Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Nguyễn Trọng Tín Ðôi điều băn khoăn cùng Nguyên Ngọc |
26.9.2006
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8156&rb=0306
Nguyễn Trọng Tín
A. Văn hóa và
mất nước
Nguyên Ngọc không chỉ là nhà văn, nhà báo và nhà nghiên cứu giáo dục, ông còn là
nhà nghiên cứu văn hóa. Người viết bài này đã nhiều lần được đọc bài của ông và
thi thoảng cũng tìm thấy đôi điều thú vị. Có một nhân vật thường được ông nhắc
tới với lòng ngưỡng mộ sâu sắc, đó là cụ Phan Châu Trinh. Lão nhà văn luôn đánh
giá cao chí sĩ họ Phan và nhận định rằng: tư tưởng của cụ vượt thời gian, xuyên
qua cả mấy thời đại. Ông dẫn lời của học giả Hoàng Xuân Hãn: “Sau khi phong
trào Cần vương bị đàn áp tan rã hoàn toàn, Phan Châu Trinh đã đi sâu nghiên cứu
những nhược điểm cơ bản về văn hóa xã hội Việt Nam, cụ thấy rõ nguyên nhân sâu
xa của sự thua kém về văn hóa xã hội của xã hội ta so với phương Tây đã đưa đến
mất nước, bị đô hộ ngày càng khốc liệt…”.
Nguyên Ngọc khẳng định: Phân tích này của Hoàng Xuân Hãn là hết sức quan
trọng. Khác với tất cả các bậc thức giả, các nhà yêu nước lớn đương thời,
Phan Châu Trinh là người đầu tiên đi tìm và tìm thấy nguyên nhân sâu xa “đã đưa
đến mất nước và bị đô hộ ngày càng khốc liệt” không phải ở đâu khác mà là chính
ở trong văn hóa, ở “những nhược điểm cơ bản về văn hóa xã hội của
xã hội ta so với phương Tây”. Ðây là một chuyển biến có ý nghĩa cách mạng
trong phương hướng tìm đường cứu nước – mà trước hết và quan trọng nhất là tìm
đúng nguyên nhân mất nước và thất bại đau đớn của tất cả các phong trào cứu nước
trước đó mặc dầu vô cùng anh dũng, lẫm liệt – một nhận thức có tính cách mạng và
hết sức cơ bản không chỉ về con đường cứu nước, mà về lâu dài, cả về con đường
phát triển của dân tộc. Phan Châu Trinh cho rằng sở dĩ chúng ta thua Pháp, mất
nước, là vì chúng ta thua họ một thời đại. Suốt mấy nghìn năm lịch sử trước đó,
trong tất cả các cuộc chống xâm lược của Trung Hoa, rất nhiều lần chúng ta đã
phải ở trong tình thế chênh lệch lực lượng rất hiểm nghèo mà bất lợi luôn
nghiêng về phía ta. Song dầu có chênh lệch đến mấy về lực lượng, thì giữa chúng
ta với họ vẫn là đồng đại. Ðấy đều là những cuộc xâm lược và chống xâm lược
trong nội bộ của chế độ phong kiến phương Ðông. Lần này khác hẳn: chúng ta đối
đầu với những lực lượng cao hơn hẳn chúng ta cả một thời đại. Sự thất bại là tất
yếu.
… Ông nhận ra sự lạc hậu về văn hóa cả một thời đại của chúng ta so với đối
phương. Ông hiểu rằng đối mặt với phương Tây là chúng ta đối mặt với cả một thời
đại khác về văn hóa, mới mẻ và tiên tiến. Muốn cứu nước, phải khắc phục cái
khoảng cách về thời đại đó, phải tự thay đổi dân tộc mình, đưa dân tộc vượt lên
hẳn một thời đại mới, để từ đó, trong cuộc đối đầu, đọ sức với họ, giữa ta với
họ là những đối thủ bình đẳng, ngang bằng nhau về thời đại. Ðây là một bước tiến
vĩ đại, một cuộc cách mạng trong tư duy. Về ý nghĩa, nó đưa công cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc chính thức bước sang thời kỳ hiện đại. Nó chủ trương tạo nên
một cơ sở văn hóa xã hội mới có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp cách mạng
Việt Nam. (Tia sáng, 5/2005, "Tính
cập nhật kỳ lạ của một tư tưởng lớn" & Tia sáng 2002, "Nhà cải cách
giáo dục lớn đầu thế kỷ XX")
Trong đời sống văn hóa văn nghệ và báo chí ở Việt Nam thời hiện tại, nhà văn
Nguyên Ngọc là cây đa, cây đề. Ông được nhiều người kính trọng. Trong giới trí
thức dân tộc của thế kỷ 20 (và còn nhiều năm của thế kỷ 21 này nữa) cụ Hoàng
Xuân Hãn là cây thủy tùng cao vời vợi. Người viết bài này cũng rất muốn tin
những nhận định trên của hai ông. Tuy nhiên, có những sự kiện khác đã buộc chúng
tôi phải đi tìm lại câu trả lời.
