Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
VẬN ĐỘNG MỘT HIẾN PHÁP CHO VIỆT NAM. |
Ðối Thoại :
· Nguyện vọng hủy bỏ điều 4 Hiến Pháp hiện tại là một trong những mục tiêu Ðối Thoại theo đuổi.
· Ðối Thoại mong muốn mở một diễn đàn trao đổi về Hiến Pháp để Khai sinh một vận hội mới cho VN .
· Dù giải pháp nào, dù hình thúc tranh đấu nào, một nước VN mới cũng sẽ bắt đầu bằng một văn kiện có giá trị cao nhất trong hệ thống pháp lý: Hiến Pháp Việt Nam.
Ðối Thoại xin trân trọng giới thiệu bài viết cuả tác giả Nguyễn Duy Quang như một sự tiếp nối thảo luận và đề nghị về một bản HIẾN PHÁP VIỆT NAM
Các tài liệu cần tham khảo :
· RFA Phỏng vấn LS Trần Thanh Hiệp: Hiến Pháp Việt Nam
· GS Phạm Duy Nghĩa: Hiến Pháp 1946
· Luật Sư Nguyễn Xuân Phước: Hiến Pháp 1946
· Luật Sư Trần Thanh Hiệp: Quyền lập hiến và Hiến pháp
· HIẾN PHÁP NƯỚC CÔNG HÒA XHCN VIỆT NAM NĂM 1992
· HIẾN PHÁP NƯỚC CÔNG HÒA XHCN VIỆT NAM NĂM 1980
· HIẾN PHÁP NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CÔNG HÒA NĂM 1959
· HIẾN PHÁP NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CÔNG HÒA NĂM 1946
· Tuyên ngôn Độc lập Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
· Trần Dũng Tiến : Hiến Pháp 1946
VẬN ĐỘNG MỘT HIẾN PHÁP CHO VIỆT NAM.
Nguyễn Quang Duy
duyact@yahoo.com.au
Canberra, Úc Đại Lợi, 30/9/2005
Qua phân tích hoàn cảnh lịch sử, nội dung, thủ tục thành lập Hiến Pháp 1946, bài viết này sẽ chỉ ra một nét độc đáo về Hồ Chí Minh, về cờ đỏ một biểu tượng Cách Mạng tháng Tám, tổng hợp phân tích của các luật gia về tính chính thống, hợp lý và hợp pháp cuả các Hiến Pháp 1946 và 1959, nhắc lại đề nghị cuả Phương Nam Đỗ Nam Hải cần một cuộc trưng cầu dân ý "Việt Nam nên hay không nên theo chế độ đa đảng? ", và lợi ích cuộc vận động chữ ký để ủng hộ đề nghị này.
Lời mở đầu
Thảo luận về hiến pháp, đặc biệt về điều 4 trong bản Hiến Pháp 1980 và 1992, là một việc đã từ lâu liên tục xảy ra trong Cộng đồng người Việt hải ngọai. Riêng Cộng đồng người Việt tự do tại Úc châu, đề tài này đã được thảo luận tại các Đại Hội cấp Liên Bang. Và đã quyết định cùng đồng bào trong nước đấu tranh đòi hủy bỏ điều khỏan phi dân chủ này. Các quyết định đã được phổ biến rộng rãi trên báo chí và truyền thanh, bằng cả Việt và Anh ngữ.
Việc liên tục đòi hủy bỏ điều 4 này chỉ rõ vai trò Cộng đồng hải ngoại là đối lập với Đảng Cộng Sản (ĐCS) một cách công khai, bất bạo động và hợp pháp. Điều 18 của Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa 1967 ghi rõ :"... 3/ Quốc gia tôn trọng các quyền chính trị của mọi công dân kể cả quyền tự do thỉnh nguyện, quyền đối lập công khai, bất bạo động và hợp pháp." Vừa là công dân Việt Nam vừa là công dân nước định cư, tinh thần này đã hướng dẫn Cộng đồng trong mọi nỗ lực đấu tranh cho một Việt Nam tự do, dân chủ, cường thịnh và hòa nhập vào Cộng đồng thế giới.
Đòi hủy bỏ điều 4 có phải là một phương cách đấu tranh hợp lý và hiệu quả hay không? Các quyền công dân đã được liệt kê trong hiến pháp có bao giờ được đảng và nhà cầm quyền CS tôn trọng đâu? Các Công Ước Quốc Tế họ đã ký có được thực thi đâu? Hiệp định đình chiến Genève, hiệp định đình chiến Paris giờ ra sao? Hiến Pháp 1959, 1980 và 1992 có phải là hiến pháp hay chỉ là cương lĩnh của ĐCS? Phải làm gì để nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh đòi công lý? ...
Nhân sáu mươi năm, ngày HCM đọc bản "Tuyên Ngôn Độc Lập" tại Quảng Trường Ba Đình Hà Nội. Tôi đã gởi đăng trên điện báo Đối Thọai vài cảm nghĩ về bản Tuyên Ngôn này. Cùng khi ấy, từ bên nhà, qua điện báo Tuổi Trẻ, phó giáo sư - tiến sỹ Phạm duy Nghĩa đã lên tiếng cho rằng bản Hiến Pháp 1946 vẫn còn nguyên giá trị, bởi mỗi câu chữ trong đó đều "vang vọng tiếng dân". Trên điện báo Talawas đăng lại bài xã luận của Nguyễn hữu Đang "Hiến pháp Việt Nam 1946 và Hiến pháp Trung Hoa bảo đảm tự do dân chủ như thế nào?". Bài này đã được đăng lần đầu trên trang 1 và 2 của báo Nhân Văn số 5, ra ngày 20 tháng 11 năm 1956. Đây là số báo cuối cùng trước khi báo Nhân văn bị nhà cầm quyền CS đóng cửa. Rồi Đài Á Châu Tự do phỏng vấn Luật sư Trần Thanh Hiệp về bản Hiến Pháp này.
Hiến Pháp là gì?
