủ
với nhân dân.
Nhân dân nhất định không để tình trạng tai hại ấy kéo dài nữa. Tôi xin phép Hội
nghị góp một số ý kiến để chấm dứt tình trạng đó. Tôi không đặt vấn đề dân chủ
nói chung. Tôi chỉ chú ý đến yêu cầu thiết tha nhất hiện thời của quần chúng là
được phản ảnh lên ý nguyện của mình. Theo ý tôi, để thực hiện và đảm bảo yêu cầu
vô cùng chính đáng ấy, chỉ cần ba giải pháp.
Các biện pháp tôi đề nghị trên đây đều nhằm mục đích cống hiến các cấp lãnh đạo
một nhận thức đúng và sát thực tế mà cấp lãnh đạo không có điều kiện biết đến
một cách trực tiếp. Sát với thực tế của quần chúng, cấp lãnh đạo thông cảm với
quần chúng, đi đúng đường lối của quần chúng, được quần chúng tín nhiệm, ủng hộ,
mến yêu.
Thưa các quý vị,
Tôi nói đã quá lâu, nhưng tôi tin các vị cũng tha thứ cho, vì biết rằng tôi là
một người thiết tha đến sự nghiệp của cách mạng và tiền đồ của dân tộc. Các ý
kiến của tôi, dù sai hay đúng, tôi cứ thành khẩn đề đạt lên các vị, gọi là để
góp phần vào hội nghị, một phần nhỏ mọn nhưng chan chứa một niềm hi vọng và tin
tưởng vô biên ở tương lai của đất nước.
Hà-nội, ngày 30.10.1956