Trong lời nói đầu cho cuốn sách mình dịch và xuất bản năm 2003 người viết bài
này đã từng viết: Tuy nhiên, khi bàn đến văn hóa chúng ta cần phải lưu ý một
điều là đã có quá nhiều định nghĩa về văn hóa của các nhà nghiên cứu, các vị
giáo sư mũ cao áo dài mà nếu đọc chúng riêng rẽ thì hẳn ai cũng phải gật gù thừa
nhận rằng đấy toàn là lời châu ngọc cả nhưng khi đặt chúng cạnh nhau thì mỗi
định nghĩa khuôn vàng thước ngọc kia lại chỉ có vẻ như là từng mặt cắt khác nhau
của “Tòa lâu đài văn hóa”. Vậy nên, có thể coi như việc có quá nhiều định nghĩa
về văn hóa cũng đồng nghĩa với việc chưa minh định được văn hóa là gì vậy.
Kẻ sĩ đã vậy, còn chúng ta – những kẻ quần nâu áo vải hay con cháu của những kẻ
quần nâu áo vải, trước hai chữ văn hóa cao sang - chỉ thấy một màn mù sương lãng
đãng. Chính vì thế, bác bỏ nhận định trên theo lối trực tiếp là rất khó khăn.
Chúng tôi xin chọn cách thứ hai, gián tiếp.
Lịch sử ghi nhận rằng năm 1858 Việt Nam rơi vào tay Pháp. Ở thời điểm đó, đúng
như Nguyên Ngọc khẳng định, chúng ta thua kém người Pháp cả một thời đại. Chính
điều này, theo Phan Châu Trinh, Hoàng Xuân Hãn và do đó, theo ông, là nguyên
nhân.
Nhằm bảo vệ cho quan điểm cứu nước bằng văn hóa của mình, chống lại quan điểm
đấu tranh giành lại tự do cho tổ quốc bằng bạo lực cách mạng của một số nhân sĩ
yêu nước khác, chí sĩ họ Phan đã không ngần ngại ngoảnh mặt trước một thực tế
lịch sử: một đội quân đông đảo, gươm giáo sáng ngời, súng thần công bệ vệ trên
thành cao với hào sâu bốn phía, đã thúc thủ nhanh chóng trước một đội quân nhỏ
vác súng trường tiến vào từ tàu đồng trên sông Hồng, sau những loạt đạn đại bác
vang trời công phá thành Hà Nội. Ở đây, trong trường hợp này, nguyên nhân mất
nước là hết sức rõ ràng: ưu thế vượt trội về quân sự của người Pháp.
Không muốn nhìn vào thực tế lịch sử này, Phan Châu Trinh bấu víu vào văn hóa
– một thứ mà như người viết bài này đã nói ở trên – đến kẻ sĩ còn chưa tận
tường. Trong khi đó, trên thực tế thì ai cũng cảm nhận được rằng về văn
hóa chúng ta thua kém họ cả một thời đại, thế nên lý giải của ông được mọi người
đồng thuận suốt một thời gian không hề ngắn.
Ðầu thế kỷ 20, nhiều phong trào cứu nước thất bại nặng nề. Ðến lúc này chúng ta
vẫn còn thua sút họ rất xa về văn hóa, vẫn là khoảng cách cả một thời đại. Vì
vậy, vẫn theo Nguyên Ngọc, đây là nguyên nhân.