Hiến pháp là nền tảng để xây dựng một chính phủ dân chủ, hiến trị và pháp trị. Hiến pháp là bộ luật tối cao quy định các quyền và nghĩa vụ của người công dân. Hiến pháp cũng quy định các nguyên tắc xây dựng quyền lực cho chính phủ, các giới hạn của chính phủ và đề ra các thủ tục họat động cơ bản cho chính phủ. Hiến pháp cũng là nền tảng xây dựng các chính sách xã hội, giáo dục, chính trị, kinh tế, văn hoá, ..., các quyết định pháp lý, các đạo luật quốc gia. Hiến pháp còn đề ra các phương cách bổ sung hay sửa đổi khi cần thiết.
Trong một quốc gia dân chủ, hiến trị và pháp trị, mọi công dân đều bị chi phối, cũng như đều có bổn phận tôn trọng và tuân theo hiến pháp, các đạo luật, các quyết định hợp hiến.
Sự ra đời của hiến pháp Việt Nam đầu tiên - Hiến Pháp 1946.
Các bài viết của Nguyễn văn thảo, Nguyễn thanh Giang và Trần thanh Hiệp đã chỉ rõ tư tưởng lập hiến và các nỗ lực nhằm xây dựng một hiến pháp dân chủ cho Việt Nam đã bắt đầu từ những năm đầu của thế kỷ thứ 20. Qua đó có thể chia ra làm hai khuynh hướng khác nhau. Phan bội Châu, Phạm Quỳnh, Bùi quang Chiêu ... chủ trương xây dựng một chế độ quân chủ lập hiến. Phạm Quỳnh đã "yêu cầu Bảo Hộ giúp quốc vương An Nam ban hành một bản hiến pháp". Phan chu Trinh, Nguyễn ái Quốc ... lại chủ trương phế bỏ chế độ quân chủ và thiết lập một thể chế dân chủ pháp trị. Tại Hội Nghị Versailles, năm 1919, Nguyễn ái Quốc đã gởi bản "Yêu sách của Nhân Dân Việt Nam" với yêu sách thứ bẩy mong người Pháp ban hành hiến pháp cho Việt Nam.
Nhân cơ hội Nhật đầu hàng đồng minh, Trần trọng Kim từ nhiệm, các tổ chức chính trị đã liên tiếp tổ chức các cuộc biểu tình ở khắp nơi đòi thay đổi chế độ Quân chủ, ĐCS đã chủ động thành lập Chính Phủ Lâm Thời. Ngày 2/9/1945, tại Quảng Trường Ba Đình Hà Nội, HCM đã đọc bản "Tuyên Ngôn Độc Lập" lấy tên nước là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.
Ngay ngày hôm sau 3/9/1945 trong phiên họp của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời, HCM đã tuyên bố "Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi chế độ thực dân không kém phần chuyên chế nên nước ta không có hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng tự do, dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu". Ngày 20/9/1945, chính phủ lâm thời đã ban hành sắc lệnh số 34 thành lập ban dự thảo hiến pháp gồm 7 người đứng đầu là HCM.
Trong bài viết về Tổng tuyển cử, HCM đã nhấn mạnh: "Tổng tuyển cử là một dịp cho tòan thể quốc dân chọn lựa người có tài, có đức để gánh vác công việc nước nhà. Trong cuộc tổng tuyển cử, hễ là công dân đều có quyền đi bầu cử." Ngày 6/1/1946, cuộc tổng tuyển cử đã được tiến hành. Kết quả là Việt Minh đã chiếm đại đa số trong số 333 đại biểu.
Ngày 20/2/1946, nhân dân Hà Nội đã biểu tình phản đối kết quả bầu cử có nhiều bằng cớ gian lận, đả đảo chính phủ HCM, yêu cầu cựu hòang Bảo Đại ra cầm quyền để kết hợp tòan dân. Ngày 2/3/1946, trước áp lực của dân chúng và cũng như sức mạnh quân sự của người Pháp, HCM đã phải thu xếp mở rộng thêm 70 đại biểu (không qua bầu cử) từ các nhân sỹ và các nhà cách mạng không thuộc ĐCS vào Quốc hội.
Việc chấp nhận chia sẻ quyền lực và liên hiệp với ĐCS, dẫn đến việc các nhân sỹ và đảng phái không CS đã phải trả một giá rất đắt. Chỉ vài tháng sau nhiều vị trong các đại biểu nới rộng này đã bị những người CS ra tay thủ tiêu hay giam giữ. Các nhân sỹ, đảng phái và các lực lượng không CS cũng bị khủng bố, đàn áp, sát hại một cách dã man. Khởi đầu cho những chia rẽ sự đòan kết và sức mạnh của dân tộc.
Trong kỳ họp Quốc hội lần thứ nhất này, HCM đã thành lập được một Chính Phủ Liên Hiệp Kháng Chiến, do HCM làm chủ tịch. Và Quốc Hội cũng đã bầu lại một Ủy Ban Dự Thảo hiến pháp gồm 11 người thuộc các đảng phái, tổ chức và dân tộc cũng do HCM chủ trì. Một mình HCM cùng một lúc đã đảm trách 2 vai trò (vừa soạn vừa ban hành) như vậy có hợp lý và hợp pháp hay không? Câu hỏi này xin gởi đến các luật gia.
Ngay sau khi Chính Phủ Liên Hiệp được thành lập, HCM lại bắt liên lạc với Pháp. Ngày 6/3/1946, tại Đà Lạt, ông đã ký thỏa ước với Pháp, chấp nhận Việt Nam đứng trong Liên Hiệp Pháp và chịu cho quân đội Pháp đổ bộ lên đất Bắc thay thế quân đội Trung Hoa. Điều này trái hẳn với lời tuyên bố trong Bản Tuyên Ngôn Độc lập được HCM đọc trước Quốc dân: "thóat ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp".
