Đối Thoại                                               Website: Doi-Thoai.com                          Email: toasoandoithoai@yahoo.com


Vấn đề cải tổ ngân hàng và doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam

 (I)(II)&(III)

RFA 2005/10/15 21:00

Giới Thiệu:

2005.10.15

Việt Long, phóng viên đài RFA

Tin mới đây cho biết một ngân hàng có tiếng ở Việt Nam đã được cổ phần hóa trong kế hoạch giải tư các xí nghiệp và công ty quốc doanh, để Việt Nam có đủ điều kiện gia nhập tổ chức Mậu dịch Thế giới WTO hầu đẩy mạnh tiến trình phát triển kinh tế. Chúng tôi đem vấn đề cổ phần hóa và việc gia nhập WTO ra thảo luận với ông Hoàng Thanh Phong là một chuyên viên kinh tế hiện đang làm việc cho một cơ quan trong nước.

Câu hỏi đầu tiên mà Việt Long nêu ra là Việt Nam đã tiến hành việc cải cách kinh tế từ hơn 10 năm qua và đã có nhiều công ty nhà nước bán cổ phần cho công chúng. Thế nhưng vì sao mà chương trình cải cách kinh tế lại dường như không nhanh chóng như là dự kiến, đề nghị ông trình bày những điểm chính của tiến trình cải cách này.

Ông Hoàng Thanh Phong trả lời: “Trước tiên, tôi xin được điểm qua sự phát triển của công ty cổ phần và thị trường chứng khoán Việt Nam. Sau khi áp dụng các chính sách đổi mới từ năm 1986, trong 5 năm sau đó, kinh tế Việt Nam đã gia tăng trung bình hàng năm vào khoảng 5.2%.

Mặc dù Ngân hàng Thế giới đã đến Việt Nam từ năm 1998 và bắt đầu chấp nhận cố kinh vấn kinh tế từ năm 1989, nhưng Ngân Hàng Thế Giới vẫn chưa cung cấp viện trợ tài chính cho đến khi nào mà họ nhìn thấy Việt Nam thực sự cải cách kinh tế. Có nghĩa là phải tái cấu trúc khu vực kinh tế quốc doanh.

Bạn nghĩ gì về nhận xét này? Xin email về Vietnamese@www.rfa.org

Cho đến năm 1992, trước các cam kết sẽ có thể có trợ giúp lớn của quốc tế mà do Ngân Hàng Thế Giới dẫn đầu, Thủ tướng Việt Nam lúc đó là ông Võ Văn Kiệt đã bắt đầu tiến hành các việc cải tổ kinh tế Việt Nam ở mức độ có thể nói là sâu rộng hơn bằng việc bất đầu chương trình cải cách doanh nghiệp dài hạn, trong đó các doanh nghiệp nhà nước sẽ bán cổ phiếu cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

(Xin theo dõi toàn bộ cuộc nói chuyện trong phần âm thanh bên trên)

 

 

 

Tòa Soạn Đối Thoại (doi-thoai.com): Đối Thoại đã sao chép bài phỏng vấn từ các chương trình phát thanh cuả RFA. Trong mục đích gởi đến độc giả các bài phỏng vấn bằng dạng viết thật nhanh, nếu có sự sơ sót , xin tác giả , độc giả và đài RFA thông cảm. Mời độc giả nghe lại buổi phát thanh để hiệu đính các chỗ sai trước khi xử dụng.

Ô Hoàng Thanh Phong:

Trước tiên, tôi xin được điểm qua sự phát triển của công ty cổ phần và thị trường chứng khoán Việt Nam. Sau khi áp dụng các chính sách đổi mới từ năm 1986, trong 5 năm sau đó, kinh tế Việt Nam đã gia tăng trung bình hàng năm vào khoảng 5.2%.

