Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Nhân ngày 2 tháng 9 xem lại « Hồ-Sơ Gián-Điệp » Nguyễn Vũ Bình |
Trương Nhân Tuấn
Ông Nguyễn Vũ Bình đã bị CSVN kết án 7 năm tù giam và bị quản chế 3 năm tại nơi cư trú vào ngày 31 tháng 12 năm 2003 với tội-danh gián-điệp.
Ngày 2 tháng 9 năm 2005 sắp tới, CSVN cho phóng-thích trước thời-hạn một số lượng lớn tù-nhân (ân-xá), trong đó có nhiều viên-chức cao-cấp phạm tội tham-nhũng, bao che tội ác (vụ án Năm Cam). Theo lời của bà Bùi Thị Kim Ngân là vợ của ông Nguyễn Vũ Bình trả lời phỏng-vấn radio RFA ngày 31 tháng 8 năm 2005, thì danh-sách này không có tên Nguyễn Vũ Bình. Cũng theo bà Kim Ngân, ông Bình không được « ân-xá » vì ông không chịu nhận tội.
Ông Nguyễn Vũ Bình có lý hay không về thái-độ không nhận tội hiếm thấy này ? Tác-giả xin đưa ra một vài dữ-kiện mới nhằm soi lại vụ án.
I. Tiểu-sử Nguyễn Vũ Bình và sơ-lược vụ án:
Ông Nguyễn Vũ Bình, sinh năm 1968 tại Nam Định, tốt nghiệp Đại học Tổng hợp tại Hà Nội năm 1990 về kinh tế, sau đó làm việc tại Tạp chí Cộng Sản từ năm 1992 cho đến năm 2000. Ông có vợ là chị Bùi thị Kim Ngân và 2 con.
Ngày 2 tháng 9 năm 2000, Nguyễn Vũ Bình công bố bài “Việt Nam và con đường phục hưng đất nước” kèm theo lá đơn xin thành lập đảng Tự Do Dân Chủ. Ngày 30.05.2002, ông viết bài “Về Vấn Đề Biên Giới VIỆT - TRUNG”, một bài viết chỉ trích hiệp định biên giới mà Việt Nam ký kết với Trung Quốc năm 1999. Ngày 20 tháng 7 năm 2002, ông Bình đã gửi “Bản điều trần về tình trạng nhân quyền ở Việt nam” đến Tiểu Ban Về Nhân Quyền thuộc quốc hội Hoa Kỳ để tường trình về tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam. Từ đó ông bị giam tại nhà. Đến ngày 25 tháng 9 năm 2002, công an Hà Nội đã ập vào nhà và bắt anh đi.
Theo bản cáo-trạng của Viện Kiểm-Sát Nhân-Dân Hà-Nội, « chiếu theo điều 80 Bộ luật hình sự nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Nguyễn Vũ Bình phạm tội gián-điệp ». Bản cáo-trạng có nội-dung như sau :
1. Do có tư tưởng dân chủ đa nguyên, 2 tháng 9 năm 2000 – Bị cáo Nguyễn Vũ Bình đã viết đơn xin thành lập Đảng tự do dân chủ nhằm xây dựng lực lượng chống lại Đảng Cộng sản.
2. Năm 2001 liên hệ với các phần tử phản động, bất mãn như: Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương … để trao đổi viết bài nói xấu Đảng.
3. Ký tên xin thành lập "Hội nhân dân Việt nam chống tham nhũng", nhằm mục đích xây dựng lực lượng chống Đảng …
4. Móc nối với một số đối tượng phản động bên ngoài cung cấp tin tức, trao đổi về tình hình dân chủ cũng như vi phạm nhân quyền hiện nay ở Việt nam, nhằm mục đích nói xấu và chống phá nước CHXHCN Việt Nam.
5. Viết bài về vấn đề biên giới Việt Trung, cung cấp tin tức nhằm phá kế hoạch chuẩn bị ký kết vấn đề biên giới giữa Việt Nam - TQ.