Ngay sau đó, HCM lại sửa sọan một phái đòan cùng sang Pháp tham dự Hội nghị Fountainebleau thu xếp vai trò Việt Nam trong Liên Hiệp Pháp. Riêng HCM đã dành cả 4 tháng (tháng 5 tới tháng 9 năm 1946) tại Pháp. Và ngày 14/9/1946, HCM đã ký Tạm Ước với Pháp. Theo đó Việt Nam là một quốc gia trong Liên Hiệp Pháp và người Pháp được hưởng đầy đủ mọi quyền lợi như trong thời Việt Nam bị thuộc địa. Trong khi phái đòan còn thương lượng ở Pháp, quân đội Pháp đã mở rộng phạm vi chiếm đóng. Pháp tấn công Lạng Sơn, Bắc Ninh, Hải Dương, ... đè bẹp kháng chiến. Ở miền Nam và Nam Trung bộ, Pháp đã hòan tòan kiểm sóat và bình định. Những thất bại liên tục đã ảnh hưởng nặng nề đến uy tín của HCM nói riêng và của Chính Phủ Liên Hiệp nói chung. Đến mức HCM đã phải tuyên bố là "đã không phản bội tổ quốc".
Về lại Việt Nam, Chính phủ Liên Hiệp lại sửa sọan cho kỳ họp lần thứ hai của Quốc Hội. Trong kỳ họp từ 28/10 đến 9/11/1946 này, Quốc Hội đã phải thảo luận các báo cáo của chính phủ, ra các nghị quyết về nội trị, ngọai giao, thông qua hiến pháp, lập chính phủ mới cũng do HCM làm chủ tịch và bầu Ban Thường Trực Quốc Hội.
Trong lần phỏng vấn với Đài Á Châu Tự do, Luật sư Trần văn Hiệp đã nhấn mạnh Hiến Pháp 1946 là một đạo luật không được ban hành. Ban hành hiến pháp là một thủ tục luật pháp để xác nhận rằng hiến pháp này đã được biểu quyết một cách hợp lệ. Hiến pháp này sẽ có hiệu lực từ lúc được ban hành và mọi người phải tuân theo. Dựa trên điều 49, về quyền hạn của chủ tịch, khỏan đ/ "Ban bố các đạo luật đã được nghị viện quyết định." và điều thứ 31 "Những luật đã được Nghị viện biểu quyết, Chủ tịch nước phải ban bố chậm nhất là 10 hôm sau khi nhận được thông tri. Nhưng trong thời hạn ấy, Chủ tịch có quyền yêu cầu nghị viện thảo luận lại. Những luật đem ra thảo luận lại, nếu vẫn được nghị viện ưng chuẩn thì bắt buộc chủ tịch phải ban bố." Vì vậy, bản hiến pháp năm 1946 coi như không có giá trị pháp lý. Có chăng là chỉ có giá trị về mặt chính trị.
Cho mãi đến ngày 20/12/1946, HCM mới tuyên bố rút vào chiến khu, kháng Pháp. Như đã nêu ở bên trên HCM rất quan tâm đến việc ban hành một bản hiến pháp cho Việt Nam. Trong vai trò vừa chủ tịch nước lại vừa chủ trì Ủy Ban Dự Thảo hiến pháp, tại sao HCM đã không cho ban hành bản Hiến Pháp 1946 này? Có phải vì HCM đã không đồng ý với bản hiến pháp này? Có phải bởi vì Hiến Pháp 1946 đã không có cái đuôi chuyên chính như các hiến pháp 1959, 1980 và 1992?
Lẽ dĩ nhiên các luật sư cố vấn ĐCS như luật sư Nguyễn văn Thảo phải xác quyết bản Hiến Pháp 1946 là bản hiến pháp hợp pháp và hợp lý đầu tiên cho Việt Nam. Điều này đã được luật sư Nguyễn xuân Phước đồng ý và nói rõ Hiến Pháp 1946 là một hiến pháp có giá trị pháp lý.
Hiến Pháp 1946 một hiến pháp dân chủ?
Hiến Pháp 1946 đã được xây dựng trên 3 nguyên tắc: đòan kết dân tộc, bảo đảm các quyền tự do dân chủ và xây dựng một nhà nước pháp trị. Với một mục đích rất rõ ràng: "Với tinh thần đòan kết, phấn đấu sẵn có của tòan dân, dứơi một chính thể dân chủ rộng rãi, nước Việt Nam độc lập và thống nhất tiến bước trên đường vinh quang hạnh phúc, cùng hòa nhịp với trào lưu tiến bộ của thế giới và ý nguyện hòa bình của nhân lọai." Dựa trên những nguyên tắc này Hiến Pháp 1946 đã đề ra những quyền công dân cơ bản như:
Điều thứ 1 "... Tất cả quyền bính trong nước là của tòan thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo."
Điều thứ 6 "Tất cả mọi công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế và văn hóa."
Điều thứ 7 "Tất cả mọi công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình."
Điều thứ 8 "Ngòai sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung."
Điều thứ 9 "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện"
Điều thứ 10 "Công dân Việt Nam có quyền:-Tự do ngôn luận -Tự do xuất bản -Tự do tổ chức và hội họp - Tự do tín ngưỡng - Tự do cư trú, đi lại trong nước và ngoài nước."
Điều thứ 11 "Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân Việt Nam. Nhà ở và thư tín của công dân Việt Nam không ai được xâm phạm một cách trái pháp lụât."
....
Điều khỏan về quyền tư hữu rất rõ ràng:
Điều thứ12 "Quyền tư hữu tài sản cuả công dân Việt Nam được bảo đảm."
Các điều khỏan quyền bầu cử bao gồm:
Điều thứ 17 "Chế độ bầu cử là phổ thông đầu phiếu. Bỏ phiếu phải tự do, trực tiếp và kín."
Điều thứ 18 "Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, đều có quyền bầu cử, trừ những người mất trí và mất quyền công dân. Người ứng cử phải là người có quyền bầu cử, phải ít ra là 21 tuổi, và phải biết đọc biết viết chữ quốc ngữ."
Các điều khỏan về tư pháp như:
Điều thứ 67 "Các phiên tòa đều phải công khai, trừ những trường hợp đặc biệt. Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư."