Chúng tôi không rõ là chúng ta có thể coi nhận định ở trên của học giả Hoàng
Xuân Hãn (mà Nguyên Ngọc hết lòng ủng hộ) như là một quy luật xã hội mang tính
phổ quát hay chỉ đúng cho riêng nước Việt Nam ta (mà tại sao chỉ đúng cho Việt
Nam)? Nếu điều này có tính phổ quát thì, dù có muốn, cũng không thể tin được.
Bởi lẽ, có những sự kiện lịch sử đã thẳng thừng bác bỏ nó.
Nếu như văn hóa Trung Hoa, Ấn Ðộ và nhiều quốc gia khác ở châu Âu là những ngọn
núi cao sừng sững ngạo nghễ giữa đất trời thì văn hóa của các bộ lạc du mục
người Mông Cổ chỉ như những sợi lông cừu bay là đà trên các thảo nguyên mênh
mông. Vậy nhưng, các quốc gia có những nền văn hóa đầy tự hào này đã phải ngậm
ngùi nuốt lệ. Vó ngựa Mông Cổ đạp bằng hầu hết các thành trì từ Á sang Âu, lập
nên một đế quốc rộng lớn chưa từng có.
Vậy thì, mất nước không phải là hậu quả của những cuộc đối đầu về văn hóa. Thực
tế lịch sử khẳng định hùng hồn rằng: thua kém, ngang bằng hoặc cao hơn hẳn về
văn hóa cũng có thể mất giang sơn như nhau.
Rốt cuộc, sự mất nước bi thương là do đâu? Theo chúng tôi, nó là hậu quả của các
cuộc đối đầu về quân sự. Lấy trường hợp mất nước của nhà Tống làm ví dụ. Như đã
nói ở trên, văn hóa của những bộ lạc Mông Cổ thua nền văn hóa Hán cả một thời
đại, nhưng binh lực và phương tiện chiến tranh của hai bên lại là đồng đại. Vũ
khí trên chiến trường của hai phía chỉ là cung tên, giáo mác còn phương tiện
chiến tranh cùng lắm thì cũng chỉ là chiến xa do ngựa kéo. Tuy nhiên, quân đội
của người Mông Cổ là đội quân nhà nghề thiện chiến với binh hùng tướng mạnh. Ðó
là nguyên nhân mất nước của dân tộc Trung Hoa thời nhà Tống.
Trở lại với trường hợp của chúng ta, năm 1858 người Việt thua người Pháp trên
mọi phương diện. Ðến năm 1954, văn hóa xã hội của chúng ta vẫn còn thua rất xa
người Pháp (điều này đến bây giờ vẫn đúng) nhưng ở Ðiện Biên Phủ, tướng Giáp với
tài năng quân sự, với binh lực áp đảo người Pháp về quân số, với pháo hạng nặng
của Trung Quốc, với Ca-chiu-sa của Nga (lần đầu tiên có mặt ở Việt Nam và chỉ
xuất hiện trong ba ngày cuối cùng của chiến dịch) đã đập tan tập đoàn cứ điểm
của tướng Ðờ-cát. Tuy khoảng cách về văn hóa rất xa nhưng trên chiến trường thì
vũ khí, phương tiện chiến tranh đã tương đồng.
Là người ngưỡng mộ Phan Châu Trinh, thế nên Nguyên Ngọc rất lấy làm tâm đắc với
nhận định của học giả Hoàng Xuân Hãn. Tuy vậy, ít ai để ý rằng, trong quá trình
truyền bá tư tưởng của chí sĩ họ Phan, chính Nguyên Ngọc cũng chẳng nhất quán
trong nhận thức. Bằng cớ là trong bài viết mới đây ông lại khẳng định: đầu
thế kỷ 20, Phan Châu Trinh đã tìm ra nguyên nhân mất nước chính trong nền
giáo dục hư học tệ hại (!?), (Tia sáng, 20/7/2006,
"Giáo
dục, sản phẩm bị động hay tác giả chủ động"). Vậy là, khi bàn về văn hóa
Nguyên Ngọc xác định nguyên nhân mất nước ở văn hóa; khi bàn về giáo dục ông lại
“phát hiện” ra rằng nguyên nhân mất nước là ở giáo dục (!). Chúng tôi cho rằng
đặt dấu bằng giữa văn hóa và giáo dục là không hợp lí. Giáo dục là một thành tố
của văn hóa, là bộ phận hợp thành văn hóa.