Mặc dù Ngân hàng Thế giới đã đến Việt Nam từ năm 1998 và bắt đầu chấp nhận cung cấp cố kinh vấn kinh tế từ năm 1989, nhưng Ngân Hàng Thế Giới vẫn chưa cung cấp viện trợ tài chính cho đến khi nào mà họ nhìn thấy Việt Nam thực sự cải cách kinh tế. Có nghĩa là phải tái cấu trúc khu vực kinh tế quốc doanh.

Cho đến năm 1992, trước các cam kết sẽ có thể có trợ giúp lớn của cộng đồng quốc tế mà do Ngân Hàng Thế Giới dẫn đầu, Thủ tướng Việt Nam lúc đó là ông Võ Văn Kiệt đã bắt đầu tiến hành các việc cải tổ kinh tế Việt Nam ở mức độ có thể nói là sâu rộng hơn bằng việc bất đầu chương trình cải cách doanh nghiệp dài hạn, trong đó các doanh nghiệp nhà nước sẽ bán cổ phiếu cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Việt Long: Thưa ông, đây có phải là chương trình mà trong nước gọi là cổ phần hóa không ạ?

Ô Hoàng Thanh Phong: Theo tên chính phủ gọi chính thức là "Chương trình cải cách và phát triển doanh nghiệp nhà nước". Tuy nhiên họ gọi chương trình cổ phần hóa là theo tên thường dùng còn tên chính là theo tên một ban ở trong văn phòng thủ tướng chính phủ, và chương trình này được thực hiện rất chậm vì nó thiếu một quyết tâm chính trị rõ ràng là chính phủ Việt Nam đã không mạnh dạn khi cho phép các doanh nghiệp được bán các cổ phần để tìm kiếm thêm các nguồn vốn hay là họ muốn tái cấu trúc các hoạt động sản xuất mà vốn đã rất yếu kém của họ. Vì họ cũng lo ngại chương trình cổ phần hóa này sẽ làm cho khu vực doanh nghiệp nhà nước tan rã nhanh chóng, cho nên trong cả giai đoạn dài từ năm 1992 đến 1996 thì chỉ có 5 doanh nghiệp đã bán cổ phiếu, song với tổng giá trị không đến 2 triệu đô la đâu anh ạ.

Việt Long: Như vậy thì chương trình đã được đẩy nhanh lên vào lúc nào và nhờ nguyên do nào?

Ô Hoàng Thanh Phong: Thưa ông, vì do sự thúc giục của cộng đồng quốc tế cho nên đến tháng 11 năm 96 thì Việt Nam mới thành lập ủy ban chứng khoán nhà nước, và chỉ từ đó thì chương trình cổ phần hóa mới được tăng tốc cho đến khi Việt Nam mở cửa thị trường chứng khoán ở thành phố HCM hồi tháng 7 năm 2000 thì VN mới có khoảng độ 500 công ty gọi là cổ phần hóa.

Từ đó đến nay thì chính phủ Việt Nam cũng đã cho phép khoảng 2500 công ty cổ phần hóa làm xong, nhưng thực sự thì mới có 30 công ty có được cổ phiếu được đưa ra giao dịch trên thị trường chứng khoán ở thành phố HCM với một tổng trị giá thị trường chỉ vào khoảng độ 5 nghìn tỷ đồng hay khoảng độ hơn 315 triệu đô la Mỹ. Trong đó thì khoảng độ 15% hay là khoảng độ 50 triệu đô là thuộc quyền sợ hữu nhà nước, và khoảng độ 20% hay là khoảng 60 triệu đô là do các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức của nước ngoài họ nắm anh ạ.

Nhân đây tôi cũng xin nói là vào năm 1993 khi các nhà tài trợ quốc tế bắt cung cấp cho Việt Nam viện trợ thì Việt Nam mới nhận được khoảng 220 triệu đô và với tiến độ cải cách kinh tế là cải cách khu vực doanh nghiệp khu vực nhà nước ngày càng gia tăng thì dòng viện trợ cho vay và phát triển đã được tăng lên cho tới mức 1,6 tỷ đô vào năm ngoái, 2004 anh ạ.