Điều thứ 68 "Cấm không đuợc tra tấn, đánh đập, ngược đãi những bị cáo và tội nhân."
Điều thứ 69 "Trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo luật pháp, các cơ quan khác không đuợc can thiệp".
Đặc biệt hiến pháp này cũng nêu rõ các quyền phúc quyết (trưng cầu dân ý):
Điều thứ 21 "Nhân dân có quyền phúc quyết về hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, theo điều thứ 32 và 70."
Điều thứ 32 "Những việc liên quan đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý."
Điều thứ 70 "Sửa đổi hiến pháp phải theo những cách thức sau đây: a/ Do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu. b/ Nghị viên bầu ra một ban dự thảo những thay đổi. c/ Những điều thay đổi khi đã được nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra tòan dân phúc quyết."
Sau tám mươi năm Pháp thuộc và ở vào thập niên 1940, Hiến Pháp 1946 đã bao gồm những quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc như đã nêu trên, phải nhìn nhận đây là một bản hiến pháp dân chủ. Đủ ba yếu tố "của dân, do dân và vì dân".
Trong bài xã luận trên báo Nhân Văn, Nguyễn hữu Đang đã viết :"Hôm nay tôi nhắc lại vài điều của Hiến Pháp 1946 hẳn có bạn nghĩ: Hiến Pháp 1946 là một sự nhân nhượng chiến thuật với bọn Quốc dân Đảng Việt Nam được quân đội Quốc dân Đảng Trung Hoa giúp đỡ và những tầng lớp nhân dân mà đại bộ phận lúc ấy chưa ngã theo cách mạng. Mức độ của nó so với ngay hòan cảnh nước ta năm 1946 cũng chưa đủ, huống nữa là so với hòan cảnh nước ta ngày nay chính quyền nhân dân đã tiến những bước khổng lồ. Ngày nay lực lượng công, nông đã lớn mạnh, lẽ tất nhiên phải chuyên chính hơn nữa chứ không thể lui lại trình độ gần với dân chủ tư sản như năm 1946."
Trong bài Về "Sửa đổi hiến pháp 1992", Hòang Minh Chính đã viết rất rõ " Vậy là, Đại Hội IV của Đảng (tháng 12 năm 1979) đã xóa bỏ những thành quả tự do dân chủ quý giá nhất mà nhân dân đã dành được bằng Cách Mạng tháng Tám và được thể chế hóa trong hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa năm 1946. Quốc Hội đầu tiên bao gồm các nghị sĩ thuộc các đảng phái từ tả sang hữu, như Đảng Cộng sản, Đảng Dân chủ Việt Nam, những nghị sĩ không đảng phái, Việt Nam Quốc Dân Đảng và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, là Quốc Hội tiêu biểu rộng rãi nhất cho tòan dân tộc. Do đó, hiến pháp đầu tiên cũng mang tính dân chủ tự do rộng rãi nhất so với tất cả những bản hiến pháp sau. Các quyền tự do dân chủ của công dân được ghi thật rõ ràng trọn vẹn không hề có cụm từ thừa nào hàm ý hạn chế về sau."
Hai trích đọan trên đã nói rõ lý do Hiến Pháp 1946 là một hiến pháp dân chủ và cũng có thể là lý do HCM đã không chịu ban hành bản hiến pháp này.
Hiến Pháp 1946 thiếu căn bản để xây dựng một thể chế dân chủ
Hiến Pháp 1946 đã không đề ra một cơ quan có thẩm quyền giải thích hiến pháp, phán quyết về tính cách hợp hiến hay bất hợp hiến cuả các đaọ luật, sắc luật, sắc lệnh, nghị quyết và quyết định hành chánh. Như điều 81 cuả hiến pháp Việt Nam Cộng Hoà 1967 diễn giải vai trò cuả Tối Cao Pháp Viện.
Trong một thể chế dân chủ, Tối Cao Pháp Viện có thẩm quyền ngăn cản chính phủ thi hành các chính sách vi hiến, như cải cách ruộng đất, cải taọ công thương nghiệp, cải tạo văn nghệ sỹ, đối xử bất công (xét lý lịch), ... hay độc quyền, đảng trị đã và đang xảy ra ở Việt Nam. Viện này cũng có thẩm quyền phủ quyết việc ĐCS chiếm đoạt quyền phúc quyết cuả dân tộc trong những lần sửa đổi hiến pháp, sẽ nói đến ở phần sau.
Điều 88 cuả Hiến pháp Việt Nam Cộng Hoà 1967 diễn giải vai trò cuả Giám Sát Viện với thẩm quyền:
1-Thanh tra, kiểm soát và điều tra nhân viên các cơ quan công quyền và tư nhân đồng phạm hay tòng phạm về mọi hành vi tham nhũng, đầu cơ, hối mại quyền thế hoặc phương hại đến quyền lợi quốc gia.
2-Thẩm tra kế toán đối với các cơ quan công quyền và hợp doanh.
3-Kiểm kê tài sản các nhân viên các cơ quan công quyền kể cả Tổng Thống, Phó Tổng Thống, Thủ Tướng, Dân Biểu, Nghị Sỹ, Chủ tịch Tối Cao Pháp Viện.
4-Riêng đối với Chủ tịch Giám Sát Viện và các Giám Sát Viên, việc kiểm kê tài sản do Tối Cao Pháp Viện đảm trách.
Đã không chính danh lại không có một cơ chế dân chủ pháp trị, quyền thế đã gắn liền với tham nhũng, lạm dụng quyền hành, chiếm đoạt cuả công-tư,... như đã liên tục xảy ra ở Việt Nam trong suốt 60 năm qua. Quyền thế song song với làm giàu từ bất chính đã mở rộng bất bình đẳng về cơ hội, giaó dục, kinh tế, chính trị... Ngày nay tại Việt Nam, ĐCS đại diện cho giai cấp thống trị đã xây dựng một thể chế theo kiểu thực dân mà dân chúng là tầng lớp người bị trị.