Không chỉ có vậy, trước đó vào năm 2004 trên Tia sáng, trong bài “Nghĩ
thêm về bản sắc” Nguyên Ngọc viết: “Thời bấy giờ từng có một con người không
chỉ không bảo thủ ôm chặt lấy cái gọi là “bản sắc dân tộc” mà thậm chí còn coi
chính cái đó (văn hóa) là nguyên nhân mất nước. Người ấy là Phan Châu Trinh …
Phan Châu Trinh là người đầu tiên “đã đi sâu nghiên cứu những nhược điểm cơ bản
về văn hóa xã hội Việt Nam, cụ thấy rõ nguyên nhân sâu xa của sự thua kém về văn
hóa xã hội của xã hội ta so với phương Tây đã đưa đến mất nước, bị đô hộ ngày
càng khốc liệt…”. Phan Châu Trinh đã đi xa hơn tất cả: ông đi đến tận văn hóa.
Ông mạnh mẽ đòi hỏi vứt bỏ đi cái vẫn được gọi là bản sắc, thay đổi nó đi, tạo
nên bản sắc mới, tân tiến, kịp với thế giới.
Thực tình chúng tôi không hiểu vì sao nhà nghiên cứu văn hóa Nguyên Ngọc lại
đánh đồng bản sắc dân tộc với văn hóa. Vừa mới viết ở đoạn trên:
bản sắc có thể không chỉ gồm những gì là tích cực, tốt đẹp nhất, trong bản
sắc cũng có thể có những mặt nhược điểm này nọ, thế rồi ông đòi vứt bỏ bản
sắc (cả cái tích cực, tốt đẹp lẫn nhược điểm này nọ!). Ðã vứt đi
hết ráo trọi rồi thì lấy gì để thay đổi nữa đây? Nếu bản sắc dân tộc chỉ toàn là
những gì tân tiến thì tính kế thừa, tính dân tộc chỉ còn là hoài niệm và mọi nền
văn hóa sẽ na ná nhau, thế thì xin đừng nói đến bản sắc nữa. Bản sắc thường được
hiểu nôm na là những gì làm ta khác và không lẫn với người. Nay mới thấy Nguyên
Ngọc nói rằng cần phải thế nọ thế kia với bản sắc để kịp với thế giới (!)
B. Giáo dục và bệnh thành tích trong giáo dục
a. Giáo dục
Trong bài “Mười
vấn đề lớn của giáo dục” (Một
góc nhìn của trí thức, tập 5, Nhà Xuất bản Trẻ, 2005) Nguyên Ngọc viết:
… ngay từ trong nhà trường phổ thông, nội dung và phương pháp dạy nhất thiết
phải từ bỏ lối kinh kệ cố nhồi nhét cho thật nhiều kiến thức, mà chủ yếu phải
trang bị được cho người học lòng say mê học tập, trí tò mò, ham hiểu biết vô tận
… Ở đây, theo chúng tôi cần phải xác định lại cho rõ điều gì có thể
trang bị được cho học sinh và điều gì không. Giáo dục học đường chỉ có
thể trang bị kiến thức – thứ mà thầy cô giáo có thể truyền thụ thông qua giảng
dạy. Lòng say mê học tập, trí tò mò, ham hiểu biết là những yếu tố nội sinh, ai
có thể trang bị được cho học trò?
Khi bàn về triết lý giáo dục, ông khẳng định: “Trong khi đó có một cách dạy
và học khác hẳn, trên cơ sở một triết lý giáo dục ngược hẳn lại: trang bị cho
con người không phải chủ yếu là kiến thức (vì kiến thức thì vô tận, càng ngày
càng vô tận, lại luôn biến đổi và phát triển, và trên đời này không ai có thể
độc quyền chân lý cả), mà là trang bị cho họ phương pháp để họ tự biết và dám tự
mình chiếm lĩnh lấy kiến thức, tự mình đi tìm lấy những gì mình tin là chân lý,
và sống và làm việc theo những chân lý đó” ("Cần thay đổi triết lý giáo
dục", SÐD, trang 198-199).