Như vậy có thể nói là sau 15 năm tiến hành chương trình cổ phần hóa thì nay chính phủ Việt Nam đã thấy rõ rằng là chương trình này rất có lợi cho sự phát triển kinh tế của đất nước. Các con số thống kê chính thức của nhà nước cho thấy rằng có đến hơn 70% các công ty mà đã cổ phần hóa phần lớn trước đây đều làm ăn rất khó khăn và thua lỗ nhưng nay thì họ đã làm ăn có lãi và mở rộng được sản xuất kinh doanh. Đóng góp của họ trong ngân sách thông qua các khoản thuế thì đều tăng từ 20% đến 60%.

Việt Long: Vậy thì thưa ông với việc thu được thuế và tạo ra nhiều việc làm mới từ các công ty đã cổ phần hóa thì phải chăng chính phủ Việt Nam đã hài lòng với tiến trình này?

Ô Hoàng Thanh Phong: Mặc dù có các mặt tích cực mà chúng ta đã thấy rõ thì tuy nhiên chương trình cổ phần hóa vẫn tiến hành khá chậm chạp và cho đến nay thì tổng giá trị các công ty cổ phần hóa mới chỉ chiếm khoảng độ 12% của tổng giá trị các doanh nghiệp do nhà nước sở hữu. Chính phủ Việt Nam thì cũng không chịu công bố các con số  giá trị cụ thể này đâu và 12% là trị giá bao nhiêu nhưng mà các chuyên viên làm việc cho chính phủ thì ước tính thì các doanh nghiệp nhà nước có tổng giá trị khoảng độ 20 tỷ đô theo giá trị thị trường hiện nay và tất nhiên trong con số trị giá đó thì tỷ lệ nợ rất cao. Tùy theo, nếu đánh giá theo thị trường của Việt Nam hay quốc tế.

Việt Long: Thưa tại sao lại bị chậm như vậy?

Ô Hoàng Thanh Phong: Thưa ông, lý do của sự chậm chạp là vì chính phủ Việt Nam vẫn thiếu một quyết tâm chính trị trong việc cho phép khu vực doanh nghiệp được thực sự tự chủ trong kinh doanh sản xuất. Vấn đề là thực tế thì cơ cấu chính trị của Việt Nam hiện nay thì vẫn dựa trên nguyên tắc nhà nước ra kế hoạch và doanh nghiệp thực hiện, và chính phủ Việt Nam thì vẫn thường tuyên bố là kể cả sau khi chương trình cổ phần hóa thành công về mặt cơ bản là hết năm 2006 thì nhà nước vẫn giữ lại khoảng 2800 doanh nghiệp quan trọng, trong đó các tổng công ty lớn có chức năng thực quyền như Hàng không Việt Nam hay tổng công ty điện lực, hay tổng công ty bưu chính, viễn thông.

Tuy nhiên đây cũng là một con số giảm đáng kể so với hơn 2500 doanh nghiệp mà nhà nước có khi họ bắt đầu chương trình cải tổ năm 1992.

Việt Long: Và thưa quý thính giả, nhà nước Việt Nam chủ trương thế nào khi cứ giữ độc quyền như vậy? Vì sao các địa phương và ngay cấp thấp ở trung ương cứ kháng lại chỉ thị của chính phủ để làm trì trê công cuộc đổi mới và kế hoạch giải tư ngân hàng có tác động ra sao cho hình ảnh nền kinh tế Việt Nam.

Đó là những vấn đề sẽ được Việt Long nêu ra với ông Hoàng Thanh Phong trong cuộc trao đổi kỳ tới.

Mong quý vị đón nghe.

 

 

 

 

Vấn đề cải tổ ngân hàng và doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam (II)

 

2005/10/16 21:00

Giới Thiệu:

Thưa quý thính giả, trong một buổi phát thanh trước, ông Hoàng Thanh Phong, một chuyên viên kinh tế ở Việt Nam đã trình bày sơ lược về kế hoạch cổ phần hóa các doanh nghiệp quốc doanh cùng những khó khăn của nó. Một trong những cản trở là nhà nước Việt Nam vẫn muốn giữ độc quyền trong một số ngành quan trọng.