Thiếu hai Viện kể trên, một hiến pháp dù có tốt đẹp cách mấy cũng khó có thể là nền tảng pháp lý căn bản để xây dựng một thể chế dân chủ, hiến trị và pháp trị.
Hiến Pháp 1946 tạo cơ sở xây dựng nền tảng độc tài
Điều thứ 49. Quyền hạn của chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa:
a/ Thay mặt cho nhà nước.
b/ Giữ quyền Tổng chỉ huy quân đội tòan quốc, chỉ định họăc cách chức các tướng sóai trong lục quân, hải quân, không quân.
c/ Ký sắc lệnh bổ nhiệm thủ tướng, nhân viên Nội các và nhân viên cao cấp thuộc các cơ quan chính phủ.
d/ Chủ tọa Hội đồng Chính phủ.
đ/ Ban bố các đạo luật đã được nghị viện quyết định.
e/ Thưởng huy chương và các bằng cấp danh dự.
g/ Đặc xá.
h/ Ký hiệp ước với các nước.
i/ Phái đại biểu Việt Nam đến nước ngoài và tiếp nhận đại biểu ngọai giao của các nước
k/ Tuyên chiến hay đình chiến theo như điều 38 đã định.
Với những quyền hạn tối cao, quyền lực tối thượng như trên, Hiến Pháp 1946 lại có thêm điều thứ 50 hết sức phi lý "Chủ tịch nước Việt Nam không phải chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc.". Điều khoản này quả đúng đặt chủ tịch lên trên cả hiến pháp hay luật pháp quốc gia. Điều khoản này đã mâu thuẫn với các điều khoản khác như điều thứ 7 "Tất cả mọi công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, ..."
Một điều cần nhắc, vai trò HCM, vừa chủ trì Ủy Ban Dự Thảo Hiến Pháp lại vừa chủ tịch nước, do đó mới đẻ ra điều khoản cực kỳ phi lý này. Điều khoản này vừa sửa soạn cho cả một guồng máy chuyên chính thần thánh hoá lãnh tụ đảng- vừa sưả soạn cho lãnh tụ đảng trở thành nhà độc tài trong một thể chế chuyên chính toàn trị.
Hiến pháp 1959, 1980 và 1992 là các cương lĩnh cuả Đảng Cộng Sản
Trong vai trò cố vấn luật pháp cho Quốc hội và Bộ Chính trị Đảng Cộng Sản luật sư Nguyễn văn Thảo đã cho rằng thủ tục lập hiến cuả các Hiến Pháp 1959, 1980 và 1992 đã không có tính cách dân chủ. Vì thủ tục soạn thảo các hiến pháp sau này "công dân không được tỏ thái độ trực tiếp với dự thảo hiến pháp, không tham gia việc thông qua hiến pháp".
Trong bài "Vang Vọng Tiếng Dân", Phó Giáo sư - Tiến sỹ Phạm duy Nghĩa , Đại Học Quốc Gia Hà Nội, kết luận cuộc phỏng vấn "... Phát huy tính dân chủ thì soạn thảo hiến pháp, luật pháp phải có sự tham gia của các giai tầng xã hội. Sau đó chính nhân dân là người phúc quyết chúng.".
Luật sư Nguyễn Xuân Phước còn chỉ rõ các hiến pháp 1959, 1980 và 1992 hòan toàn không có dân chủ, bất hợp hiến và bất hợp pháp, vì không có tính kế thừa và tính liên tục về mặt pháp lý, tinh thần và nội dung cuả Hiến Pháp 1946. Và vì thế, các hiến pháp sau này đã không có năng lực pháp lý để xác định tính chất hợp pháp và chính thống cuả nhà cầm quyền. Ông đã viện dẫn những lý do sau để dẫn đến kết luận trên.
1-Vì sự thể quyền phúc quyết (quyền trưng cầu dân ý) những thay đổi hiến pháp xác định quyền làm chủ đất nước cuả nhân dân,
2-Vì sự thể điều 70 Hiến Pháp 1946 quy định các thủ tục pháp lý cuả sự thay đổi hiến pháp: "Sửa đổi hiến pháp phải theo những cách thức sau đây: a/ Do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu. b/ Nghị viên bầu ra một ban dự thảo những thay đổi. c/ Những điều thay đổi khi đã được nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra tòan dân phúc quyết.",
3-Vị sự thể lý do sửa đổi hiến pháp có tính cách ngụy tạo,
4-Vì sự thể thủ tục sửa đổi hiến pháp để cho ra đời các hiến pháp 1959 đã vi phạm nghiêm trọng điều 70 này,
5-Vì sự thể hiến pháp và các hiến pháp sau đó tước đoạt quyền sửa đổi hiến pháp cuả nhân dân Việt Nam.
Luật sư Trần thanh Hiệp thì nhấn mạnh về quyền lập hiến, quyền làm hiến pháp đầu tiên và quyền sửa đổi các hiến pháp về sau. Để có một hiến pháp dân chủ quyền lập hiến phải là quyền cuả người dân. Theo ông, HCM và ĐCS không muốn có một hiến pháp dân chủ, nhưng lại không dám để lộ bản chất độc tài phản dân chủ. Quyền lập hiến cuả người dân đã bị ĐCS sang đoạt qua Hiến Pháp 1946 và bị chiếm đoạt trong các hiến pháp sau nàỵ
Ngày 18/12/1959, tại kỳ họp thứ 11 Quốc Hội khoá I, HCM đã đọc báo cáo về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1946. Ngày 31/12/1959, quốc hội đã đồng ý thông qua hiến pháp sửa đổi. Và ngày 1/1/1960, HCM đã ký sắc lệnh công bố Hiến Pháp 1959.