6. Viết Bản điều trần về tình trạng nhân quyền tại Việt nam gửi cho Quốc hội Mỹ.
7. Nhận tiền của nước ngoài.
Phiên tòa do ông Lê Thanh Bình làm chủ-tọa (chánh-án) vào ngày 31 tháng 12 năm 2003. Đặc-biệt, trong vòng 15 tháng, từ ngày bị bắt đến ngày xét-xử, Nguyễn Vũ Bình bị cấm-cố, không được gặp bất-kỳ một người thân nào.
Kết-quả vụ án được Thông-Tấn Xã Việt-Nam loan báo như sau :
Hà Nội (TTXVN) - Ngày 31/12-2003, Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội đã mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm bị cáo Nguyễn Vũ Bình (sinh năm 1968, trú tại số nhà 26, tổ 67, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố về tội gián điệp.
Nhận định hành vi phạm tội gián điệp của bị cáo Nguyễn Vũ Bình là rất rõ ràng, tuy nhiên mức độ tác hại đã được hạn chế do hành vi của bị cáo đã bị cơ quan chức năng phát hiện, ngăn chặn kịp thời, không cần thiết phải áp dụng hình phạt theo khoản 1, Điều 80 Bộ luật Hình sự (năm 1999), HĐXX Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội đã áp dụng hình phạt theo khoản 2, Điều 80, Bộ luật Hình sự (1999) tuyên phạt Nguyễn Vũ Bình 7 năm tù giam và bị quản chế 3 năm tại nơi cư trú kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
Theo cáo trạng, từ tháng 9/2000 đến khi bị phát hiện bắt giữ (cuối tháng 9/2002), Nguyễn Vũ Bình đã soạn thảo, trao đổi thông tin, tài liệu có nội dung xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước với một số phần tử cơ hội trong nước.
Bị cáo Bình còn liên hệ bằng thư điện tử và gửi các tài liệu do Bình soạn thảo và tập hợp có nội dung xuyên tạc về tình hình dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam cho một số tổ chức phản động ở nước ngoài để những tổ chức này sử dụng vu cáo, chống lại Nhà nước Việt Nam.
II. Xét lại bản cáo-trạng :
Bản cáo-trạng này đã có nhiều người, trong nước cũng như hải-ngoại, viết bài phê-bình. Người viết chỉ nói sơ qua.
Bản cáo-trạng lên-án Nguyễn Vũ Bình là gián-điệp có một số điểm dựa lên suy-diễn vu-vơ, vô căn-cứ, không phù-hợp với tội-trạng. Thí dụ :
Điểm 1 : Do có tư tưởng dân chủ đa nguyên, 2 tháng 9 năm 2000 – Bị cáo Nguyễn Vũ Bình đã viết đơn xin thành lập Đảng tự do dân chủ nhằm xây dựng lực lượng chống lại Đảng Cộng sản.
Ngày 2 tháng 9 năm 2000, Ông Bình viết đơn xin lập đảng Tự-Do Dân-Chủ. Việc này đã không được nhà cầm-quyền CSVN chấp-thuận. Giả-sử rằng ông Bình có « tư-tưởng dân-chủ đa-nguyên » thì tư-tưởng này liên-quan gì đến hành-vi hoạt-động gián-điệp ? Mặt khác, đảng chưa thành-hình, chưa hoạt-động thì sao biết được ông Bình có ý-đồ « xây-dựng lực-lượng chống lại đảng » ?
Trong điểm 1, Nguyễn Vũ Bình chỉ có một hành-động duy-nhất : làm đơn xin lập đảng. Làm sao có thể kết-luận việc « làm đơn xin lập đảng » có liên-quan đến hành-vi làm « gián-điệp » ?
Điểm 2 : Năm 2001 liên hệ với các phần tử phản động, bất mãn như: Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương … để trao đổi viết bài nói xấu Đảng.