Câu hỏi của Việt Long là

Tòa Soạn Đối Thoại (doi-thoai.com): Đối Thoại đã sao chép bài phỏng vấn từ các chương trình phát thanh cuả RFA. Trong mục đích gởi đến độc giả các bài phỏng vấn bằng dạng viết thật nhanh, nếu có sự sơ sót , xin tác giả , độc giả và đài RFA thông cảm. Mời độc giả nghe lại buổi phát thanh để hiệu đính các chỗ sai trước khi xử dụng.

Việt Long: Nhà nước giải thích ra sao về việc giữ lại vai trò độc quyền của nhà nước ở những doanh nghiệp đó?

Ô Hoàng Thanh Phong: Thưa ông, nhà nước giải thích là vì Việt Nam sẽ tiếp tục đi theo định hướng kinh tế xã hội chủ nghĩa, trong đó thì các doanh nghiệp quốc doanh sẽ nắm giữ các vai trò chủ đạo trong nhiều khu vực kinh tế quan trọng để đảm bảo cho đảng Cộng sản, thông qua hệ thống cán bộ đảng để tiếp tục nắm giữ các vị trí quản lý và lãnh đạo then chốt trong nền kinh tế. Vì thực ra thì các cán bộ đảng thì họ muốn tiếp tục duy trì quyền lợi của họ chính là nguyên nhân khiến cho toàn bộ chương trình cải cách kinh tế hay cải cách doanh nghiệp, cổ phần hóa đã và đang bị chậm lại. Trong khi nhiều lãnh đạo doanh nghiệp thì họ rất muốn được thoát khỏi sự quản lý của hệ thống nhà nước để họ có thể đem được hết khả năng ra kinh doanh nhằm đạt tới những lợi nhuận tối đa.

Thực tế thì cũng có nhiều cán bộ quản lý doanh nghiệp, vì nhiều lý do khác nhau thí dụ như là họ đã quen làm việc dưới chính sách ưu đãi của nhà nước quá lâu năm rồi và cũng có thể là vì họ bất tài hay quen dựa vào sự lõng lẽo của cơ chế quản lý của nhà nước để dễ bề tham ô hay tư lợi. Những người đó thì lại rất thích được tiếp tục duy trì doanh nghiệp quốc doanh.

Việt Long: Chúng tôi được biết và cũng tin là các cấp lãnh đạo Việt Nam cũng thường kêu gọi để nhanh tiến trình cải cách doanh nghiệp đó chứ? Nhưng vì sao cấp thừa hành và một số địa phương lại có thể kéo đổi tiến trình này lại được?

Ô Hoàng Thanh Phong: Quả là các vị lãnh đạo nhà nước cở như thủ tướng Phan Văn Khải hay là ông phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì thường kêu gọi là phải đẩy nhanh chương trình cải cách doanh nghiệp. Nhưng thực sự thì việc nhanh hay chậm cũng không phải hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của hai ông lãnh đạo đó đâu. Vì rất nhiều lãnh đạo kinh doanh ở Việt Nam thì lại do ban tổ chức của đảng CS bổ nhiệm.

Ở trong một đất nước mà vẫn do đảng nắm giữ uy quyền tối cao thì không có một quyết định quan trọng nào lại có thể được đưa ra đâu. Nếu không có cơ quan quyền lực cao nhất của đảng, đó là ban tổ chức trung ương mà trực tiếp là do Bộ chính trị đảng điều hành hàng ngày.

Việt Long: Ông nêu ra những dữ kiện đó nhưng ông có thể vui lòng chứng minh được một thí dụ cụ thể nào đó không?