Một mặt HCM đã tuyên truyền cho việc ban hành một bản hiến pháp dân chủ cho Việt Nam. HCM vận động để vừa làm chủ tịch nước lại vừa chủ trì Ủy Ban Dự Thảo Hiến Pháp 1946. Hiến pháp này đã cho HCM một quyền uy tối thượng "không phải chịu một trách nhiệm nào" . Quyền uy này đã vượt trên cả hiến pháp, luật pháp quốc gia. Thế mà HCM chưa thoả mãn để ban hành Hiến Pháp 1946. HCM chỉ ký sắc lệnh ban hành một cương lĩnh 1959 cuả ĐCS lấy "chuyên chính bạo lực" làm "công lý" đưa cả dân tộc vào con đường mòn đầy chông gai chưa rõ lối ra. Đây là một nét độc đáo về con người của Hồ Chí Minh.
Biểu tượng Cách Mạng Tháng Tám - Việt Minh cờ đỏ đã bị ĐCS đưa vào lịch sử
Trong bài "Việt Nam Đất Nước Tôi", Phương Nam nhấn mạnh Cách Mạng tháng Tám là một thành quả đấu tranh của toàn dân mà ĐCS bấy lâu nay đã chiếm đoạt. Phương Nam cũng đã viết: "Có ý kiến cho rằng nhưng hôm đó đồng bào cả nước đều đi mít tinh và nhiều người đã gương cao lá cờ đỏ sao vàng, là lá cờ cuả nước CHXHCNVN sau này đấy thôi."
Điều cần biết là cờ đỏ sao vàng đã được công nhận như quốc kỳ trong mọi hiến pháp như
Điều thứ 3 cuả Hiến Pháp 1946: "Cờ cuả nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nền đỏ, giữa có sao vàng năm cánh.".
Điều thứ 109 cuả Hiến Pháp 1959 :"Quốc kỳ cuả nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh."
Điều thứ 142 cuả Hiến Pháp 1980 và cũng là điều thứ 141 cuả Hiến Pháp 1992 :"Quốc kỳ cuả nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh."
Nếu chỉ đọc các hiến pháp và không quan tâm, chúng ta hẳn không thấy việc gì khác lạ. Thực ra, hình thức và nội dung cuả lá cờ đỏ sao vàng đã bị thay đổi hoàn toàn. Lá cờ biểu tượng Cách Mạng Tháng Tám - Việt Minh kháng Pháp với ngôi sao màu vàng nhạt và các cạnh hình cong. Về nội dung lá cờ, HCM đã giải thích 5 cánh sao tượng trưng cho sự đòan kết cuả năm tầng lớp dân chúng sỹ, nông, công, thương và binh.
Cờ đỏ sao vàng với ngôi sao được vẽ thẳng với màu vàng kim loại, chỉ bắt đầu được dùng làm quốc kỳ song song với Hiến Pháp 1959. Theo lịch sử ĐCS lá cờ naỳ do ông Nguyễn Hữu Tiến vẽ ra. Nó đã được xuất hiện lần đầu vào ngày 23/11/1940 tại miền Nam trong cuộc "Nam Kỳ khởi nghiã". Theo Nguyễn đình Sài lá cờ đỏ sao vàng hiện được dùng rập khuôn các "hồng kỳ" cuả Liên Sô và Trung Cộng. Cờ Liên sô nền đỏ, trên góc trái có một ngôi sao viền vàng bên dưới là hình búa liềm. Cờ Trung Cộng cũng nền đỏ, trên góc trái có ngôi sao vàng lớn và bốn ngôi sao vàng nhỏ thiết kế theo hình cánh cung hướng về ngôi sao lớn. Ngôi sao lớn tượng trưng cho Trung Hoa gồm cả Đài Loan, Hồng Kông và Ma Cao. Bốn ngôi sao nhỏ là bốn nước nằm trong khối cộng sản bao gồm Việt Nam, Triều Tiên, Lào và Miên. Theo ông cờ đỏ sao vàng hiện nay mang ý nghiã :"Việt Nam là một trong những chư hầu trong khối cộng sản.".
Trưng Câù Dân ý đa đảng
Luật sư Nguyễn Xuân Phước đã kết luận bài viết cuả ông như sau "Đối với nhân dân Việt Nam, vấn đề không phải là thay đổi chắp vá vài ba chương, hay vài ba điều khoản cuả hiến pháp hiện nay như ĐCSVN đề nghị, hoặc chỉ bỏ điều 4 hiến pháp như một số nhà đấu tranh dân chủ đề nghị. Những thay đổi hiến pháp chỉ có giá trị khi quyền phúc quyết hiến pháp cuả nhân dân được tái lập."
Trong bài "Việt Nam Đất Nước Tôi", Phương Nam góp ý:"... theo tôi có cái gì đó không ổn về cách thức đấu tranh. Ví dụ như đòi hủy bỏ điều 4 hiến pháp hịên hành, trong đó quy định ĐCSVN là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo đất nước. Tất nhiên với một quốc gia đã có một nền dân chủ đích thực thì hiến pháp cuả họ sẽ không khi naò có một điều naò tương tự như vậy, và chúng ta phải đấu tranh đến cùng để nó không còn nữa. Nhưng có điều là với những nét đặc thù Việt Nam, cũng khó có gì để bảo đảm rằng nó sẽ được đa số nhân dân ủng hộ? Chúng ta chỉ mới có cảm tính như vậy thôi, chứ chưa được định lượng, chưa thực sự lấy dân làm gốc trong cách làm."
Sau đó Phương Nam đề nghị một cuộc trưng cầu dân ý đầu tiên cuả nước Việt Nam Thống Nhất. Câu hỏi cần được trả lời là : Việt Nam nên hay không nên theo chế độ đa đảng? Nếu ai cho rằng nên có đa đảng thì ghi CÓ - còn nếu ai cho rằng không nên có đa đảng thì ghi KHÔNG.
Để tiến hành cuộc trưng cầu dân ý này, Phương Nam đã đề nghị:
1- giữ nguyên bộ máy lập pháp, hành pháp và tư pháp hiện tại.
2- thành lập một Ủy Ban Quốc Gia Trưng Cầu Dân Ý. Ủy ban bao gồm mọi tầng lớp, giai cấp, sắc tộc, vùng, miền trong và ngoài nước.