Cũng vậy, việc « liên-hệ với các phần-tử bất-mãn » để « nói xấu đảng » cũng không liên-quan gì đến hành-vi làm « gián-điệp ». Hơn nữa quí ông Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương được người trong nước và thế-giới bên ngoài biết đến như những nhà tranh-đấu dân-chủ cho Việt-Nam. Không thể gán-ép cho rằng những người yêu-chuộng dân-chủ là gián-điệp được. Những người này không thấy tiếp tay cho nước nào để phương-hại đến Việt-Nam. Mục-đích tranh-đấu của những người này chỉ nhắm đến một mục-tiêu quốc-gia Việt-Nam giàu mạnh. Ông Bình giao-du với những như vậy thì sao gọi đó là hành-vi gián-điệp ?
Điểm 3 : Ký tên xin thành lập "Hội nhân dân Việt nam chống tham nhũng", nhằm mục đích xây dựng lực lượng chống Đảng …
Điểm này có điều lý-thú. Rõ-ràng đảng CSVN tự-thú rằng họ là một đảng tham-nhũng. Đơn xin thành-lập hội chống tham-nhũng vì vậy bị bác bỏ. Việc này đã không làm ai ngạc-nhiên.
Nếu ông Bình có ý lập hội để chống tham-nhũng, (giả-sử để chống đảng tham-nhũng), thì cũng đâu thể nào gán-ép ông ta vào tội « gián-điệp » được ? Vì gián-điệp có hành-vi thông-đồng với nước ngoài để làm nguy-hại cho quốc-gia. Hành-vi chống tham-nhũng chỉ có lợi cho quốc-gia mà thôi.
Điểm 4 và 7 :
4 : Móc nối với một số đối tượng phản động bên ngoài cung cấp tin tức, trao đổi về tình hình dân chủ cũng như vi phạm nhân quyền hiện nay ở Việt nam, nhằm mục đích nói xấu và chống phá nước CHXHCN Việt Nam.
7 : Nhận tiền của nước ngoài.
Điểm 4, chưa bao giờ, trên thế-giới này, nói về dân-chủ và nhân-quyền là một hành-vi « gián-điệp ». Nhà nước CSVN đã ký vào bản Tuyên-Ngôn Quốc-Tế Nhân-Quyền, lẽ ra không thể có một luận-cứ như thế để kết-án ông Bình. Nói như thế là chà đạp lên bản TNQTNQ mà họ đã ký.
Qua điểm 4 của cáo-trạng, nhà nước CSVN cho thấy một cách rõ-rệt đã có chủ-trương vi-phạm nhân-quyền.
Điểm 7 là một cáo-trạng vu-vơ. Nếu nhận tiền nước ngoài là gián-điệp thì có thể hàng triệu dân VN sẽ là gián-điệp.
Đáng lẽ phải xác-quyết cụ-thể rằng : nhận tiền nước ngoài để làm phương-hại đến quốc-gia.
Điểm 5, 6 :
5 : Viết Bản điều trần về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam gửi cho Quốc hội Mỹ.
6 : Viết bài về vấn đề biên giới Việt Trung, cung cấp tin tức nhằm phá kế hoạch chuẩn bị ký kết vấn đề biên giới giữa Việt Nam - TQ.
Ta thấy, ngày 30 tháng 5 năm 2002, ông Bình viết bài về « biên-giới Việt-Trung ». Ngày 20 tháng 7 năm 2002 ông Bình viết bản « điều-trần về tình-trạng nhân-quyền tại Việt-Nam gởi Quốc-Hội Mỹ ».
Ngày 25 tháng 9 năm 2002 ông Bình bị bắt.
Vì vậy, chắc-chắn ông Bình bị bắt vì hai điều 5 và 6. Các điều khác, như đã phân-tích sơ-lược, chỉ gượng-ép đưa vào, nhằm mục-đích quan-trọng hóa vấn-đề. Việc làm này CSVN không thành-công vì nó chỉ cho người ta thấy cái lố-bịch của hệ-thống pháp-lý của VN.