Ô Hoàng Thanh Phong: Thưa ông,được a.! Một thí dụ có thể cho anh thấy những người cộng sản đã luôn luôn chú trọng đến bảo vệ khu vực nhà nước. Các kinh tế gia trong nước sau nhiều năm theo dõi tình hình thì đến năm 1999 thì họ đã quyết tâm cho ra đời được một luật gọi là luật đầu tư trong nước. Và từ đó thì mở ra được những cơ hội cho sự ra đời của hàng trăm nghìn công ty và doanh nghiệp tư nhân những năm vừa qua và cho đến nay thì cũng giúp thay đổi hẳn bộ mặt kinh tế của nước nhà.

Tuy nhiên thì ban lãnh đạo cao nhất của đảng đã không hài lòng trước sự phát triển của các khu vực kinh tế tư nhân đó và họ đã qui kết là ông tiến sĩ kinh tế Lê Đăng Doanh chính là tác giả của sự sinh sôi nảy nở của các doanh nghiệp tư nhân mà họ coi giống như là đàn cá nhỏ háu đói, đang cố sức để ăn mòn ảnh hưởng của khu vực kinh tế quốc doanh.

Các lãnh đạo của đảng cho rằng ông Doanh đã không hề muốn giúp sức cho khu vực kinh tế nhà nước được phát triển với một tốc độ nhanh như khu vực kinh tế tư nhân. Và thế là từ năm 2000 thì Bộ chính trị đảng cộng sản đã không còn xử dụng ông như là kinh tế gia hàng đầu của Bộ kế hoạch đầu tư nữa. Và sau đó ít lâu thì chính quyền cũng đã cho ông về hưu.

Như vậy thì chúng ta có thể thấy là việc thúc đẩy cho cải cách kinh tế Việt Nam cũng đã rất khó khăn biết dường nào. Chương trình cổ phần hóa hay là sự phát triển của kinh tế tư nhân ở Việt Nam cũng đã và đang trải qua một thời gian dài với biết bao là thăng trầm.

Việt Long: Thưa ông, như vậy về vấn đề bán cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước, ông vui lòng cho biết chủ điểm của kế hoạch này ra sao, và tác dụng của nó như thế nào? Nghĩa là đã đạt được tác dụng như thế nào?

Ô Hoàng Thanh Phong: Một trong các trọng tâm của chương trình cải cách doanh nghiệp là phải cải tổ các doanh nghiệp lớn trong đó có các ngân hàng quốc doanh và trong thời gian từ năm 1986 đến 2000 thì chính phủ Việt Nam đã cho phép thành lập khoảng 50 ngân hàng thương mại trong đó gồm khoảng 46 ngân hàng thương mại cổ phần và 4 ngân hàng thương mại lớn của nhà nước, trong đó lớn nhất là ngân hàng nông nghiệp, phát triển nông thôn và nhỏ nhất là ngân hàng thương mại Vietcom Bank.

Tuy có số lượng đông nhưng phần lớn các ngân hàng thương mại cổ phần thì đều có số vốn rất nhỏ và hoạt động yếu kém. Trong khi đó thì 4 ngân hàng nhà nước thì họ vẫn chiếm thị phần lớn, đến 80%. Theo số lượng chính thức của ngân hàng nhà nước thì hoạt động của khu vực doanh nghiệp nhà nước gồm các ngân hàng này thì đã dẫn đến một số nợ, mình gọi là nợ xấu, nó chồng chất lên đến hơn 23 ngàn tỷ đồng, tức là khoảng độ 2 tỷ đô la tính theo giá hồi năm 2000.

Như vậy thì khu vực yếu kém này cần phải được cải tổ. Theo chương trình cải cách mà Việt Nam cam kết với quốc tế thì Việt Nam sẽ phải chấp nhận đóng cửa hay là cho sát nhập các ngân hàng yếu kém và mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài vào mua cổ phần của các ngân hàng. Các ngân hàng này thực chất thì cũng chỉ là các doanh nghiệp nhà nước ông ạ.