3- nhiệm vụ cuả ủy ban này là xây dựng điều lệ, phương hướng hoạt động, nội dung và ý nghiã công việc. Thành lập các uỷ ban ở điạ phương và cơ sở.
4- từ đó vận động toàn dân tham gia và tiến hành trưng cầu dân ý.
Nếu kết quả đa số trả lời KHÔNG thì ĐCS sẽ tiếp tục lãnh đạo đất nước. Điều này minh chứng cho toàn dân và toàn thế giới, ý nguyện cuả đa số dân Việt là " Việt Nam theo thể chế Đảng lãnh đạo, Nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý". Một thể chế được ghi rõ trong Hiến Pháp 1992. ĐCS sẽ tiếp tục lãnh đạo đất nước cho đến khi nào người dân thấy cần thiết là nên có một cuộc trưng cầu dân ý mới.
Nếu kết quả đa số trả lời CÓ thì ĐCS phải chấp nhận nguyện vọng cuả toàn dân. Theo Phương Nam khi đó hiến pháp hiện hành phải được Quốc Hội sửa đổi, bổ sung và thông qua những điểm liên quan, sao cho phù hợp với tình hình của đất nước để có nhiều đảng chính trị hoạt động trong tương lai. Xin xem bài "Việt Nam Đất Nước Tôi" cuả Phương Nam để hiểu rõ hơn về đề nghị tràn đầy tình tự dân tộc và khả thi nàỵ
Bắt đầu bài viết "Quyền lập Hiến và Hiến Pháp", luật sư Trần thanh Hiệp đã lấy câu phương châm bình dân cuả Pháp "Phải Bắt đầu từ chỗ bắt đầu". Trong bài luật sư đã nhấn mạnh về quyền lập hiến là khởi điểm cuả một hiến pháp tương lai cho Việt Nam. Từ phân tích này, tôi có đề nghị nếu kết quả đa số trả lời CÓ thì ĐCS phải sửa soạn tiến hành một cuộc bầu cử tự do và minh bạch để bầu ra một Quốc Hội Lập Hiến với mục đích chính là soạn thảo một dự thảo Hiến Pháp. Dự thảo này sẽ lại phải qua một cuộc trưng cầu dân ý. Nếu đa số chấp nhận thì bản dự thảo này sẽ trở thành Hiến Pháp Việt Nam. Hiến Pháp này sẽ là cơ sở để xây dựng một Việt Nam DÂN CHỦ - HIẾN TRỊ - PHÁP TRỊ - CƯỜNG THỊNH và HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG THẾ GIỚI.
Các sự kiện liên tục xảy tới
Hiến Pháp nói một cách bình dân là một hợp đồng giữa dân và chính phủ. Cũng như mọi hợp đồng đều quy định việc gì mỗi bên được làm và không được làm. Dân đề cử Quốc Hội Lập Hiến để soạn và các Quốc Hội sau để sửa đổi và bổ sung các hợp đồng mỗi khi cần thiết. Nếu Quốc Hội làm không tốt công việc thì dân chúng sẽ phải đề cử những người thực sự có khả năng. Còn nếu một hợp đồng có hay cách mấy mà không được tôn trọng, nhẹ thì bị xé bỏ, nặng thì đưa nhau ra tòa.
Nhìn rõ được điều này, linh mục Nguyễn văn Lý nhận định "saú mươi năm qua, dân mình vẫn gượng ép đi bầu Quốc Hội và các Hội Đồng Nhân Dân một cách giả tạo". Theo đó, linh mục kêu gọi lãnh đạo và tín đồ các tôn giáo, cùng toàn dân, cương quyết tẩy chay các cuộc bầu cử vì "chính các Quốc Hội ấy lại làm ra luật quay lại khống chế và cướp đoạt tài sản của toàn dân và cuả các tôn giáo.". Lời kêu gọi cuả linh mục cần được đẩy mạnh một mặt tạo sức ép để ĐCS phải thực sự thay đổi, mặt khác giải thích cho người dân các quyền lợi về kinh tế, giáo dục, xã hội, chính trị ... mà người dân phải có đã bị nhà cầm quyền CS không tôn trọng cướp đi.
Cụ Lê Thanh Liêm thì cảnh cáo CSVN sẽ đưa vụ đàn áp Phật Giáo Hoà Hảo ra toà án Quốc tế :"Trong trường hợp tư pháp CHXHCNVN không thi hành trách nhiệm, không đáp ứng yêu cầu kể trên, giáo hội Phật Giáo Hoà Hảo Trung Ương bắt buộc phải đưa nội vụ ra tòa án quốc tế vì nước CHXHCNVN là thành viên của Liên Hiệp Quốc, là quốc gia ký công ước gia nhập vào Công Ước Quốc Tế về các Quyền Dân Sự và Chính Trị vào ngày 24/9/1982 chiếu các điều 2, 5 và 7 cuả các công ước nàỵ" Và lẽ dĩ nhiên người Việt hải ngoại sẽ hết mình trong vụ kiện lịch sử này. Một mặt gây tiếng vang toàn thế giới. Mặt khác, tạo tiền lệ cho các vụ kiện khác.
Đặc biệt nhất phải nói là việc các luật sư trong Luật Sư Đoàn Hà Nội đã thành công trong việc chọn lưạ các đaị biểu không qua việc thu xếp của ĐCS. Luật sư chủ nhiệm Phạm hồng Hải lại tuyên bố sẽ đẩy mạnh đâú tranh bảo vệ công lý và quyền con người.
Về đối ngoại, vì xưa nay ĐCS chưa bao giờ tôn trọng các hợp đồng họ đã ký với dân hay với quốc tế. Vừa rồi đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Micheal Martin nhận định Việt Nam đã không thực hiện những gì đã hứa với Hoa Kỳ khi ký kết hiệp định thương mãi với Hoa Kỳ 5 năm về trước. Ông cho rằng phần nhiều những biện pháp mà Việt Nam hứa cải tổ chỉ xảy ra trên giấy tờ chứ không xảy ra trên thực tế. Qua đó ông không tin rằng lập pháp Hoa Kỳ sẽ biểu quyết chấp thuận Việt Nam có quy chế quan hệ mậu dịch vĩnh viễn với Hoa Kỳ trước tháng 12 năm nay. Một điều kiện để Hoa Kỳ đồng ý chấp thuận Việt Nam ra nhập WTO.