Thực ra thì đây không chỉ là quan điểm riêng của Nguyên Ngọc mà cũng là quan
điểm của một tập thể gồm nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu văn hóa, giáo dục
(có nhiều tên tuổi lớn như Phan Ðình Diệu, Hồ Ngọc Ðại, Nguyễn Văn Ðạo, Phạm Duy
Hiển, Phan Huy Lê, Trần Văn Thọ, Bùi Trọng Liễu, Phạm Phụ …), được nhà văn ghi
lại dựa trên bản tổng hợp ý kiến thảo luận tại seminar về cải cách giáo dục do
giáo sư Hoàng Tuỵ trình bày ngày 8/5/2004: “Giáo dục không chỉ có mục đích
đem lại cho người học nhiều tri thức, mặc dầu tri thức là quan trọng, nhất là
trong thời cách mạng công nghệ, mà còn quan trọng hơn nhiều là nhằm tạo cho
người học ý thức và thói quen suy nghĩ độc lập, tự nghiên cứu khám phá sáng tạo,
tự phát hiện và giải quyết vấn đề, dám và biết tự mình đi tìm tri thức, đi tìm
chân lý, tự tin ở tri thức và chân lý do tự mình khám phá ra, và khi ra đời biết
và dám sống theo những điều tự mình khám phá và tin tưởng” ("Mười vấn đề lớn
của giáo dục", SÐD, trang 191-192) Chúng tôi cho rằng giáo dục phổ thông và giáo
dục đại học có đối tượng không như nhau. Thành ra, một triết lý chung cho cả hai
cấp học này là rất cần được xem xét lại. Triết lý nói trên chỉ phù hợp cho giáo
dục đại học mà thôi.
Ở cả hai cấp học, mục tiêu đầu tiên đều là cung cấp tri thức cho người học, chỉ
không giống nhau về cách thức. Nói cách khác, phương pháp mà người thầy giúp học
sinh lĩnh hội tri thức là không như nhau. Ở cấp học phổ thông ta rất cần một sự
kết hợp linh hoạt giữa hoạt động truyền thụ tri thức của người thầy (học sinh
đóng vai trò bị động) và hoạt động tự khám phá tri thức của người học dưới sự
dẫn dắt của thầy cô (học sinh chủ động), theo từng cấp học (TH, THCS, THPT) và
càng lên cao thời lượng cho hoạt động tự khám phá tri thức càng nhiều. Ngược
lại, ở bậc đại học, hoạt động truyền thụ tri thức cho sinh viên của người thầy
trở thành thứ yếu. Chủ yếu là hoạt động tự khám phá tri thức của sinh viên dưới
sự gợi mở, hướng dẫn của thầy và không chỉ khám phá tri thức đã có mà bắt đầu
tìm tòi tri thức mới. Ðây chính là hoạt động nghiên cứu của sinh viên.
Như thế, mục đích tiếp theo của giáo dục phổ thông – bước đầu giúp học
sinh dần hình thành ý thức và thói quen suy nghĩ độc lập, tự mình
khám phá tri thức (thể hiện qua khả năng tự học, tự tìm tòi) – sẽ được tiếp nối
ở bậc cao hơn, đại học. Ðây là một sự chuyển tiếp hợp lý, không gây sốc cho sinh
viên năm nhất như hiện nay. Và ở bậc học cao hơn này, sinh viên không chỉ có khả
năng tự học, tự tìm tòi mà (bước đầu) còn tạo lập khả năng nghiên cứu.
Một vấn đề tưởng như không có gì để bàn cãi nhưng cũng phải xác định rõ là:
kiến thức thì vô tận … (như Nguyên Ngọc đã viết) nhưng cần nhận thức sâu sắc
rằng, tri thức được dạy ở nhà trường phổ thông dứt khoát phải là tri thức phổ
thông. Giả sử rằng chúng ta giới hạn một khoảng thời gian khảo sát là độ chừng
50 năm (từ 1960 đến 2010 chẳng hạn). Trong quãng thời gian này, tri thức nhân
loại tăng lên rất nhiều lần (rất tiếc chúng tôi không có số liệu) nhưng tri thức
phổ thông dạy cho học sinh không thay đổi bao nhiêu. Nói thế để thấy rằng, ở cấp
học này kiến thức tương đối ổn định và thực ra cũng chỉ cần đến thế.