Việt Long: Nhưng thưa ông, kế hoạch cho các ngân hàng bán cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngoài thì có tạo được tác động gì không?

Ô Hoàng Thanh Phong: Việc này thì thật sự đã tạo ra được mối quan tâm lớn từ cộng đồng các nhà đầu tư trên thế giới. Lý do của sự quan tâm là vì Việt Nam là nền kinh tế có tăng trưởng khá nhanh, trong đó hệ thống ngân hàng nếu được quản lý hiệu quả thì sẽ làm ăn có lãi khá hấp dẫn ông ạ.

Theo số liệu chính thức của Vietcom bank mà họ công bố ở trang web của họ thì năm 2004 Vietcm bank có lãi trước thuế lên tới 2 ngàn tỷ đồng, một mức tăng 40% so với năm 2003. Như vậy, đó là con số vô cùng ấn tượng vì là nó sít soát đến khoảng 30% tổng số vốn chủ sở hữu của nó, khoảng gần 7 ngàn tỷ đồng. Như vậy cho đến nay thì sau mấy năm cải tổ thì Vietcom bank coi như đã giải quyết xong các khoản nợ xấu của họ và như vậy là hoạt động của họ đã khá lành mạnh rồi.

Việt Long: Cám ơn ông Hoàng Thanh Phong.

Thưa quý thính giả, Vietcom bank đi tiên phong trong công cuộc cải tổ cổ phần hóa trong ngành ngân hàng đạt kết quả đáng khích lệ. Vậy kế hoạch bán cổ phần của ngân hàng này như thế nào? Kế hoạch cho các ngân hàng quốc doanh còn lại ra sao? Tương lai hệ thống ngân hàng nhà nước thế nào? là những đề tài kế tiếp sẽ được đem ra tham khảo với "chuyên viên kinh tế" Hoàng Thanh Phong hiện đang làm việc ở trong nước.

Mong quý vị nhớ đón nghe.

 

 

 

Vấn đề cải tổ ngân hàng và doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam (III)

2005.10.17

Việt Long, phóng viên đài RFA

Trong hai lần phát thanh trước chuyên viên kinh tế Hoàng Thanh Phong, từ trong nước, đã trình bày sơ lược với quý vị về công cuộc cải tạo cấu trúc kinh tế ở Việt Nam, trong đó việc cố phần hoá ngân hàng là một yêu cầu cấp bách, đang được chính phủ Việt Nam tích cực thực hiện.

 

Website của Ngân hàng Vietcombank vietcombank.com.vn

Ngân hàng Vietcombank nhỏ nhất trong nhóm ngân hàng Nhà nước, đã được coi là thí điểm và thực hiện cải tổ thành công. Câu hỏi kế tiếp của Việt-Long là:

Việt Long: Còn các ngân hàng khác trong nhóm đang được chấn chỉnh này thì sao, và kế hoạch của Nhà nước sẽ diễn tiến như thế nào?

Hoàng Thanh Phong: Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam thì sau 4 năm cải cách đã thu lại còn 37 ngân hàng cổ phần và 6 ngân hàng nhà nước, và nợ xấu đã giảm đi hơn một nửa.

Theo lộ trình đã được chính phủ công bố, thì từ cuối năm nay Ngân hàng Vietcombank, với số vốn chủ sở hữu gần 7 nghìn tỷ, hay khoảng $460 triệu đô sẽ bắt đầu bán cổ phiếu ra công chúng.

Tiếp theo Vietcombank, thì Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Công Thương và Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long cũng sẽ có chương trình cổ phần hoá. Như vậy, sớm hay muộn thì các ngân hàng thương mại lớn của Việt Nam cũng sẽ bán cổ phiếu cho công chúng.

Sức mạnh của ngân hàng phụ thuộc vào trình độ cán bộ, nếu quyền lợi kinh tế của các cán bộ của họ không được bảo đảm, thì họ sẽ bỏ đi, mang theo các bí mật kinh doanh và Vietcombank sẽ bị thiệt hại rất nhiều. Chính ông Vũ Viết Ngoạn tổng giám đốc ngân hàng này đã thừa nhận là trong năm 2004, có 50 nhân viên đã bỏ Vietcombank để ra đi vì họ không được nhận đồng lương thoả đáng.