Khi ông Nguyễn Vũ Bình bị kết án, tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam đã đưa ra một bản tuyên bố, theo đó tòa đại sứ Mỹ nói rằng không ai có thể bị tù đày chỉ vì đã bày tỏ quan điểm của mình một cách ôn hòa.
Bản tuyên bố cho biết thêm rằng bản án dành cho ông Bình vi phạm những tiêu chuẩn quốc tế trong việc bảo vệ nhân quyền, quyền tự do bày tỏ cảm nghĩ cá nhân và tự do thông tin.
Phải chăng Nguyễn Vũ Bình bị kết án « làm gián-điệp » do bản điều-trần gởi cho Quốc-Hội Hoa-Kỳ ? Rõ-rệt trong việc này có sự hiện-hữu của một quốc-gia khác. Quốc-gia này là Hoa-Kỳ. Nhưng bản điều-trần mà ông bình viết là do Quốc-hội Hoa-Kỳ yêu-cầu hay tự ý ông Bình, vì bất-mãn tình-trạng nhân-quyền trong nước bị đàn-áp mà viết lên ? Cho dầu thế nào cũng không thể gán tội « gián-điệp » cho ông Bình được.
Điều 6 liên-quan về vấn-đề biên-giới (trên đất liền). Ông Bình viết bài vào ngày 30 tháng 5 năm 2002. Hiệp-Ước biên-giới trên đất liền ký vào ngày 30 tháng 12 năm 1999, Quốc-Hội thông-qua năm ngày 9 tháng 6 năm 2000. Hiệp-định phân-định vịnh Bắc-Việt thì ký ngày 25 tháng 12 năm 2000. Ta thấy bài viết này chỉ được viết sau hai hiệp-định biên-giới rất lâu. Nhà nước CSVN không thể qui tội ông Bình « cung cấp tin tức nhằm phá kế hoạch chuẩn bị ký kết vấn đề biên giới giữa Việt Nam – TQ » được. Sau bài viết của Ông Bình, CSVN và Trung-Cộng không có ký-kết thêm hiệp-ước nào về biên-giới. Nhưng ông Bình có tiết-lộ bí-mật quốc-gia trong bài viết hay không ?
Xét tổng-quát 7 điểm trong bản cáo-trạng, đến 5 điểm là vu-cáo hàm-hồ, chỉ có ở tòa-án một nước độc-tài toàn-trị. Điểm 5 liên-quan đến cường-quốc Hoa-Kỳ. Điểm 6 có thể liên-quan đến việc tiết-lộ bí-mật quốc-gia.
Từ lúc bị kết-án tại tòa-án nhân-dân Hà-Nội cho đến lúc kháng-cáo vào tháng 5 năm 2004, ông Nguyễn Vũ Bình một mực không chịu nhận tội « làm gián-điệp ». Thái-độ này hợp-lý hay không ?
Bài viết này không đề-cập đến điểm 5 vì có liên-quan đến Hoa-Kỳ. Nếu ông Bình là một « nhân-viên » của Hoa-Kỳ - điều này chắc-chắn không thể có - thì Hoa-Kỳ phải có trách-nhiệm về hành-vi của nhân-viên mình. Nếu ông Bình không phải là nhân-viên của Hoa-Kỳ thì Hoa-Kỳ cũng có trách-nhiệm về việc tù-tội của ông Bình. Không phải Hoa-Kỳ luôn khuyến-khích việc tố-cáo các vụ vi-phạm nhân-quyền trên thế-giới đó sao ?
Người viết bài này chỉ nghiên-cứu nội-dung bài viết về biên-giới của Nguyễn Vũ Bình để thử xem những gì mà ông Bình viết có làm nguy-hại đến quốc-gia Việt-Nam hay không để thử kết-kuận việc ông Bình không nhận tội có hợp-lý hay không.