Với bậc học phổ thông, xin nói thêm hơi dài dòng như thế này: phương cách tiếp
cận tri thức ở bậc học này nhất thiết phải tương hợp với năng lực nhận thức và
tâm sinh lý của đối tượng. Không thể nào hướng đối tượng chỉ đi theo con đường
tự khám phá chân lý một khi đối tượng ấy chưa đến tuổi trưởng thành. Vả lại, một
khi có nhiều kiến thức phổ thông buộc phải công nhận thì cũng rất nên hạn chế
việc hướng các em tự mình khám phá, tự mình đi tìm tri thức (đành rằng ở bậc đại
học cũng có một số kiến thức mà sinh viên buộc phải chấp nhận nhưng không
nhiều). Có lẽ cũng cần phải nói thêm rằng có hai loại tri thức phổ thông: loại
thực sự phổ thông và loại… chúng ta muốn nó là phổ thông! Nói cách khác, có
nhiều kiến thức dạy ở bậc phổ thông không đơn giản và dễ hiểu chút nào cả nếu
như muốn hiểu tận tường. Nếu để ý chúng ta sẽ thấy đó là những kiến thức học
sinh buộc phải chấp nhận (không chứng minh). Vì thế, cần phải phân loại kiến
thức nào thì thầy cô giáo có thể hướng dẫn các em tự khám phá ở bậc học phổ
thông: chẳng hạn như tri thức về thế giới gần gũi với các em như các loài cỏ
cây, các loài động vật, các hiện tượng vật lý đơn giản, các phép toán dùng trong
đo đạc, tính toán v.v…
Trong bài “Giáo dục, sản phẩm…” Nguyên Ngọc viết: “Giáo dục cũng chỉ là một
ngành đương sự như các ngành đương sự khác, không thể hơn. Theo tôi, có thể vấn
đề nằm ở chính chỗ này: đối với xã hội, giáo dục có phải cũng chỉ là một ngành
“đương sự” trong cái chung là xã hội như bao nhiêu ngành khác không? Cũng chỉ là
sản phẩm tất yếu của xã hội, xã hội nào thì giáo dục ấy, xã hội hư thì giáo dục
hư, không thể nào khác? Hay có thể ngược lại: giáo dục không chỉ là sản phẩm tất
yếu của xã hội, mà còn là, có thể là, phải là, và đó là thiên chức lớn lao nhất
của nó: tác giả xã hội. Chính nó phải chủ động đẻ ra xã hội chứ không phải chỉ
có thể là con đẻ bị động một bề của xã hội. Sai lầm lớn nhất của giáo dục lâu
nay chính là ở chỗ này: nó cam tâm chịu làm sản phẩm xuống cấp của một xã hội
xuống cấp, không những không chạy chữa, không vực xã hội ấy lên, dựng xã hội ấy
dậy, không bằng thiên chức và khả năng riêng của nó, làm cuộc cách mạng đạo đức
ghìm giữ sự trong sạch, và trong sạch hóa, cải tạo xã hội”
Chúng tôi buộc phải nói rằng, nhà nghiên cứu giáo dục Nguyên Ngọc hiểu giáo dục
còn xơ cứng. Giáo dục, theo cách hiểu của ông, chỉ là giáo dục gói gọn trong một
ngành do Nguyễn Thiện Nhân làm bộ trưởng. Ông quên rằng, hoạt động giáo dục vừa
diễn ra trong hệ thống giáo dục vừa diễn ra ở bên ngoài hệ thống ấy. Giáo dục
trong nhà trường đào tạo ra con người, không sai. Nhưng góp phần đào tạo nên
những con người ấy còn là cả xã hội bên ngoài (chúng ta tạm chấp nhận cách hiểu
tách giáo dục khỏi xã hội như lâu nay). Ðặc biệt, nhà trường chỉ giáo dục con
người khi họ còn ngồi trên ghế nhà trường, sau đó thì gần như là không. Nhưng sự
giáo dục của xã hội thì liên tục, không ngưng nghỉ, khi người ta còn cắp sách
đến trường cũng như khi họ đã ra lăn lộn với đời. Xã hội không giáo dục học trò
như nhà trường, xã hội giáo dục công dân.