Ông Hoàng Thanh Phong

Việt Long: Xin cho biết đại cương kế hoạch bán cổ phần của Vietcombank?

Hoàng Thanh Phong: Theo các số liệu do Chính phủ công bố, thì Vietcombank sẽ tiến hành Cổ phần hoá theo ba giai đoạn: ở giai đoạn 1, thì Vietcombank sẽ tăng vốn lên mức khoảng 10 nghìn tỷ đồng, tức khoảng $650 triệu đô, thông qua phát hành các cổ phiếu đặc biệt trị giá khoảng 2.500-3.000 tỷ đồng - các cổ phiếu này sẽ có hai loại: ưu đãi dành cho nhân viên ở mệnh giá thấp và bán ra công chúng thông qua đấu giá.

Giai đoạn 2: Vietcombank sẽ phát hành trái phiếu chuyển đổi cho các nhà đầu tư chiến lược, thí dụ như Công ty Đầu tư Tài chính Quốc tế IFC của Ngân Hàng Thế giới, và các nhà đầu tư phổ thông để tăng vốn lên khoảng $1 tỷ đô, và giai đoạn 3, cổ phiếu của Vietcombank sẽ được đưa lên sàn giao dịch chứng khoán trong nuớc và có thể sẽ ra sàn quốc tế, và nhà nước đã khẳng định sẽ luôn luôn nắm giữ ít nhất là 51% cổ phần.

Việt Long: Xin cho biết lịch trình của chính phủ thế nào?

Hoàng Thanh Phong: Cho đến nay thì chưa có lịch trình nào cụ thể, vì vẫn còn nhiều vấn đề có thể nói là rất quan trọng vẫn đang còn trong quá trình giải quyết. Việc thứ nhất, đó là việc bảo đảm quyền lợi cho các nhân viên ngân hàng.

Chúng ta biết đấy, sức mạnh của ngân hàng phụ thuộc vào trình độ cán bộ, nếu quyền lợi kinh tế của các cán bộ của họ không được bảo đảm, thì họ sẽ bỏ đi, mang theo các bí mật kinh doanh và Vietcombank sẽ bị thiệt hại rất nhiều. Chính ông Vũ Viết Ngoạn tổng giám đốc ngân hàng này đã thừa nhận là trong năm 2004, có 50 nhân viên đã bỏ Vietcombank để ra đi vì họ không được nhận đồng lương thoả đáng.

Việc thứ 2, là việc định giá ngân hàng cũng chưa xong, vì Vietcombank có nhiều loại tài sản, trong đó có thương hiệu, cũng không dễ định giá. Và thứ 3 là việc Cổ phần hoá Vietcombank cũng phải nằm trong một chương trình chung nhằm xây dựng lại hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh Việt Nam, cho nên các bước đi cũng phải phù hợp với các cải cách tương tự của ba ngân hàng nhà nước kia là Đầu tư Phát triển, Công thương và Ngân hàng Phát triển Nhà đồng bằng sông Cửu Long.

Việt Long: Đã giải tư sao còn phải xây dựng hệ thống ngân hàng Nhà nước?

Hoàng Thanh Phong: Vì hệ thống ngân hàng dóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế, cho nên Chính phủ Việt Nam có chủ chương bán cổ phần để thu hút thêm vốn và kinh nghiệm quản lý của các đối tác chiến lược, nhưng họ vẫn sẽ luôn nắm giữ đa số.

Kinh nghiệm thực tế ở Việt Nam cho thấy phe bảo thủ có hai cách để tiếp tục uy trì quyền kiểm soát: Một là họ sẽ giữ quyền lãnh đạo các ngân hàng, có nghĩa là tất cả các vị trí then chốt đều phải do chính phủ bổ nhiệm, hai là cá nhân các lãnh đạo, thông qua hệ thống chân rết là gia đình hay bè bạn sẽ giữ số lượng cổ phần nhất định để bảo đảm quyền lợi kinh tế lâu dài của họ.