Ngày mai 1/10/2005 tại hội quán Little Saigon Radio, dân biểu Hoa kỳ Lorette Sanchez sẽ tổ chức một cuộc họp báo để trình bày chi tiết cuả dự luật 415. Đạo luật này mục đích áp lực nhà cầm quyền CS phải trả lại các tài sản đã cướp đoạt cuả người dân và cuả các tôn giáo, tổ chức.
Ngày 12/9/2005, Quốc Hội Âu Châu lại còn cương quyết hơn. Quốc Hội đã cấm nhà cầm quyền CS phân phối "Sách Trắng Nhân Quyền" trong buổi tường trình về vi phạm nhân quyền ở Việt, Miên và Lào. Chỉ vì một vết "đen" trong "Sách Trắng" là đã "... dèm pha, bôi nhọ các tổ chức nhân quyền. Theo đó Quốc Hội Châu Âu không thể là diễn đàn cho sự phỉ báng như thế."
Vận động cho cuộc trưng cầu dân ý
Những việc kể trên xảy ra trong vòng một tháng tạo thêm sự tin tưởng là đề nghị của Phương Nam càng ngày càng trở nên khả thi hơn. Tuy nhiên để có một cuộc trưng cầu dân ý, chúng ta cần một cuộc vận động quần chúng đòi trưng cầu dân ý và vận động thế giới hổ trợ cho cuộc trưng cầu dân ý này.
Cụ thể xin được đề nghị điện báo Đối Thoại (http://doi-thoai.com) với uy tín và phương tiện sẵn có, cùng các tổ chức đấu tranh trong và ngoài nước, nghiên cứu một cuộc vận động chữ ký. Mục tiêu là người Việt cả trong và ngoài nước và các chính trị gia các nhân sỹ người ngoại quốc. Mục đích là làm áp lực đòi ĐCS phải chấp nhận một cuộc trưng cầu dân ý "Việt Nam nên hay không nên theo chế độ đa đảng?".
Vài lợi ích của vận động chữ ký này là:
1- giải thích cho đồng bào về các quyền công dân đã bị ĐCS chiếm đoạt,
2- về các lợi ích một xã hội đa nguyên đa đảng,
3- xây dựng một liên kết các cá nhân và các lực lượng đối lập trong và ngoài nước,
4- tạo môi trường thực tập cho các lực lượng đối lập nếu ĐCS chấp nhận trưng cầu dân ý hay bầu cử tự do,
5- mở rộng ngoại vận.
.......
Cuộc vận động chữ ký này cần liên tục để có thể đạt được mục đích đã đề ra.
Tới đây nếu quý vị cảm thấy bài viết này có ít nhiều giá trị, đề nghị cuả Phương Nam và phương cách vận động chữ ký có điều kiện khả thi, rất mong qúy vị tiếp sức phổ biến bài viết này và đóng góp vào phong trào vận động trong hoàn cảnh cuả quý vị.
Tài Liệu Tham Khảo:
Hoàng Minh Chính," Về Sửa Đổi Hiến Pháp 1992", http://www.doi-thoai.com/hmc_hoangminhchinh01.html
LM Nguyễn Văn Lý, "Phải Tẩy Chay Bầu Cử Quốc Hội Độc Đảng", http://www.doi-thoai.com/baimoi 0905_67.html
Nguyễn An thực hiện "RFA Phỏng Vấn LS Trần Thanh Hiệp: Hiến Pháp Việt Nam", http://www.doi-thoai.com/baimoi 0905_91.html
Nguyễn Đình Sài, "Quốc Kỳ Việt Nam: Nguồn Gốc và Lẽ Chính Thống", xin liên lạc Hội Chuyên Gia.
Nguyễn Hữu Đang, "Hiến Pháp Việt Nam 1946 và Hiến Pháp Trung Hoa bảo đảm tự do dân chủ như thế nao?" http://www.talawas.org
Nguyễn Thanh Giang, "Nghĩ về Hiến Pháp nước ta", http://www.doi-thoai.com/ntg _nghivehienphap.html
Nguyễn Quang Duy, "Sáu Mươi Năm Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa", http://www.doi-thoai.com/baimoi 0905_10.html
Nguyễn văn Thảo, "Sưả Thảo và Sửa Đổi Hiến Pháp và Thực Hiện Bảo Vệ Hiến Pháp", Tạp Chí Cộng Sản, Số 12 (6-2001)
Nguyễn văn Thảo, "Nhân Tố Nhà Nước Pháp Quyền, Thống Nhất Quyền Lực Trong Nhà Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà Sau Cách Mạng Tháng Tám", Tạp Chí Cộng Sản, Số 17 (9-2001)
Nguyễn Xuân Phước, "Giá Trị Pháp Lý và Tính Chính Thống cuả Hiến Pháp Việt Nam Hiện Nay Từ Cơ Sở Pháp Lý Của Hiến Pháp 1946" http://www.doi-thoai.com/baimoi 0505_09.html
Quang Thiện thực hiện Phỏng Vấn PGS-TS Phạm Duy Nghia, "60 năm Quốc Khánh 2-9, Vang Vọng Tiếng Dân", http://www.tuoitrẹcom.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=96260&ChannelID=3.
Phương Nam, "Việt Nam Đất Nước Tôi", http://www.danchimviet.com
Trần Dũng Tiến, "Góp Ý Dự Thảo Hiến Pháp: Hãy Trả Lại Nhân Dân Bản Hiến Pháp Dân Chủ - Đa Nguyên cuả Cụ Hồ" http://www.doi-thoai.com/baimoi 0505 _09.html
Trần Thanh Hiệp, "Quyền Lập Hiến và Hiến Pháp", http://www.doi-thoai.com/hienphap03.html