III. Nội-dung bài viết « VỀ VẤN ĐỀ BIÊN GIỚI VIỆT – TRUNG » của Nguyễn Vũ Bình.
Bài viết này có các đoạn liên-quan đến đường biên-giới Việt-Trung như sau :
- Đất đai (trên vùng biên-giới) bị mất có thể không chỉ bắt đầu từ hiệp định mới ký kết mà từ nhiều năm trước đó.
- Quá trình đất đai, lãnh thổ bị Trung Quốc lấn chiếm có thể coi là hệ quả tổng hợp của sự mất cảnh giác, của cái giá phải trả đổi lấy sự ủng hộ, giúp đỡ của Trung Quốc trong cuôc chiến tranh và sau cùng là của những kẻ dùng đất đai của tổ tiên cha ông để lại đổi lấy quyền lực của cá nhân và tập đoàn cầm quyền.
- Đảng cộng sản đã đặt các An toàn khu sát dọc biên giới Việt - Trung và công bố đó là phần đất đai của Trung Quốc. Ngoài sự mất cảnh giác, chúng ta cũng hiểu được rằng sức ép từ phía Trung Quốc với những thủ đoạn rất tinh vi và khôn khéo đã đẩy Đảng cộng sản Việt Nam phải đánh đổi lấy sự ủng hộ và giúp đỡ của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh vừa qua .
Những chi-tiết liên-quan đến biên-giới trên đây hoàn-toàn đúng. Phần nghiên-cứu chứng-minh việc này dài trên 30 trang A4, sẽ công-bố sau bài viết này. Quí độc-giả cũng có thể đọc phần này trong chương 8 của quyển sách « Biên-Giới Việt-Trung 1885-2000 » của tác-giả sẽ phát-hành nay mai.
Những chi-tiết trên trích trong bài viết của Nguyễn Vũ Bình có thể gọi là bí-mật quốc-gia không ?
Ta thấy sự tiết-lộ này không làm phương-hại đến an-ninh quốc-gia nhưng nó đã làm tổn-thương rất lớn đến uy-tín của đảng CSVN. Đây không phải là một bí-mật quốc-gia mà là một bí-mật của đảng CSVN. Thực-tế bài viết này nhằm tố-cáo tập-đoàn bán-nước CSVN trước quốc-dân.
IV. Kết-luận :
Tất-cả những chi-tiết trong bài viết về biên-giới của Nguyễn Vũ Bình đều đúng sự thật.
CSVN bán nước là việc có thật và một phần không nhỏ đất-đai nhượng từ thời Hồ Chí Minh.
Những vùng đất bị nhượng cho Tàu tương-ứng với các đoạn biên-giới « đường biên-giới theo đường đỏ » trong Hiệp-Ước Phân-Định Biên-Giới ký ngày 30 tháng 12 năm 1999.
Ông Nguyễn Vũ Bình vì thế không thể là một tên gián-điệp nguy-hiểm phục-vụ cho ngoại-bang như CSVN đã kết-án.
Ngày 2 tháng 9, CSVN đại-xá rất nhiều phạm-nhân, trong đó có nhiều phạm-nhân không thể được ân-xá, nhưng ông Bình không có tên trong danh-sách. Điều này không làm người viết ngạc-nhiên vì chính Nguyễn Vũ Bình đã lột mặt nạ những tên tay sai ngoại-bang, những tên gián-điệp nguy-hiểm nhất, đã bán đất và biển của tổ-tiên cho kẻ thù. Những tên gián-điệp bán nước đó chính là tập-đoàn CSVN.
Bản án dành cho ông Bình là một bản án thách-đố lương-tâm quốc-dân Việt-Nam.
Ông Nguyễn Vũ Bình không nhận tội « gián-điệp » là chuyện đúng.
Ta thấy ông Bình là một người nồng-nàn yêu nước và vô cùng can-đảm.
Trương Nhân Tuấn
1-9-2005
Ghi chú : Những chữ nghiêng hay viết đậm trích từ các tài-liệu tồn-trữ ở trang web www.ykien.net ; phần hồ-sơ Nguyễn Vũ Bình.