Tóm lại, giáo dục là không chỉ của riêng một ngành. Vậy nên, cho rằng giáo dục
(theo cách hiểu của Nguyên Ngọc) có chức năng đẻ ra xã hội (thiên chức!) là có
phần tùy tiện. Và, nếu coi giáo dục (hiểu theo nghĩa rộng) là tác giả của xã hội
thì hẳn nhiên một số ngành, chẳng hạn như chính trị học, chẳng còn lý do để mà
tồn tại!
b. Bệnh thành tích trong hệ thống giáo dục
Nguyên Ngọc viết: “… nhưng phụ huynh cũng là đồng tác giả của căn bệnh này,
chẳng kém. Không chữa ở phụ huynh, thì bệnh cũng cứ nan y như thường. Và nói phụ
huynh tức là nói xã hội, xã hội không chữa thì chỉ giáo dục thôi cũng chẳng làm
gì được.” Người viết bài này đã có lần chỉ ra nguyên nhân của bệnh thành
tích trong hệ thống giáo dục ở ta, bằng những phân tích mổ xẻ. Việc đưa ra nhận
định: “phụ huynh cũng là đồng tác giả của căn bệnh này” mà không đưa ra
bất cứ luận điểm, luận cứ nào không phải là phương cách có tính thuyết phục. Tai
hại hơn, Nguyên Ngọc đã vô tình đặt dấu bằng giữa phụ huynh và xã hội. Sẽ là hợp
lý nếu ông coi phụ huynh là gia đình (xét trong mối tương quan: nhà trường, gia
đình và xã hội). Và sẽ hợp lý hơn nếu ông coi bệnh thành tích trong hệ thống
giáo dục là biểu hiện của bệnh thành tích trong xã hội. Nếu như bệnh thành tích
trong giáo dục là nan vấn xã hội thì giả dối và nói dối chỉ nên coi là những
thói tật của con người và thuộc phạm trù đạo đức. Mà đạo đức thì chỉ có thể cứu
bằng giáo dục, trong khi hệ thống giáo dục ở ta thì… Vậy là đi vào ngõ cụt.
Có một điều lạ là trong khi người khác xác định: chống bệnh thành tích là việc
cần làm trước tiên thì Nguyên Ngọc lại quả quyết rằng đó không phải là chiến
lược, mà theo ông, căn bệnh của giáo dục chúng ta hiện nay phải được chữa
bằng một phương thuốc có tính chiến lược chứ không phải chỉ bằng các thứ cao đơn
hoàn tán chống tiêu cực này nọ (Thời báo kinh tế Sài Gòn,
31/8/2006). Ở đây có hai điều cần xem xét lại: thứ nhất, khi người ta đang nói
về một trong các trọng bệnh của giáo dục và chỉ ra vì sao căn bệnh này cần chữa
trị trước tiên (có tính chiến thuật) thì ông lại đề cập đến căn bệnh của giáo
dục chung chung; thứ hai: phương thuốc có tính chiến lược là phương
thuốc gì thì ông lại không nói tới. Ðây thực sự là vấn đề mà nhiều học giả ở
Việt Nam cần nghiêm túc nhìn nhận lại – không nên phán khơi khơi về bất cứ vấn
đề gì và tránh việc lúc nào cũng nói chuyện “vĩ mô”, “tầm chiến lược”, “giải
pháp đồng bộ” hoặc “nhóm giải pháp” v.v… Trong khi đó, lúc cần đến một tầm nhìn
rộng và bao quát, như tìm hiểu về sự phát triển thần kỳ thời Minh Trị của Nhật
Bản chẳng hạn, nhiều người lại chỉ thấy được một phần của vấn đề. Sự thực thì
Minh Trị không chỉ canh tân bằng giáo dục, hoặc không chỉ canh tân bằng phát
triển khoa học kỹ thuật, về chuyện này chúng tôi cũng đã từng đề cập trên
talawas.
Trở lại căn bệnh thành tích trong giáo dục ở trên, theo chúng tôi, có thể nói
một cách ngắn gọn: trong hệ thống giáo dục ở ta, bệnh thành tích là tìm mọi
cách cho học sinh nhận được điểm không đúng thực chất để có hư danh nhằm
thi đua. Trong khi đó, người ta giả dối nhau, nói dối nhau vì ngàn vạn lý do
mà có thể chẳng hề liên quan gì đến hư danh, thi đua này nọ.
Vậy là cả về văn hóa lẫn giáo dục, Nguyên Ngọc đều có một số cách hiểu và nhận
định không thật thuyết phục người đọc. Hy vọng rằng đôi điều của người viết được
bạn đọc chia sẻ và được ông lắng nghe.
© 2006 talawas