Ông Hoàng Thanh Phong

Trong giai đoạn đầu, có thể là trong 5 năm tới, thì chính phủ sẽ giữ tới 70% hay 75% cổ phần, và từ 2010 thì họ mới giảm xuống còn khoảng 51%, như vậy thì về thực chất việc quản lý các ngân hàng lớn sẽ vần nằm trong chính sách nhà nước.

Việt Long: Người Việt ở nước ngoài sẽ có cơ hội mua cổ phiếu của Vietcombank hay không? Họ có gặp điều kiện gì không?

Hoàng Thanh Phong: Hiện nay thì tất cả mọi người để có cơ hội mua cổ phiếu của các công ty Cổ phần hoá, kể cả tới đây là Vietcombank. Để mua được cổ phiếu thì nguời mua cần phải mở một tài khoản ở một công ty chứng khoán đang hoạt động ở Việt Nam, theo tôi thì việc giao dịch mua bán nay cũng khá thuận tiện.

Việt Long: Nhưng liệu việc giải tư các ngân hàng quốc doanh lớn khác sau Vietcombank có tiến hành thuận lợi được như vậy không, trúơc trở lực là cánh bảo thủ đòi giữ quyền lợi?

Hoàng Thanh Phong: Thưa ông, việc tiếp tục cải tổ các ngân hàng như thế nào sẽ phụ thuộc rất nhiều vào thí nghiệm ở Vietcombank. Kinh nghiệm thực tế ở Việt Nam cho thấy phe bảo thủ có hai cách để tiếp tục uy trì quyền kiểm soát: Một là họ sẽ giữ quyền lãnh đạo các ngân hàng, có nghĩa là tất cả các vị trí then chốt đều phải do chính phủ bổ nhiệm, hai là cá nhân các lãnh đạo, thông qua hệ thống chân rết là gia đình hay bè bạn sẽ giữ số lượng cổ phần nhất định để bảo đảm quyền lợi kinh tế lâu dài của họ.

Việt Long: Kế hoạch cổ phần hoá các ngân hàng đó có phải là để đáp ứng yêu cầu của các quốc gia đối tác trong vấn đề Việt Nam gia nhập Tổ chức Mậu Dịch Thế Giới không?

Hoàng Thanh Phong: Thưa ông, tiến trình cải tổ kinh tế Việt Nam dưới sự cố vấn và trợ giúp của cộng đồng quốc tế đã làm được 15 năm, và từ một nền kinh tế hoàn toàn cô lập, nay thì Việt Nam đã sắp sửa tham gia hội nhập kinh tế đầy đủ với thế giới, và một khi đã trở thành một thành viên của WTO, thì các khu vực kinh tế trong nước sẽ phải mở ra cho các nhà đầu tư quốc tế, và trong tiến trình này thì hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng không có gì ngoại lệ.

Liệu Việt Nam có thể thực hiện được kế hoạch này cũng như việc cải tạp quốc doanh đúng hạn để có thể gia nhập Tổ chức Mậu Dịch Thế Giới khoảng giữa năm sau như giới chuyên môn trong chính quyền thuờng tuyên bố không?

Bạn nghĩ gì về nhận xét này? Xin email về Vietnamese@www.rfa.org

Thưa quý vị, đó là câu hỏi mà ông Hoàng Thanh Phong sẽ trả lời trong một buổi phát thanh tới, cùng với vấn đề gia nhập WTO của Việt Nam, liệu có những trở ngại gì khiến có thể vẫn chưa thể kịp thời hạn giữa sang năm không? Mong quý vị đón nghe.

Những bài liên quan:

- Vấn đề cải tổ ngân hàng và doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam (II)

- Vấn đề cải tổ ngân hàng và doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam (I)